HỆ THỐNG ĐÁP ÁN BÀI TẬP DÙNG ĐỂ XÊMINA, THẢO LUẬN

2:16 AM |


HỆ THỐNG ĐÁP ÁN BÀI TẬP DÙNG ĐỂ XÊMINA, THẢO LUẬN

Bài tập 1: Quan điểm của Hồ Chí Minh về sự cần thiết xây dựng khối đoàn kết quốc tế?
* Ý 1: Quan điểm của Hồ Chí Minh vê sự cần thiết xây dựng khối đoàn kết quốc tế
1. Cơ sở khách quan
- Mục tiêu chung:
+ Thực hiện đoàn kết quốc tế không phải chỉ vì thắng lợi của cách mạng mỗi nước mà còn vì sự nghiệp chung của nhân loại tiến bộ trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế vì các mục tiêu cách mạng của thời đại.
+ Thời đại mà Hồ Chí Minh sống và hoạt động chính trị là thời đại đã chấm dứt thời kỳ tồn tại biệt lập giữa các quốc gia, mở ra các quan hệ quốc tế ngày càng sâu rộng cho các dân tộc, làm cho vận mệnh của mỗi dân tộc không thể tách rời vận mệnh của cả lời người.
+ Theo Người, muốn tăng cường đoàn kết quốc tế trong cuộc đấu tranh vì mục tiêu chung, các đảng cộng sản phải kiên trì chống lại mọi khuynh hướng sai lầm của chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa vị kỷ dân tộc, chủ nghĩa sôvanh…
- Lợi ích chung:
+ Người cho rằng, Đảng phải lấy toàn bộ thực tiễn của mình để chứng minh: chủ nghĩa yêu nước triệt để không thể nào tách rời với chủ nghĩa quốc tê vô sản trong sáng.
+ Trong tác phẩm Thường thức chính trị (1954), Người nói rõ hơn: “Tinh thần yêu nước là kiên quyết giữ gìn độc lập, tự do và đất đai toàn vẹn của nước mình. Tinh thần quốc tế là đoàn kết với các nước bạn và nhân dân các nước khác để giữ gìn hòa bình thế giới, chống chính sách xâm lược và chính sách chiến tranh của đế quốc… giữ gìn hòa bình thế giới tức là giữ gìn lợi ích của nước ta…Đó là lập trường quốc tế cách mạng” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, t.7, tr. 227 – 228).
2. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại
- Sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại:
+ Sức mạnh của dân tộc Việt Nam là sự tổng hợp của các yếu tố vật chất và tinh thần, song trước hết là sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước và ý thức tự lực, tự cường dân tộc; sức mạnh của tinh thần đoàn kết; của ý chí đấu tranh anh dũng, bất khuất cho độc lập, tự do…
+ Là một nhà yêu nước chân chính, Hồ Chí Minh luôn có niềm tin bất diệt vào sức mạnh dân tộc.
- Sự cần thiết phải kết hợp:
+ Khi tìm thấy con đường cứu nước, Người đã sớm xác định cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, cách mạng Việt Nam chỉ có thể thành công và thành công đến nơi khi thực hiện đoàn kết chặt chẽ với phong trào cách mạng thế giới.
+ Đối tượng đoàn kết quốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh rất rộng lớn.
+ Đánh giá vai trò của đoàn kết quốc tế với cách mạng Việt Nam, trong buổi nói chuyện với Đại sức nước ta tại Liên Xô năm 1961, Người nói: “Có sức mạnh cả nước một lòng…lại có sự ủng hộ của nhân dân thế giới, chúng ta sẽ có một sức mạnh tổng hợp cộng với phương pháp cách mạng thích hợp, nhất định cách mạng nước ta sẽ đi đến đích cuối cùng”.
*Ý2: Nội dung và hình thức đoàn kết quốc tế theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Đáp án:
1. Các lực lượng cần đoàn kết
- Với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế:
+ Người cho rằng, sự đoàn kết giữa giai cấp vô sản quốc tế là một bảo đảm vững chắc cho thắng lợi của chủ nghĩa cộng sản. Tại Đại hội Tua của Đảng Xã hội Pháp (12/1920), Hồ Chí Minh đã lên tiếng: “Nhân danh toàn thể loài người, nhân danh tất cả các đảng viên xã hội, cả phái hữu lẫn phái tả, chúng tôi kêu gọi: Các đồng chí hãy cứu chúng tôi” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, t.1, tr. 23 - 24).
+ Người cho rằng, chủ nghĩa tư bản là một lực lượng phản động quốc tế, là kẻ thù chung của nhân dân lao động toàn thế giới. Trong hoàn cảnh đó, chỉ có sức mạnh của sự đoàn kết, nhất trí, sự đồng tình và ủng hộ lẫn nhau của lao động toàn thế giới theo tinh thần “bốn phương vô sản đều là anh em” mới có thể chống lại âm mưu thâm độc của của chủ nghĩa đế quốc thực dân.
+ Thắng lợi của hai cuộc kháng chiến thường kỳ của nhân dân Việt Nam khẳng định trên thực tế những giá trị nhân văn cao cả của chủ nghĩa quốc tế vô sản mà Hồ Chí Minh đã kiên trì thực hiện và bảo vệ.
- Với các dân tộc thuộc địa bị áp bức:
+ Người đã kiến nghị Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản về những biện pháp nhằm “Làm cho các dân tộc thuộc địa, từ trước đến nay vẫn cách biệt nhau, hiểu biết nhau hơn và đoàn kết lại để đặt cơ sở cho một Liên minh phương Đông tương lai, khối liên minh này sẽ là một trong những cái cánh của cách mạng vô sản” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, t.1, tr. 124).
+ Hồ Chí Minh còn đề nghị Quốc tế Cộng sản, bằng mọi cách phải “Làm cho đội tiên phong của lao động thuộc địa tiếp xúc mật thiết với giai cấp vô sản phương Tây để dọn đường cho một sự hợp tác thật sự sau này; chỉ có sự hợp tác này mới bảo đảm cho giai cấp công nhân quốc tế giành thắng lợi cuối cùng” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, t.2, tr. 124).
- Các lực lượng tiến bộ, những người yêu chuộng hòa bình, dân chủ, tự do và công lý trên thế giới:
+ Người đã gắn cuộc đấu tranh vì độc lập ở Việt Nam với mục tiêu bảo vệ hòa bình, tự do, công lý và bình đẳng để tập hợp và tranh thủ sự ủng hộ của các lực lượng tiến bộ trên thế giới.
+ Người đã nhiều lần tuyên bố: “Chính sách ngoại giao của Chính phủ thì chỉ có một điều là thân thiện với tất cả các nước dân chủ trên thế giới để gìn giữ hòa bình” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, t.5, tr. 30).
2. Hình thức
- Đoàn kết trên cơ sở xây dựng mặt trận giữa ba nước Đông Dương:
+ Cả ba dân tộc đều là láng giêng gần gũi của nhau, có nhiều điểm tương đồng về lịch sử, văn hóa và cùng chung kẻ thù là thực dân Pháp.
+ Năm 1941, để khơi dậy sức mạnh và quyền tự quyết của mỗi dân tộc, Người quyết định thành lập riêng biệt Mặt trận độc lập đồng minh cho từng nước Việt Nam, Lào, Cao Miên, tiến tới thành lập Đông Dương độc lập đồng minh.
+ Trong hai cuộc kháng chiến, Người đã chỉ đạo thành lập Mặt trận đoàn kết Việt – Miên – Lào phối hợp và giúp đỡ nhau cùng chiến đấu thắng lợi.
- Mặt trận Á - Phi đoàn kết với Việt Nam:
+ Người chăm lo củng cố mối quan hệ đoàn kết hữu nghị, hợp tác nhiều mặt theo tinh thần “vừa là đồng chí, vừa là an hem” với Trung Quốc.
+ Từ những năm 20 của thế kỷ XX, Người tham gia sáng lập Hội liên hiệp thuộc địa tại Pháp và sáng lập Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức tại Trung Quốc, góp phần đặt cơ sở cho sự ra đời Mặt trận nhân dân Á - Phi.
- Mặt trận trong phe dân chủ: Trong những năm đấu tranh giành chính quyền, Hồ Chí Minh tìm mọi cách xây dựng các quan hệ với Mặt trận dân chủ và lực lượng đồng minh chống phát xít, nhằm tạo thế dựa cho cách mạng Việt Nam.
- Mặt trận các lực lượng tiến bộ: Bằng các hoạt động ngoại giao không mệt mỏi, tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ của các nước xã hội chủ nghĩa an hem, của bạn bè quốc tế, của nhân loại tiến bộ, trong đó có cả nhân dân Pháp và nhân dân Mỹ, hình thành Mặt trận nhân dân thế giới đoàn kết với Việt Nam chống đế quốc xâm lược.
Sở dĩ Hồ Chí Minh  phân ra các mối quan hệ đoàn kết đó bởi vì Người luôn tôn trọng nguyên tắc: Thêm bạn, bớt thù, tranh thủ sự ủng hộ tối đa của các lực lượng tiến bộ trên thế giới để mở rộng khối đại đoàn kết, thu hẹp trận tuyến quân thù, từ đó tăng thêm sức mạnh chính nghĩa của dân tộc Việt Nam.
Bài tập 2: Nguyên tắc đoàn kết quốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh?
Đáp án:
1. Đoàn kết trên cơ sở thống nhất mục tiêu và lợi ích, có lý, có tình
- Đặt cách mạng Việt Nam trong bối cảnh chung của thời đại, kết hợp lợi ích của cách mạng Việt Nam với trào lưu cách mạng thế giới và nhận thức về nghĩa vụ của Việt Nam đối với sự nghiệp chung của loài người tiến bộ.
- Đối với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, Hồ Chí Minh giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, thực hiện đoàn kết thống nhất trên nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa quốc tê vô sản, có lý, có tình.
+ Đoàn kết giữa các Đảng “là điều kiện quan trọng nhất để bảo đảm cho phong trào cộng sản và công nhân toàn thắng trong cuộc đấu tranh vĩ đại cho tương lai tươi sáng của toàn thể loài người”(Hồ Chí Minh:Toàn tập,t.10, tr.235).
+ “Có lý” trước hết là phải tuân thủ những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, phải xuất phát từ lợi ích chung của cách mạng thế giới.
+ “Có tình” là sự thông cảm, tôn trọng lẫn nhau trên tinh thần, tình cảm của những người cùng chung lý tưởng, cùng chung mục tiêu đấu tranh; phải khắc phục tư tưởng sôvanh, “nước lớn”, “đảng lớn”; không “áp đặt”, “ức chế”, nói xấu, công khai kích nhau, hoặc dùng các giải pháp về chính trị, kinh tế… gây sức ép với nhau.
- Đối với các dân tộc trên thế giới, Hồ Chí Minh giương cao ngọn cờ độc lập, tự do và quyền bình đẳng giữa các dân tộc. Thực hiện nhất quán nguyên tắc: Dân tộc Việt Nam tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và quyền tự quyết của tất cả các quốc gia, dân tộc trên thế giới, đồng thời mong muốn các dân tộc trên thế giới quan hệ hợp tác, hữu nghị với Việt Nam trên cơ sở những nguyên tắc đó.
- Đối với các lực lượng tiến bộ trên thế giới, Hồ Chí Minh giương cao ngọn cờ hòa bình trong công lý.
+ Trong suốt cuộc đời mình, Người luôn giương cao ngọn cờ hòa bình, đấu tranh cho hòa bình, một nền hòa bình thật sự cho tất cả các dân tộc.
+ “Một nền hòa bình chân chính xây trên công bình và lý tưởng dân chủ”, chống chiến tranh xâm lược vì các quyền dân tộc cơ bản của mỗi nước.
2. Đoàn kết trên cơ sở độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường
- Để đoàn kết tốt, phải có nội lực tốt.
 + Trong đấu tranh cách mạng, Hồ Chí Minh luôn nêu cao khẩu hiệu: “Tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính”, “muốn người ta giúp cho, thì trước mình phải tự giúp lấy mình đã”.
+ Trong đấu tranh giành chính quyền, Người chủ trương “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”.
+ Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Người chỉ rõ: “Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”.
+ Trong quan hệ quốc tế, Người nhấn mạnh: phải có thực lực, thực lực là cái chiêng, ngoại giao là cái tiến, chiêng có to tiếng mới lớn…
- Hồ Chí Minh chỉ rõ, muốn tranh thủ được sự ủng hộ quốc tế, Đảng phải có đường lối độc lập, tự chủ và đúng đắn. Người nói: “Độc lập nghĩa là chúng tôi điều khiển lấy mọi công việc của chúng tôi, không có sự can thiệp ở ngoài vào” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, t.5, tr. 136).
  Bài tập 3: Quan điểm của Hồ Chí Minh về cán bộ. Đánh giá của Đảng ta về đội ngũ cán bộ trong sự nghiệp đổi mới.
      Trả lời:
          Quan điểm của Hồ Chí Mình về cán bộ.
         - Trong điều kiện đảng cầm quyền, Đảng ta có trách nhiệm bố trí đội ngũ cán bộ cho cả hệ thống chính trị. Hồ Chí Minh không chỉ quan tâm tới đảng viên mà còn rất quan tâm tới cán bộ và công tác cán bộ.
         - Về cán bộ, trước hết Hồ Chí Minh đánh giá cao vi trí, vai trò của cán bộ.
  - Theo Người, “cán bộ là gốc của mọi công việc” . Mọi việc thành hay bại đều liên quan tới cán bộ tốt hay xấu. “Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy.
- Điều đáng quan tâm là khi bàn tới vai trò, vị trí của cán bộ, Hồ Chí Minh không chỉ nêu trực tiếp tầm quan trọng, mà nhiều khi Người cho ta một cách tiếp cận theo nghĩa “công bộc” để nói rõ trách nhiệm to lớn của cán bộ theo ý nghĩa “lãnh đạo là làm đày tớ nhân dân và phải làm cho tốt” . Người nói: “Làm cán bộ tức là suốt đời làm đày tớ trung thành của nhân dân. Mấy chữ a, b, c này không phải ai cũng thuộc đâu, phải học mãi, học suốt đời mới thuộc được” .
- Cán bộ có vai trò quan trọng như vậy nên Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi cán bộ phải rèn luyện trên năm mối quan hệ: với mình, với nhân dân, với đồng sự, với tổ chức, với công việc.
- Cốt lõi của năm mối quan hệ đó là đức và tài. Cán bộ phải có phẩm chất đạo đức cách mạng. Cũng như sông phải có nguồn, cây phải có gốc, người cán bộ phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng thì mới gánh vác nổi nhiệm vụ cách mạng nặng nề nhưng vẻ vang.
- Cùng với đạo đức làm gốc, người cán bộ phải có trình độ, năng lực. Đức tài, hồng chuyên gắn bó mật thiết với nhau, không được xem nhẹ mặt nào. Trong đức có tài và tài càng lớn thì đức phải càng cao.
- Là cán bộ thì phải luôn luôn có lòng trung thành vối Đảng, với Tổ quốc. Trong bất kỳ khó khăn, gian khổ, phức tạp, người cán bộ phải có tinh thần vượt khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ của Đảng và nhân dân giao phó.
 - Người cán bộ phải có mối quan hệ mật thiết, máu thịt với nhân dân mà quan trọng hàng đầu là học dân, hiểu dân, hỏi dân; nắm vững dân tình, dân tâm, dân ý; châm lo dân quyển, dân sinh, dân trí, dân chủ.
- Là cán bộ thì phải có ý thức học tập để nâng cao trình độ, hiểụ biết về mọi mặt. Muốn nâng cao dân trí thì phải nâng cao “đảng trí”, tức là cán bộ, đảng viên phải là những người nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. “Đảng trí” không thể tụt hậu so với dân trí. Ngườỉ cán bộ chuyên môn phải có chính trị, cán bộ chính trị phải có chuyên môn. Không có lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ thì không thể lãnh đạo và hưống dẫn nhân dân thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước.
 - Có trình độ hiểu biết phải kết hợp .vổi năng lực tổ chức thực tiễn, thực hiện tốt đưòng lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, biến đường lôi thành hiện thực.
- Cuối cùng phải nói tới phong cách cán bộ. Quan trọng hàng đầu và xuyên suốt phong cách của một cán bộ là nổi thì phải làm. Nhân dân không chấp nhận những cán bộ nổi mà không làm, nói nhiều làm ít, nói một đằng làm một nẻo. Phong cách cán bộ theo tư tưởng và tấm gương Hồ Chí Minh là sâu sát theo tinh thần “óc nghĩ, mắt trông, tai nghe; chân đi, miệng nói, tay làm”. Điều đó hoàn toàn xa lạ với kiểu cán bộ quan liêu mệnh lệnh, nhiễm bệnh hình thức, thành tích, thiếu tính chủ động, sáng tạo.
f.          Đánh giá của Đảng ta về đội ngủ cán bộ trong thời kỳ đổi mới.
- Đánh giá tổng quát của Đảng ta về mặt mạnh và ưu điểm của đội ngũ cán bộ là đa sô cán bộ phấn khỏi và tin tưởng vào thành công của công cuộc đổi mới; kiên định mục tiêu, con đường mà Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn; tham gia tích cực vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đội ngũ cán bộ được tàng cường về số lượng, trình độ các mặt về lãnh đạo, quản lý; chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính tri được nâng lên. Cơ cấu đội ngũ cán bộ ngày càng hợp lý hơn. Về cơ bản đã khắc phục được những biểu hiện mơ hồ, dao động về lý tưởng của một bộ phận cán bộ do tác động của sự sụp đổ mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu trong những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX và sự chuyển đổi từ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp sang cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Số đông cán bộ vẫn giữ được phẩm chất đạo đức, lối sống lành mạnh, giản dị, gắn bó, gần gũi với nhân dân.
  - Về mặt yếu kém, khuyết điểm, Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa X (tháng 1-2009) chỉ rõ: "Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân, thực dụng, thoái hóa biến chất, quan liêu, tham nhũng, lãng phí, thiếu trách nhiệm, thiếu tự giác rèn luyện, phấn đấu, thiếu tinh thần đồng chí trong một bộ phận không nhở cán bộ diễn ra nghiêm trọng, kéo dài nhưng chưa có giải pháp hữu hiệu để ngán chặn và kịp thời xử lý. Một số ít cán bộ có biểu hiện bất mãn, suy giảm niềm tin, nói và làm trái quan điểm, đường lối của Đảng, vi phạm nguyên tắc, vi phạm pháp luật gây ảnh hưởng rất xấu trong xã hội.. Tình trạng “chạy chức”, “chạy quyền”, “chạy tội”, “chạy bằng cấp” không giảm. Những biểu hiện tiêu cực nêu trên chưa được ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả, thậm chí có mặt còn nghiêm trọng hơn đã làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, với chế độ” .
- Về nguyên nhân của những yếu kém, khuyết điểm, Đảng ta chỉ rõ nguyên nhân chính là do công tác giáo dục, bồi dưõng vể nhận thức, lý tưởng cho cán bộ, đảng viên còn hạn chế; bản thân cán bộ thiếu tự giác học tập, rèn luyện, tu dưỡng; công tác quản lý, kiểm tra, bố trí, sử dụng và thực hiện chế độ, chính sách đối với cán bộ còn nhiều bất cập, yếu kém; kỷ luật cán bộ không nghiêm; chưa phát huy hết năng lực và trách nhiệm của cán bộ; chưa sàng lọc, bảo vệ và chăm lo tốt cho đội ngũ cán bộ.
  - Từ nay đến năm 2020, trên cơ sở đánh giá mặt được và chưa được của đội ngũ cán bộ, quan điểm và mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng được nêu trong Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa X như sau:
  - Về quan điểm: Một là, cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại củạ cách mạng, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng. Phải thường xuyên chăm lo xây dựng đội ngủ cán bộ, đổi mới công tác cán bộ gắn với đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng. Hai là, phải xuất phát từ chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc, từ yêu cầu nhịệm vụ của thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Ba là, quán triệt quan điểm giai cấp công nhân của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, truyền thống yêu nước, đại đoàn kết và gắn bó mật thiết với nhân dân; tập hợp rộng rãi các loại cán bộ, trọng dụng nhân tài, không phân biệt đảng viên hay người ngoài Đảng, dân tộc, tôn giáo, người ở trong nước hay người Việt Nam định cư ở nước ngoài; không định kiến với những người có sai lầm trong quá khứ, nay đã sửa chữa và có tâm huyết xây dựng đất nước. Bốn là, gắn việc xây dựng đội ngũ cán bộ với xây dựng tổ chức và đổi mới cơ chế, chính sách, với việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Năm là, thông qua hoạt động thực tiễn và phong trào cách mạng của nhân dân, nâng cao trình độ dân trí, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao để tuyển chọn, giáo dục, rèn luyện, bồi dưỡng cán bộ. Phải dựa vào nhân dân để phát hiện, kiểm tra và giám sát cán bộ. Sáu là, lược Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ theo nguyên tắc tập trung dân chủ, đi đôi với phát huy trách nhiệm của các tổ chức và người đứng đầu các tổ chức trong hệ thống chính trị.
  - Về mục tiêu, xây dựng cho được một đội ngủ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất và năng lực tốt, có cơ cấu phù hợp với chiến  phát triển kinh tế- xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ mới.
  - Về tiêu chuẩn, Đảng có nêu tiêu chuẩn cho từng loại cán bộ như cán bộ lãnh đạo của Đảng, Nhà nưóc, đoàn thể nhân dân; cán bộ lãnh đạo trong lực lượng vũ trang; cán bộ khoa học, chuyên gia; cán bộ quản lý sản xuất kinh doanh. Nhưng tất cả đểu có tiêu chuẩn chung. Đó là: “Có trình độ hiểu biết về lý luận chính trị, quan điểm đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; có trình độ văn hóa, chuyên môn, đủ năng lực và sức khởe để làm việc có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao”. Phải có “trình độ ngoại ngữ, luật pháp, tin học; khả năng tiếp cận, nắm bắt và xử lý những vấn đề mới; về khả năng đoàn kết, quy tụ, hội nhập; phong cách làm việc khoa học, dân chủ, sâu sát, dám nghĩ, dám-làm, dám chịu trách nhiệm” .
  - Tóm lại, hiện nay Đảng ta nhấn mạnh phát huy tối đa nhân tố" con người, coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và mục tiêu của sự phát triển. Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương khóa X (tháng 10- 2009) khẳng định lại tinh thần “kiềng ba chân” của sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước: lấy xây dựng kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, xây dựng văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hộ. Theo tinh thần Hồ Chí Minh và của Đảng trong những năm đổi mới, Hội nghị nhấn mạnh: Công tác xây dựng Đảng là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng và cấp bách, có ý nghĩa quyết định đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng và có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và chế độ ta. Xây dựng Đảng thực chất là xây đựng đội ngủ cán bộ, đảng viên. Nhận thức như vậy để thấy rằng di sản Hổ Chí Minh về cán bộ có ý nghĩa sâu xa và lâu đài trong toàn bộ sự nghiệp đổi mới.
  Bài tập 4: Quan điểm của Hồ Chí Minh về công tác cán bộ. Sự vân dụng của Đảng ta trong công cuộc đổi mới
  Trả lời:
1. Quan điểm của Hồ Chí Minh về công tác cán bộ
  - Cán bộ và công tác cán bộ gắn bó mật thiết với nhau, tác động qua lại lẫn nhau, nội dung thứ nhất là điều kiện của nội dung thứ hai và ngược lại, cả hai đểu thuộc phạm trù “vấn đề cán bộ”. Nếu bàn về cán bộ trong tư tưởng Hồ Chí Minh thì cán bộ là “chủ thể”; còn nếu nói tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ thì cán bộ là “khách thể”, còn những người thay mặt Đảng làm công tác cán bộ là “chủ thể”.
- Trước hết, những người làm công tác cán bộ phải hiểu biết cán bộ,đó là một bộ phận và gắn chặt với “biết mình, biết người”. Bởi vì, có hiểu biết cán bộ thì mới giải quyết tốt các vấn đề tiếp theo của công tác cán bộ. Đây là việc khó. Tự biết mình cũng không phải là dễ. Mà dễ hay không là ở mình.
  - Cần phân biệt cán bộ làm được việc và cán bộ tốt. Theo Hồ Chí Minh, “ai mà hay khoe công việc, hay a dua, tìm việc nhở mà làm, trước mặt thì theo mệnh lệnh, sau lưng thì trái mệnh lệnh, hay công kích người khác, hay tự tâng bốc mình, những người như thế, tuy họ làm được việc; cũng khổng phải cán bộ tốt” .
- “Khéo dùng cán bộ” phải xuất phát từ sự hiểu biết “dù người tài giởi cũng khó tránh khỏi khuyết điểm; con người không phải thánh thần, có tốt có xấu trong lòng”.
- Người lãnh đạo làm công tác cán bộ phải có trí tuệ, bản lĩnh, cái tâm trong sáng, cái đức cao cả để “khiến cho cán bộ có gan nói, có gan đề ra ý kiến”.
          - Phải “có gan cất nhắc cán bộ”. Đây là quy luật trong công tác cán bộ. Một người có tài năng, đức độ mà không được cất nhắc, có thể sẽ làm thui chột tài năng đó.
Khéo kết hợp các loại cán bộ. Đây là một nguyên tắc trong công tác cán bộ, vì ở đâu cũng có nhiều loại cán bộ. Trước hết là khéo kết hợp cán bộ già với cán bộ trẻ.
          - Kết hợp cán bộ cũ và mới, cán bộ tại chỗ và nơi khác điểu đến, cán bộ địa phương và trung ương cũng là những nội đung cần thiết không chỉ đơn thuần là công tác cán bộ mà còn là vấn đề đoàn kết, chống bệnh hẹp hời, ích kỷ. Làm tốt những nội dung đó vừa có lợi cho cách mạng vừa chống lại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch.
          - Đào tạo, bồi dưõng, huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng. Tư duy này hình thành từ sớm ở Hồ Chí Minh ngay sau khi người đến với chủ nghĩa Mác - Lênin. Trong huấn luyện phải chú trọng đến người huấn luyện, người học, nội dung huấn luyện, tài liệu huấn luyện.
          - Về người huấn luyện, Hồ Chí Minh cho rằng, “không phải ai cũng huấn luyện được”. Mà huấn luyện là một nghề, phải bảo đảm tự tưởng, đạo quốc và nhân loại”. Học để tin tưởng, tin tưởng vào đoàn đức, phương pháp. Người huấn luyện phải học thêm mãi mới làm được công việc của mình. Người huấn luyện nào tự cho mình đã biết đủ cả rồi, thì người đó dốt nhất. Còn người học thì phải biết tự động học tập. Phải xác định: “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ”.
          - Học để phụng sự Đoàn thể, “giai cấp và nhân dân, Tổ thể, tin tưởng vào nhân dân, tin tưởng vào tương lai của dân tộc, vào tương lai của cách mạng.
          - Nội dung huấn luyện gồm lý luận, nghể nghiệp (chuyên môn), văn hóa. Vê tài liệu huấn luyện phải lấy những tài liệu của chủ nghĩa Mác - Lênin làm gốc; kinh nghiệm do những người đi học mang đến, kinh nghiệm thành công cũng như kinh nghiệm thất bại. Đó ỉà những chĩ thị, nghị quyết, luật, lệnh của đoàn thể và Chính phủ.
          - Huấn luyện phải đạt tới mục đích thiết thực vi sự nghiệp cách mạng; học phải đi đôi với hành, lý luận liên hệ với thực tiễn.
          - Trong công cuộc đổi mổi, Đảng ta có Nghị quyết Trung ương 3 khóa VIII (tháng 6-1997) về Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Vừa qua, tại Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa X (tháng 1-2009) với ý nghĩa là Hội nghị giữa nhiệm kỳ, có đánh giá 10 năm công tác cán bộ.
          - Về thành tựu, Đảng ta khẳng định, Đảng và Nhà nưốc đã thể chế hóa, cụ thể hóa được một bước nhiều chủ trương, quan điểm, giải pháp lớn về công tác cán bộ đề ra trong chiến lược cán bộ. Công tác cán bộ đã bám sất nhiệm vụ chính trị và yêu cầu xây đựng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ mởi; đả triển khai tương đốì đổng bộ các khâu trong công tác cán bộ. Nội đung, phương pháp, cách làm cở đổi mới, tiến bộ; dân chủ, công khai trong công tác cán bộ được mở rộng.
          - Tuy nhiên, việc quán triệt, triển khai Nghị quyết Trung ương 3 (khóa VIII) chưa đồng đều, sự chỉ đạo và tổ chức thực hiện còn chậm và lúng túng. Nhiều khuyết điểm, yếu kém trong công tác cán bộ chậm được khắc phục. Trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện, chứa quán triệt đầy đủ quan điểm công tác cán bộ là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng.
          - Trong thời gian tới tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, học tập các nghị quyết, Luật phòng, chống tham nhũng và Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí gắn với thực hiện cuộc vận động “Học tập làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; tiếp tục hoàn thiện thể chế và đẩy mạnh cải cách hành chính, tập trung vào các lĩnh vực dễ xảy ra tham nhũng, lãng phí; chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất đạo đức, kỷ cương, liêm chính, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, điểu tra, kiểm soát, xét xử, phát hiện yà xử lý kịp thời, nghiêm minh các vụ việc tham nhũng, lãng phí. Tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan, đơn vị đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí.


          Bài tập 5: Quan điểm của Hổ Chí Minh về vai trò và các phương pháp thực hành đạo đức cách mạng. Giá trị lý luận và thực tiễn cửa quan điểm đở trong sư nghỉệp đổi mới.
1.     Quan diểm của Hổ Chi Minh vể vaỉ trò của đạo đức cách mạng.
           - Hồ Chí Minh coi đạo đức là gốc của cây, nguồn của sông, cái căn bản, cái nền tảng của con người.
          - Hồ Chi Minh coi trọng cả đức và tài trong một con người nhưng xét vê thứ tự ưu tiên thì Người vẫn cho đức là cơ bản hơn.
- Trong năm cuối đời, năm 1969, Hồ Chí Minh còn viết bài Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân đúng dịp kỷ niệm thành lập Đảng để giáo dục cán bộ, đảng viên. Và trong bản Di chúc, Hồ Chí Minh viết: “Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân.
          - Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa hồng vừa chuyên".
- Khi cho đạo đức là cái gốc của cây, ngọn nguồn của con sông, cái căn bản, nền tảng của người cách mạng, Hồ Chí Minh đã trở thành một trong những người đi tiên phong của cuộc cách mạng về đạo đức và chính Người trở thành một tấm gương sáng về thực hành đạo đức cách mạng.
          - Một là, thực hành đạo đức cách mạng phải được diễn ra suốt cả cuộc đời con người.
          - Hai là, nói đi đôi với làm, nêu gương đạo đức.
          - Ba là, cũng chung sức xây dựng mồi trường văn hoá đạo đức trong sạch.
3. Giá trị lý luận và thực tiển của những quan điểm thực hành đạo đức cách mạng của Hồ Chí Minh trong sự nghiệp đổi mới.
          - Trước hết, quan điểm Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng có ý nghĩa chỉ đạo hoạt động thực tiễn của sự nghiệp đổi mới. Đó là giá trị văn hoá bền vững trong cuộc sống cách mạng của dân tộc ta trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.
          - Đồng thời, quan điểm của Hồ Chí Minh có ý nghĩa thúc đẩy có hiệu quả cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” do Bộ Chính trị” khoá X phát động. Làm gương sáng cho người khác soi, đó là một phương cách xử thế của Hồ Chí Minh.
         
- Vì vậy, quan điểm, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh có sức sống mãnh liệt, đang đi vào cuộc sống của toàn Đang, toàn dân, toàn quân trong sự nghiệp cách mạng hiện nay. Tính kim chỉ nam cho hành động cách mạng của tư tưởng Hồ Chí Minh vể đao đức cách mạng đang chỉ đạo hoạt động thực tiễn của Đảng nhằm khắc phục tình hình suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của một hộ phận không nhở cán bộ, đảng viên' phòng và chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu và các tệ nạn xã hôi khác.
Bài tập 6: Các giải pháp nâng cao hiệu quả học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hổ Chỉ Minh vể trung với nước, hiếu với dân; cẩn, kỉệm, liêm, chỉnh, chỉ công vô tư trong tình hinh hiện nay.
Trả lời:
-  Thứ nhất, nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò hàng đầu của phẩm chất đạo đức “trung với nưóc, hiếu với dân” trong quá trình tiếp tục thực hiện cuộc vận “Học tập và làm theo tấm gương đáo đức Hố Chí Minh”.
- “Trung với nước, hiếu với dân” là phẩm chất hàng đầu của nền đạo đức mới - đạo đức cách mạng Hồ Chí Mỉnh, là cụ thể hoá trực tiếp các chuẩn mực đạo đức cách mạng cơ bản: nhân, nghĩa, trí, tín, liêm.
- Trong cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, Đảng ta đã đưa phẩm chất “trung với nước, hiếu với dân” lên hàng đầu, đồng thời tập trung vào việc tuyên truyên và chỉ đạo thực hành các chuẩn mực đạo đủc “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”; phát động phong trào thực hành tiết kiệm, phòng và chông tham nhũng, lãng phí, quan liêu, sửa đổi lối làm việc... Điều đó phản ánh tính đúng đắn và sự vận dụng sáng tạo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh trong công cuộc tiếp tục đổi mới đất nước ta hiện nay.
- Thứ hai, toàn Đảng, toàn dân, trước hết là cán bộ và đảng viên các cấp, cần tiếp tục thật sự học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” một cách đồng bộ đúng theo yêu cầu củạ các chuẩn mực đạo đức này, vận dụng cho phù hợp với nhiệm vụ trọng tâm của mỗi người, mỗi đơn vị và cơ quan.
Giải pháp này đời hỏi phải khắc phục cho được sự chia cắt tách rời ở hai khâu quan trọng: Một là, tách rời học tập, tuyên truyền ra khỏi thực hành, coi học tập là bước một, còn thực hành, làm theo là bước tiếp sau. Cách chia này trái hẳn với nguyên tắc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức: nói đi đôi với làm và nêu cao tấm gương đạo đức của Hồ Chí Minh. Haï là, tách rời, chia cắt mỗi chuẩn mực đạo đức hoặc nhấn mạnh chuẩn mực này, coi nhẹ chuẩn mực kia.
- Thứ ba, xây dựng hệ thống cảc chỉ tiêu phấn đấu cụ thể, thiết thực gắn vối nhiệm vụ trọng yếu của mỗi cơ quan, đơn vị và cá nhân ở cảc ngành, các cấp trên cơ sở cụ thể hoá yêu cầu của cáe chuẩn mực đạo đức “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” mốt cách đồng bộ.
- Trước hết là cơ quan chỉ đạo trung ương cần xây dựng hệ thống các chỉ tiêu phấn đấu chung, có tính chất hướng dẫn cho tất cả các ngành, các cấp. Căn cứ vào đó, cơ quan chỉ đạo của mỗi ngành, mỗi cấp cần xây dựng hệ thông các chĩ tiêu phấn đấu riêng cho phù hợp với ngành mình, cấp mình. Cuốỉ cùng là mỗi cá nhân cản cứ vào hệ thống các chỉ tiêu phấn đấu của đơn vị, cơ quan để tự làm bản đảng iký các chỉ tiêu phấn đấu với kết quả cụ thể và thời gian hoàn thành.
- Thứ tư, trong cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, thời gian tới cần phát động phọng trào thi đua chuyên sâu về “trung với nước, hiếu với dân” theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.
- Phẩm chất đạo đức “trung vối nước, hiếu với dân” được Đảng đưa lên hàng đầu trong cuộc vận động “Học tập. và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Vì vậy, trưốc hết phải phát động phong trào thi đua chuyên sâu về “trung với nưốc, hiếu với dân” trong toàn Đảng, toàn dân I ngay sau khi sơ kết đợt đầu cuộc vận động. Phong trào thi đua này là trọng tâm, quyết định sự thành công về cơ bản của cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” về “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, về “thực hành tiết kiệm, phòng chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, về góp phần quan trọng vào thực hiện “sửa đổi lôi làm việc” của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Mục đích, nội dụng của phong trào thi đua này đã được nói rõ ở ba giải pháp đầu.       
- Thứ năm, đồng thời với việc thực hiện tốt bốn giải pháp chủ yếu nêu trên, cũng phải thực hiện tốt, thường xuyên các giải pháp tiếp theo như:
- Thường xuyên quán triệt và kiên quyết thực hiện các nguyên tắc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức mà Hồ Chí Minh đã tổng kết.
- Kết hợp tốt các công việc nâng cao đạo đức cách mạng, phòng chông chủ nghĩa cá nhân với công việc xây I dựng, thực hành và bảo vệ pháp luật của Nhà nước, bảo vệ kỷ luật của Đảng, của Cở quan và đơn vị.
- Nâng cao chất lượng của công tác thi đua khen thưởng và kỷ luật
- Sau Đại hội XI của Đảng, ngày 14-5-2011 Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ra Chỉ thị số 03-CT/TW “Về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hẩ Chí Minh”.
Bài tập 7: Các giải pháp nâng cao hiệu quả ; “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” về thưc hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phỉ, quan liêu trong tình hình hiện nay.
Trả lời:
- Hội nghị Trung ương 12 khoá-IX đã chỉ rõ: Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là bộ phận quan trọng của nền tảng tinh thần xầ hội ta và chủ trương tổ chức cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và toàn xã hội. Thực hiện kết luận này, Bộ Chính trị khoá X đã ra Chỉ thị số 06-CT/TW, ngày 7-11-2006 về tổ chức cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Đây là một cuộc vận động lớn, một chủ trương đúng của Đảng, nhằm góp phần xây dựng, nâng cao chất lượng toàn diện đội ngũ cán bộ, đảng viên, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.
- Thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:
- Thứ nhất, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục và học tập tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, quan liêu đến từng cán hộ, đảng viên, công chức và toàn dân.
- Thứ hai, mỗi cá nhân, đơn vị, đặc biệt là người đứng đầu cấp uỷ, chính quyền, cán bộ lãnh đạo các cấp phải đặt nội dung thực hành tiết kiệm, chống tham ô, láng phí, quan liêu thành những chỉ tiêu phấn đấu cụ thể, thiết thực.
  - Thứ ba, động viên, lôi cuốn các tầng lớp nhân dân tham gia, giúp đỡ, kiểm tra, giám sát đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức trong thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lảng phí quan liêu.
- Thứ tư, mỗi đảng viên, cán bộ, cồng chức và toàn thê mọi người dàn quán triệt nguyên tắc xây dựng và thực hành đạo đức Hồ Chí Minh, nói phải đi đôi với làm, nêu gương về đạo đức.
Bài tập 8: Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh – bản chất và những đặc trưng tổng quát.
Trả lời:
1. Khái niệm tư tưởng nhân vãn Hồ Chí Minh.
- Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh bao gồm nhiểu bộ phận hợp thành, Về nội dung, tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh thật rộng lớn, bao quát hết các mặt bản chất con người, đời sống cá nhân và đời sống cộng đồng, môi trường tồn tại, các nhu cầu thể hiện và khát vọng làm chủ mọi mặt cuộc sống, v.v.; về hình thức thể hiện, tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh rất phong phú, đa dạng, rất cô đọng, khái quát, lại rất cụ thể mà không hề trừu tượng, gần gũi với cuộc sống làm người và ai cũng có thể áp dụng được để tự hoàn thiện tính người, hoàn thiện nhân cách làm người.
Khi định nghĩa khái niệm Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh, vào các nguyên tắc phương pháp luận mácxít.
- Một là, làm rõ nội hàm với những đặc trưng cơ bản của khái niệm. Công việc này được tiến hành trên cơ sở tài liệu, sự kiện chính xác và cẩn đến các khái quát lý luận khoa học, những nhận định mang tính lý thuyết, quan điểm.
- Hai là, phải rút ra cái cốt lỗi, bản chất của sự kiện, những quy luật vận động tác động đến nó.
- Ba lả, mối quan hệ giữa nội dung tư tưởng với thực tiễn cuộc sống.
2. Một số đặc trưng chủ yếu của tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh.
- Thứ nhất, tư tường nhân văn Hồ Chi Minh là một bước phát triển mới giá trị nhân văn truyền thống Việt Nam, tinh hoa nhăn văn của nhân loại, mà đỉnh cao là chủ nghĩa Mác - Lênin.
Một điểm dễ thống nhất vối nhau là: sở dĩ tư tưởng Hổ Chí Minh hiện thân khát vọng thể hiện các giá trị làm người cao quý, là linh hồn, là ngọn cờ lãnh đạo cách mạng Việt Nam, lương tâm của thời đại, có sức sống bền vững và có ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng, tình cảm của nhân dân Việt Nam và của nhân dân nhiều dân tộc trên thế giới, cả trong quá khứ, hiện tại và tương lai, chính là vì tư tưởng cùa Người đã kế thừa những giá trị tư tưởng, văn hóa "vĩnh cửu" của nhân loại, thấm đượm một chủ nghĩa nhân văn cao cả, đáp ứng những yêu cầu, nguyện vọng cháy bởng và sâu xa của dân tộc và nhân loại.
Thứ hai, tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh mang tính khoa học, cách mạng và hiện thực sâu sắc. Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh là chủ nghĩa nhân văn khoa học, hiện thực, cách mạng. Người ta thường nói, Hồ Chí Minh là một nhà triết học hành động, thì cũng có thê nói nhà nhân văn Hồ Chí Minh là một nhà nhân văn hành động, hành động nhằm giải phóng con người.
Tinh thần nhân văn đặc sắc của Hồ Chí Minh thể hiện ở khát vọng biến tư tưởng thành hiện thực trên cơ sở sự hiểu biết chắc chắn các điểu kiện hiện tại và quy luật xã hội đặc thù của một nước thuộc địa nửa phong kiến, nông nghiệp lạc hậu. Cốt lõi thế giới quan duy vật, phương pháp khoa học, nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa được Hồ Chí Minh chuyển hóa thành một tổ hợp tư tưởng Mác, Lênin, Hồ Chí Minh, rồi nó lại được thăng hoa, biến hóa thành một chất tư tưởng mới rất riêng, ở đó hòa quyện chiều sâu lý luận với sinh khí cuộc sống. Tiếp thu bản chất cách mạng, tinh thần cải tạo thế giới của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh thực hiện khát vọng cháy bởng của mình là biến tất cả tình thương người, tình yêu cuộc sống, khát vọng xây dựng tương lai thành hành động để đưa những tư tưởng, lý tưởng, ước mơ đó thành hiện thực.
- Thứ ba, tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh mang bản chất giai cấp công nhân, thống nhất trong đó tính giai cấp với tính dân tộc và tính quốc tế.
- Trong chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh, lòng nhân ái giữ vị trí hàng đầu, song nó không bó hẹp lòng thương người ở tình nghĩa đồng bào, những "người trong một nưởc phải thương nhau cùng", mà mở rộng đến khắp năm châu bốn biển. Người luôn coi con người và cuộc sống ở bất cử nơi đâu đều là giá trị cuối cùng và cao nhất phải đấu tranh để giành được.

- Thứ tư, chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh là chủ nghĩa nhân văn xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa. Tính chất xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa của tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh thể hiện cả trong bản chất xã hội, cả trong mục đích, nhiệm vụ và chức năng mà nó thực hiện trong đời sống xã hội của con người. Ngoài tính chất triệt để, phạm vi bao quát rộng, tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh hướng tới giải phóng cả loài người. Điều này cho thấy tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh chỉ là một giai đoạn trong dòng chảy liền mạch của tư tưởng nhân văn loài người, nhưng nó đã đạt đến đinh cao và có thể thay thế cho các hình thái nhân văn chủ nghĩa đã từng tồn tại trước đó. Vì thế tư tụởng nhân văn Hồ Chí Minh là cội nguồn sức mạnh của nhân loại, là nhân tố xích lại gần nhau giữạ các quốc gia, phấn dấu hình thành nên một “thế giới đại đồng" cộng sản chủ nghĩa, trong đó con người thuộc mọi dân tộc được tôn trọng, đối xử bình đẳng với nhau như những con người.
Read more…

Báo cáo ngoại khóa chủ để Đại đoàn kết

2:03 AM |
CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỚI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC VÀ MẶT TRẬN DÂN TỘC THỐNG NHẤT
Phạm Thế Duyệt
Chủ tịch UB TWMTTQ Việt Nam
Vào những ngày này, đồng bào, đồng chí cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài, bằng những việc làm cụ thể để thiết thực kỷ niệm 115 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới, Người sáng lập, lãnh đạo, rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam; Người khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tức Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Người sáng lập, lãnh đạo Mặt trận Dân tộc thống nhất, Người chiến sĩ cộng sản quốc tế mẫu mực và Người bạn thân thiết của các dân tộc đang đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên toàn thế giới.

          Năm nay, nhân dân ta tổ chức trọng thể lễ kỷ niệm lần thứ 115 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Mình để bày tỏ lòng biết ơn vô hạn với Người.
Kỷ niệm Ngày sinh của Người chính là dịp để chúng ta tiếp tục khẳng định ý chí sắt đá của toàn dân tộc đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, tiếp tục giương cao ngọn cờ Hồ Chí Minh, thực hiện Di chúc thiêng liêng của Người, học tập tư tưởng, đạo đức, tác phong, lề lối làm việc của Người, vững bước đi theo con đường mà Người đã chỉ ra, ra sức phấn đấu để hoàn thành sự nghiệp lớn lao mà Người đã truyền lại, biến “ham muốn tột bậc" và hoài bão lớn lao của Người thành hiện thực.
          Một trong những tài sản vô giá mà Người để lại cho dân tộc ta, cho thế hệ chúng ta và các thế hệ mai sau là tư tưởng Hồ Chí Minh bao gồm một hệ thống những quan điểm toàn diện, nhất quán và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam. Đó là từ cách mạng dân tộc, dân chủ tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa không qua giai đoạn phát triển chế độ tư bản chủ nghĩa; là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đó là cuộc cách mạng thuộc địa từ giải phóng dân tộc đến giải phóng xã hội, giải phóng con người...

          Trong hệ thống những quan điểm đó nổi lên tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc và Mặt trận Dân tộc thống nhất. Tư tưởng thấm đượm truyền thống văn hóa dân tộc và nhân văn sâu sắc đó đã trở thành một trong những nhân tố quan trọng nhất, bảo đảm thắng lợi của Cách mạng Việt Nam trong thế kỷ 20 và sẽ trường tồn với thời gian.

          Nghiên cứu lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi đến một nhận định: ''Sử ta dạy cho ta bài học này. Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do. Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn".

          Từ thực tiễn đấu tranh cách mạng, kết hợp nhuần nhuyễn luận điểm “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng'' của chủ nghiã Mác - Lê-nin với tư tưởng “dân là gốc'' của ông cha, Người đã đưa ra một chân lý: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, Thành công, thành công, đại thành công”.

          Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, vì đại nghĩa dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh - biểu tượng cao đẹp nhất của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, linh hồn của tinh thần đại đoàn kết dân tộc, đã luôn luôn phấn đấu cho chân lý đó.
Nghiên cứu lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam cho thấy: Trong từng thời kỳ, từng giai đoạn cách mạng, có thể là cần thiết phải điều chỉnh chính sách và phương pháp tập hợp cho phù hợp với những đối tượng khác nhau, song tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn là tư tưởng cơ bản, nhất quán, là một mục tiêu, một nhiệm vụ hàng đầu, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong đường lối cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Người.

          Trong lễ ra mắt của Đảng Lao động Việt Nam ngày 3-3-1951, thay mặt Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng tuyên bố trước quốc dân đồng bào: Mục đích của Đảng Lao động Việt Nam có thể gồm tám chữ là: “Đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc”

          Theo quan điểm của Người, đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết “mọi người mang trong mình dòng máu con Lạc, cháu Hồng”, là đoàn kết “mọi con dân đất Việt”, đoàn kết “mỗi một người con Rồng, cháu Tiên”. Đây không chỉ là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, mà cũng là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của cả dân tộc, vì nó là đòi hỏi khách quan của quần chúng nhân dân trong cuộc đấu tranh để tự giải phóng mình. Đảng có sứ mệnh thức tỉnh, tập hợp, hướng dẫn, chuyển hóa những đòi hỏi khách quan, tự phát của quần chúng thành những đòi hỏi tự giác, thành hiện thực có tổ chức, thành sức mạnh vô địch trong cuộc đấu tranh vì độc lập cho dân tộc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân.

          Và chính Người đã phấn đấu không mệt mỏi cho sự nghiệp đó. Nghiên cứu những bài viết, bài nói của Người, ta thấy hầu như không bài nào vắng bóng những từ đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Trên cương vị và uy tín của mình, Người đã dành khá nhiều thời gian viết thư gửi nam, phụ, lão, ấu, đồng bào các dân tộc, công nhân, nông dân, bộ đội, nhân sĩ, trí thức, giới công thương, Việt kiều, đồng bào các tôn giáo, v.v. nhằm duy trì và mở rộng khối đại đoàn kết.
Đối với đồng bào các dân tộc, Người kêu gọi: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay E-đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau.
Trước kia chúng ta xa cách nhau, một là vì thiếu giây liên lạc, hai là vì có kẻ xúi giục để chia rẽ chúng ta.
Ngày nay, nước Việt Nam là nước chung của chúng ta.
Giang sơn và Chính phủ là giang sơn và Chính phủ chung của chúng ta. Vậy nên tất cả dân tộc chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ để giữ gìn nước non ta, để ủng hộ Chính phủ ta” (Trích thư gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền nam tại PLây Cu ngày 19-4-1946)
Và chính vì thế mà trên thế giới này hiếm có quốc gia nào đồng bào các dân tộc lại coi lãnh tụ của mình là ''Cha già dân tộc" lúc còn sống cũng như khi đã qua đời như dân tộc Việt Nam đối với Bác Hồ. Muốn đoàn kết rộng rãi phải biết khoan dung độ lượng. Khoan dung, độ lượng là phẩm chất cao đẹp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là điều kiện quan trọng đề tập hợp hết thảy mọi lực lượng mà Người đã rêu ra.
Điều đó được nêu trong bức thư gửi đồng bào Nam Bộ ngày 31-5-1946:
''Đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam.
Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi!
Tôi khuyên đồng bào đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi. Năm ngón tay cũng có ngón vắn, ngón dài. Nhưng vắn dài đều hợp nhau lại nơi bàn tay. Trong mấy triệu người cũng có người thế này, thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều dòng dõi của tổ tiên ta. Vì vậy nên ta phải khoan hồng đại độ. Ta phải nhận rằng đã là con Lạc cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc. Đối với những đồng bào lạc lối, lầm đường, ta phải lấy tình thân ái mà cảm hóa họ. Có như thế mới thành đại đoàn kết, có đại đoàn kết thì tương lai chắc sẽ vẻ vang...
          Trong thư gửi các linh mục và đồng bào công giáo Việt Nam ngày 25-12- 1945, Hồ Chủ tịch viết: ''Trong lịch sử Việt Nam ta, lần này là lần đầu mà đồng bào công giáo ta làm lễ Nô- en một cách vui vẻ sung sướng trong nước Việt Nam độc lập, tự do. Người tin rằng: “Đồng bào công giáo quyết một lòng với nhân dân toàn quốc để giữ vững nền tự do độc lập đó”.
          Gửi thư cho Hội Phật tử Việt Nam ngày 30-8-1947, Người cảm ơn sự đóng góp của đồng bào phật tử trong cuộc kháng chiến cứu nước và mong đồng bào đoàn kết, cố gắng thêm, cố gắng mãi cho đến ngày trường kỳ kháng chiến thắng lợi, thống nhất và độc lập thành công.
          Gặp gỡ Việt kiều ở Pháp năm 1946, Bác căn dặn mọi người đoàn kết, giúp nhau tiến bộ, cố gắng học một nghề gì có ích để phục vụ dân tộc.
Một sáng tạo lớn, một cống hiến quan trọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam cho dân tộc, cho giai cấp, cho phong trào giải phóng dân tộc, phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế, là việc thành lập Mặt trận Dân tộc thống nhất. Trong tư duy cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Mặt trận Dân tộc thống nhất là cái cốt vật chất, là điều kiện tiên quyết giúp cho việc chuyển hóa đại đoàn kết dân tộc từ sức mạnh tinh thần tiềm ẩn thành sức mạnh vật chất hiện thực, thành lực lượng có tổ chức.
75 năm trước đây, sau khi Đảng Cộng sản Đông Dương được thành lập, ngày 18-11-1930 Hội Phản đế đồng minh, hình thức tổ chức đầu tiên của Mặt trận Dân tộc thống nhất ở nước ta ra đời theo tư tưởng Hồ Chí Minh, do Đảng Cộng sản Đông Dương khởi xướng và lãnh đạo, đã đánh dấu sự phát triển về chất phong trào yêu nước và cách mạng của nhân dân ta.

          Kế tục sự nghiệp vẻ vang của Hội Phản để đồng minh (1930-1936) và của Mặt trận dân chủ Đông Dương (1936-1939), Mặt trận Việt Minh do chính Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập (19-5-1941) đã tập hợp các tầng lớp nhân dân, các đảng phái yêu nước và các tổ chức cứu quốc, đoàn kết, động viên toàn dân nổi dậy giành chính quyền, đưa Cách mạng Tháng Tám đến thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ngày nay là nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

          Đoàn kết trong Mật trận Liên Việt, nhân dân ta đã làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ, đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi, giải phóng một nửa đất nước.

          Đoàn kết trong Mặt trận Tổ quốc, trong Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ hòa bình Việt Nam, thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử vẻ vang là giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân trong cả nước.

          Cùng với quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam, Mặt trận Dân tộc thống nhất đã không ngừng củng cố, mở rộng, với những hình thức tổ chức và tên gọi khác nhau, phù hợp với nhiệm vụ cách mạng của mỗi thời kỳ. Mặt trận Dân tộc thống nhất đã có những cống hiến xứng đáng vào thắng lợi vĩ đại của dân tộc và trở thành một nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

          Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: "Chính sách Mặt trận là một chính sách rất quan trọng. Công tác Mặt trận là một công tác rất quan trọng trong toàn bộ công tác cách mạng... Trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân cũng như trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, Mặt trận Dân tộc thống nhất vẫn là một trong những lực lượng to lớn của cách mạng Việt Nam.

          Xuất phát từ quan điểm nêu trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh, được cụ thể hóa bằng Nghị quyết Đại hội IX của Đảng, Đại hội VI Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trương: “Đoàn kết rộng rãi, đoàn kết mọi thành viên trong xã hội, không phân biệt đối xử về quá khứ, thành phần giai cấp, dân tộc, tôn giáo, trong nước hay ở nước ngoài, đoàn kết chặt chẽ trên cơ sở mục tiêu chung là giữ vững độc lập, thống nhất vì ''dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, đoàn kết giữa nhân dân ta với nhân dân các nước trên thế giới, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trở thành động lực chủ yếu để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

          Đó là nhiệm vụ lịch sử nặng nề nhưng rất vẻ vang của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, của mọi người Việt Nam yêu nước, thương nòi”.

          Mỗi lần kỷ niệm Ngày sinh của chủ tịch Hồ Chí Minh là một dịp để nhân dân ta, trước hết là cán bộ, đảng viên nghiên cứu, học tập để quán triệt sâu sắc tư tưởng của Người. Đây là một việc làm rất quan trọng. Song điều quan trọng hơn, cấp bách hơn đối với tất cả chúng ta lúc này là vận dụng tư tưởng, đạo đức, tác phong và lề lối làm việc của Người vào cuộc sống hiện nay.

          Hãy phát huy cao sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết rộng rãi trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì sự phồn vinh của đất nước, vì hạnh phúc của nhân dân.
















CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỚI VẤN ĐỀ DÂN TỘC
VÀ CON NGƯỜI
. TS. Phạm Hồng Chương-Viện Hồ Chí Minh
"Cái mà tôi cần nhất trên đời là : “Đồng bào tôi được tự do,Tổ quốc tôi được độc lập".
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói như vậy và Người đã phấn đấu suốt cả cuộc đờí cho điều giản dị chân lý ấy ; độc lập cho Dân tộc và tự do cho Con người Việt Nam. Đó là điểm xuất phát của quá trình nhận thức, là tiêu chuẩn lựa chọn một học thuyết, một con đường tranh đấu: là hạt nhân chi phối các hoạt động lý luận và thực tiễn, là mục tiêu phấn đấu của Hồ Chí Minh đồng thời cũng là cội nguồn thắng lợi của cách mạng nước ta dưới sự dẫn dắt của Người. Nghiên cứu, học tập và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào các hoạt động thực tiễn phải chú trọng vấn đề hạt nhân đó: vấn đề dân tộc và con người.
1 . Chúng ta đều biết, Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân xuất phát từ lòng yêu nước - thương dân tha thiết với khát vọng giải phóng dân tộc - con người Việt Nam, Nguồn lực tinh thần là chủ nghĩa yêu nước - nhân văn Việt Nam ấy được hun đúc qua hàng nghìn năm dựng nước - giữ nước, lao động - sáng tạo, bảo tồn - phát triển của dân tộc ta.
Với hành trang đó, Hồ Chí Minh tiến hành cuộc tìm tòi lịch sử và cuộc hành trình ra thế giới để xem xét họ làm thế nào nhằm trở về "giúp đồng bào chúng ta", đã mở rộng nhận thức của Người về vấn đề dân tộc và con người. Người đã thấy không chỉ dân tộc mình mất tự do mà nhiều dân tộc khác cũng "cùng chịu chung một nỗi đau khổ: sự bạo ngược của chế đô thực dân" và không chỉ đồng bào mình bị đối xử như nô lệ mà nhân dân lao động các nước khác không kể chủng tộc, màu da hay quốc tịch cũng "đều là nạn nhân của một kẻ sát nhân : chủ nghĩa tư bản quốc tế3Người nhận xét : "Vậy là dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột, mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: Tình hữu áí vô sản4.Từ nhận thức chung đó, Hồ Chí Mmh coi vấn đề giải phóng dân tộc và con người không chỉ là vấn đề của dân tộc mình mà phải là vấn đề toàn cầu "Mặc dầu chúng ta là những người khác giống: khác nước, khác tôn gíáo... chúng ta đấu tranh vì một lý tưởng chung: giải phóng đồng bào chúng ta và giành độc lập cho Tổ quốc chúng ta" và trong cuộc chiến đấu đó "chúng ta không đơn độc vì chúng ta có tất cả các dân tộc của chúng ta ủng hộ"5.Có thể nói, hiểu biết của Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và con người Việt Nam đã mở rộng ra tầm thế giới và nhân loại nó đã bổ sung thêm tiêu chuẩn cho Hồ Chí Minh trong sự lựa chon con đường cho cách mạng Việt Nam trước thời đại lịch sử mới: con đường đó phải giải quyết vấn đề dân tộc và con người không chỉ cho dân tộc và con người Việt Nam mà cho tất cả các dân tộc bị áp bức và nhân dân lao động bị bóc lột trên toàn thế giới.
Trước khi bắt gặp chủ nghĩa Mác - Lênin và đi theo con đường của Cách mạng Tháng Mười Nga, với hành trang chủ nghĩa yêu nước - nhân văn truyền thống và với những nhận thức mới có tính nhân loại về vấn đề dân tộc - con người. Hồ Chí Minh đã tìm hiểu nhiều học thuyết và xem xét các hình mẫu cách mạng điển hình như cách mạng tư sản Pháp và Mỹ, nhưng Người đều chối từ. Sự từ chối đó xuất phát từ nguyên nhân căn bản là những học thuyết tư sản và mẫu hình cách mạng dân tộc và xã hội này đã không giải quyết "đến nơi" vấn đề con người như tuyên ngôn cách mạng của nó: công nông vẫn cực khổ và chỉ là sự thay đổi kẻ bóc lột mà thôi.
Từ hiện thực trái ngược với những tuyên ngôn của hai cuộc cách mạng xã hội ở Pháp và giải phóng dân tộc ở Mỹ và khi yêu sách của nhân dân Việt Nam mà Người gửi tới Hội nghị Vécxây năm 1918 bị phớt lờ. Hồ Chí Minh đã thấy rõ những tuyên bố của giai cấp tư sản "chỉ là trò bịp lớn". Từ thực tiễn đó. Người càng khẳng định ý tưởng phải giải quyết vấn đề dân tộc và con người theo một học thuyết khoa học - cách mạng khác các học thuyết tư sản và bằng một con đường cách mạng triệt để.
Hồ Chí Minh nhận xét Cách mạng Tháng Mười Nga, từ sự thành công của nó, "mà cơ sở của quyền tự do chân chính và quyền bình đẳng thực sự đã được đặt ra cho loài người". Do vậy, theo Người. "Tiếng sấm Cách mạng Tháng Mười Nga đã vang dội làm chấn động địa cầu: Nhân dân lao động đã làm chủ nước nhà, những dân tộc nhỏ yếu đã giành được độc lập ruộng đất về tay dân cày. Tiếng sấm ấy đã thúc đẩy những người Việt Nam yêu nước hướng về phía Liên Xô: hấp thụ lý luân vĩ đại của chủ nghĩa Lênin"8.
Từ thực tiễn giải quyết triệt để vấn đề dân tộc và con người của cách mạng Nga, Hồ Chí Minh đã nhanh chóng thâu nhận học thuyết giải phóng dân tộc và con người của thời đại mới - Chủ nghĩa Mác - Lênin - vì đó "là chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất"9. Theo Người "muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản" và tiến tới CNCS vì "chỉ có CNCS mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người, niềm vui, hòa bình, hạnh phúc”). Từ nhận thức đó, Hồ Chí Minh đã trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản pháp, tham gia Quốc tế III và trở thành người cộng sản tranh đấu không chỉ vì lợi ích của dân tộc con người Việt Nam mà còn vì lợi quyền thực sự của các dân tộc và nhân dân lao động toan thế giới.
Như thế, từ và vì vấn đề dân tộc - con người của Việt Nam để đi ra thế giới, hòa nhập vào nhân loại và hướng theo dòng tiến hóa của thời đại quan niệm của Hồ Chí Minh về giải phóng dân tộc: giải phóng xã hội, giải phóng con người theo học thuyết cách mạng khoa học, bằng con đường cách mạng vô sản hướng tới CNXH với đầy đủ các yếu tố Dân tộc - Nhân loại - Thời đại. Sự thống nhất đó đã khẳng định ngay từ đầu những nhân tố cơ bản cho sự thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Như vậy, con đường của cách mạng hướng đến CNXH ở Việt Nam không phải là ý muốn chủ quan nào mà là đòi hỏi nội tai của dân tộc, phù hợp với hướng tiến hóa của nhân loại trong thời đại mới sau Cách mạng Tháng Mười, nó hội đủ các yếu tố thiên thời - địa lợi - nhân hòa. Điều đó giải thích tại sao trong khi các học thuyết khác không có cơ hội bám rễ ở Việt Nam thì chủ nghĩa Mác - Lênin: con đường cách mạng vô sản được Hồ Chí Minh truyền bá vào nước ta đã được tiếp nhận nhanh chóng, phát triển vững chắc và cuộc cách mạng ở Việt Nam luôn được sự hậu thuẫn mạnh mẽ của các dân tộc và nhân dân lao động toàn thế giới. Điều đó cũng lý giải vai trò dẫn dắt dân tộc của Hồ Chí Minh lại được chính những nhà ái quốc như Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu thừa nhận và gửi gắm kỳ vọng,
2 . Vấn đề Dân tộc - Con người trong thang giá trị truyền thống của văn hóa Việt Nam cùng vời lý luận Mác - Lênin không chỉ là cơ sởtiêu chí quyết định con đường cách mạng hướng tới mục tiêu XHCN vì Dân tộc - Con người của Hồ Chí Minh mà còn giúp Người giải quyết một cách sáng tạo trong cách mạng nước ta, từ xây dựng lý luận cách mạng đến chỉ đạo hoạt động thực tiễn: từ việc xây dựng đường lối, hoạch định chính sách, tổ chức lực lượng, xác định phương pháp cách mạng đến bước đi của cách mạng Việt Nam, trong cả sự nghiệp giải phóng dân tộc và phục hưng đất nước, thích hợp với điều kiện trong nước và sự vận động của quan hệ quốc tế.
Sự sáng tạo được thể hiện ngay trong việc Hồ Chí Minh xây dựng, hình thành sự kết hợp các nhân tố dẫn tới sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam: Chủ nghĩa Mác - Lênin, phong trào yêu nước và phong trào của giai cấp công nhân. Trong Chính cương Sách lược Điều lệ vắn tắt của Đảng, Hồ Chí Minh xác định mục tiêu cuối cùng là xây dựng CNCS ở Việt Nam, đồng thời Người cũng cụ thể hóa mục tiêu là làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập, giải phóng công nông khỏi áp bức của đế quốc và phong kiến, thiết lập nền dân chủ mới trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội, thực hiện giải phóng dân tộc giải phóng xã hội và giải phóng con người và tạo ra những điều kiện phát triển mới vì lợi ích dân tộc và con người Việt Nam. Không chỉ dừng ở đường lối, vấn đề dân tộc - con người còn thấm sâu vào việc tổ chức lực lượng và chỉ đạo các hoạt động thực tiễn. Quyết định của Hồ Chí Minh năm 1941 về sự chuyển trọng tâm của cách mạng Việt Nam là đặt lợi ích giải phóng dân tộc lên trên hết nhưng trong Chương trình Việt Minh vẫn có đầy đủ mục tiêu "Việt Nam độc lập" và về con người là "làm cho dân Việt Nam được sung sướng, tự do". Khơi dậy nguồn lực mạnh mẽ nhất tiềm ẩn trong dân tộc - chủ nghĩa yêu nước nhân văn Việt Nam, và với lợi ích dân tộc, lợi ích của các giai tầng, của mỗi con người được xác định thống nhất, Hồ Chí Minh đã đoàn kết được toàn thể dân tộc làm Cách mạng Tháng Tám thành công, thiết lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với tiêu chí phấn đấu là Độc lập - Tự do - Hạnh phúc. Cho đến nay tiêu chí đó vẫn là mục tiêu của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và con người còn được khẳng định trước toàn thế giới qua Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Người khởi thảo. Thừa nhân những lời bất hủ trong Tuyên ngôn Độc lập Mỹ (1776) và "những lẽ phải không ai chối cãi được" trong Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng Pháp (1789) về quyền con người, Hồ Chí Minh đã đi tới kết luận phản ánh nguyện vọng chung của dân tộc Việt Nam, của các dân tộc, đồng thời thể hiện rõ tư tưởng của mình khi Người viết rằng: "Tất cả các dân tộc trên thế gíới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tư do”. Nâng quyền tự nhiên của con người lên quyền dân tộc và gắn quyền con người với quyền dân tộc, với Tuyên ngôn Độc lập, Hồ Chí Minh đặt nền tảng cho một trật tự và pháp lý quốc tế mới về quyền con người, quyền dân tộc và sự bình đẳng giữa các quốc gia, dân tộc. Cần phải nhấn mạnh sự đóng góp này của Hồ Chí Minh, vì 15 năm sau khi Tuyên ngôn Độc lập được công bố, tới cuối năm 1960, khi mà vấn đề độc lập không thể không được đặt ra sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Liên Hợp Quốc mới có tuyên ngôn trao trả độc lập cho các dân tộc và phải 10 năm sau đó nữa Liên Hợp Quốc mới có nghị quyết để thi hành Tuyên ngôn năm 1960.
Mục tiêu của Nhà nước ta ghi trên quốc hiệu đã được thực thi ngay trong những ngày tháng đầu tiên của chế độ mớí. Chỉ 1 ngày sau khi tuyên bố độc lâp, ngày 3-9-1945, Hồ Chí Minh đã đề ra 6 nhiệm vụ cấp bách để giải quyết ngay các vấn đề quan hệ tới vận mệnh của dân tộc và sự sinh tồn của mỗi người Việt Nam. Ngày 17-10-1945, trong thư gửi ủy ban Nhân dân các cấp, sau khi nêu lên việc kiến thiết nước nhà là lâu dài nhưng Người đã chỉ thị "ngay từ bước đầu chúng ta phải giữ đúng phương châm""gắng sức /àm cho ai nấy đều có phần hạnh phúc").Phát biểu tại phiên họp đầu tiên của ủy ban nghiên cứu kế hoạch kiến quốc, ngày 10-1-1946, Người nói: "Chúng ta tranh được tự độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no mặc đủ).Vì vậy, Người khẳng định: "Chúng ta phải làm sao thực hiện ngay: Làm cho dân có ăn, làm cho dân có mặc, làm cho dân có chỗ ở, làm cho dân có học hành. Cái mục đích chúng ta đi đến là ở đó, đi đến để dân ta xứng đáng với tự do độc lập và giúp vào tự do độc lập".Từng bước thực hiện mục tiêu Tự do - Hạnh phúc của con người Việt Nam. Hồ Chí Minh đã làm gia tăng gấp bội sức mạnh dân tộc để vượt qua mọi thử thách, đưa Tổ quốc ta bước vào điểm xuất phát của kỷ nguyên Độc lập Tự do- Hạnh phúc.
Tinh thần dân tộc mạnh mẽ đó đã phát huy thành những phong trào thi đua chống giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm và tạo nên nền tảng vững chắc nhất trong lòng dân tộc để Hồ Chí Minh và Đảng ta thực thi thành công các sách lược nhằm bảo tồn chế độ vừa mới được dựng xây sau Cách mạng Tháng Tám. Thành công đó còn được Hồ Chí Minh và Đảng ta phát huy trong công cuộc Kháng chiến Kiến quốc, trong sự nghiệp chiến đấu vì chân lý Không có gì quý hơn độc lập tự do và trong xây dựng xã hội XHCN. Như thế, vấn đề Dân tộc - Con người không chỉ là mục tiêu, tiêu chí trong xây dựng lực lượng cách mạng, là sở để vạch ra và thực thi các phương pháp cách mạng đặng đưa dân tộc Việt Nam tới các mục tiêu giải phóng, là lý do cho sự ra đời và tồn tại của Nhà nước của dân, do dân và trong tổ chức xã hội mới mà còn là động lực chủ trong công cuộc giải phóng, phục hưng dân tộc hướng tới xã hội XHCN vì dân tộc, vì con người.
3 . Chúng ta đặc biệt nhấn mạnh tới vấn đề dân tộc - con người qua cách trình bày của Hồ Chí Minh về mục tiêu của CNXH, một xã hội vì dân tộc, vì con người trong khái niệm cặp đôi của nó Người nói: "CNXH là làm sao cho dân giàu, nước mạnh","là sung sướng tự do", "làlàm cho mọi người dân được ấm no, hạnh phúc và học hành tiến bộ" CNXH là "xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt". Những mục tiêu cụ thể trên đây đươc Hồ Chí Minh khái quát một cách súc tích và nhất quán khi Người khẳng định XHCN không có bóc lột và áp bức dân tộc", "một xã hội đảm bảo cho đất nước phát triển rực rỡ một cách nhanh chóng chưa từng thấy, đưa quần chúng đến một cuộc sống xứng đáng, vẻ vang và ngày càng phồn vinh làm cho mọi người lao động có một tổ quốc tự do, hạnh phúc và hùng cường, hướng tới những chân trời tươi sáng, mà trước kia không thể nghĩ tới).Những mục tiêu trên đây thể hiện một cách tổng quát và chính xác tư tưởng Hồ Chí Minh CNXH: độc lập dân tộc được bảo đảm bằng sự phát triển hùng cường của tổ quốc tự do với một xã hội ngày càng tăng tiến về điều kiện vật chất, tốt đẹp hơn về tinh thần, bảo đảm cho con người phát triển và có cuộc sống xứng đáng, vinh quang. Đây cũng là nội dung đầy đủ nhất của mục tiêu Độc lập - Tự do - Hạnh phúc mà Hồ Chí Minh đề ra cho chế độ mới. Đó là điểm chung cho toàn dân tộc, là tiêu điểm để đoàn kết toàn dân, thống nhất dân tộc, phấn đấu tiến tới hoàn chỉnh những mục tiêu của CNXH vì lợi ích lâu dài của mọi người Việt Nam. Những mục tiêu của CNXH đã khắc thành tiêu chí trên đây chỉ có được đầy đủ khi đã đạt tới sự phát triển hoàn chỉnh của xã hội XHCN. Nhưng với mẫu số chung về lợi ích đó - ngay từ khi mới bắt đầu xây dựng chế độ này - nó đã được thể hiện và phát huy tác dụng để mọi người dân nhận thấy bản chất của xã hội mới, được hưởng thụ thành quả về vật chất và tinh thần của sự giải phóng dân tộc giải phóng xã hội, giải phóng con người trong từng bước đi lên của xã hội XHCN. Do vậy, thông qua những lợi ích chung và thiết thực đó, niềm tin của toàn dân lo lý tưởng XHCN được củng cố đồng thời tạo ra một hiệu ứng tích cực, phát huy lòng tự tôn dân tộc, làm gia tăng tối đa sức mạnh dân tộc vượt qua mọi khó khăn khi phải đối diện trước bất kỳ một thử thách cam go nào trong sự nghiệp phục hưng dân tộc theo CNXH. Với mục tiêu lý tưởng nhưng rất hiện thực đó. Hồ Chí Minh đã khơi dậy những tiềm năng bị chôn vùi phát huy sức mạnh sẵn có, làm nảy nở những cái mới, cái hay, cái đẹp của cả dân tộc, của mỗi con người trong sự nghiệp xây dựng đất nước theo CNXH. Do đó có thể khẳng đinh rằng tư tưởng Hồ Chí Minh về muc tiêu vì dân tộc - con người của xã hội XHCN ở Việt Nam là sự sáng tạo và thể hiện đúng bản chất đích thực của CNXH mà chủ nghĩạ Mác - Lênin đã đề cập tới. Từ mục tiêu chung và dài lâu là Độc lâp - Tự do - Hạnh Phúc, ở từng giai đoạn nhất định của cách mạng, các mục tiêu chiến lược lại được diễn đạt cụ thể sát hợp với tình hình, nhiệm vụ nhưng không tách rời tiêu chí vì độc lập dân tộc, tự do hạnh phúc cho con người của xã hội XHCN. Xây dựng một nước Víệt Nam hòa bình, thống nhất, đôc lập, dân chủ và gíàu mạnh trong khẩu hiệu chiến lược của Đảng từ sau chiến thắng Điện Biên Phủ và được ghi lại trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh như là "điều mong muốn cuối cùng" của Người chính là mục tiêu của CNXH ở nưởc ta.
Để tiến tới xã hội XHCN có đầy đủ các điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nhằm thực hiện được hoàn chỉnh tiêu chí của xã hội XHCN cần có thời gian và phải trải qua thời kỳ quá độ. Tuy nhiên, ở những thời kỳ đầu, mục tiêu của CNXH đã dần dần được thể hiện khi từng bước hình thành một chế độ chính trị dân chủ, một nền kinh tế hiên đại dựa trên cơ sở "gắn liền với sự phát triến khoa hoc và kỹ thuật với sự phát triển văn hóa của nhân dân" và có sự "công bằng hợp lý”) về mặt xã hội. Hồ Chí Minh đã nói : "chúng ta tiến lên xây dựng một nước XHCN tức là một nước có một cuộc đời ấm no, bình đẳng, tự do và độc lập tức là nước Việt Nam hòa bình thống nhất, độc lập dân chủ vả giàu mạnh" . Đó là sự định hướng XHCN trong tất cả các lĩnh vực và tất cả đều phải xuất phát, phải dựa trên những đặc điểm, giá trị văn hóa Viêt Nam, không bao giờ xa rời mục tiêu Độc lập - Tự do - Hạnh phúc. Mục tiêu đó không chỉ là tiêu chí của tương lai, nó phải được thể hiện từng bước trong thực tiễn để xây đắp nền tảng vật chất và tinh thần cho sự tồn tại của chể độ XHCN nên đồng thời còn là động lực chính thúc đẩy cuộc cách mạng sáng tạo ở nước ta. Như vậy, mục tiêu của CNXH ở Việt Nam không chỉ thấm đậm yếu tố Dân tộc - Con người mà còn hiện rõ các nhân tố cấu thành Dân tộc - Nhân loại - Thời đại.
4.Từ thang giá trị truyền thống của chủ nghĩa yêu nước - nhân văn Việt Nam về vấn đề dân tộc và con người mà Hồ Chí Minh tiếp nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, lựa chọn con đường cho cách mạng nước ta. Trên cơ sở đó, Người đã giải quyết một cách sáng tạo vấn đề dân tộc và con người trên cả phương diện lý luận và hoạt động thực tiễn phù hợp với điều kiện Việt Nam và sự tiến hóa của nhân loại, đáp ứng được những đòi hỏi của thời đại. Do đó, Người đã khơi dậy nguồn động lực mạnh mẽ nhất của dân tộc, huy động được tối đa sức mạnh toàn dân và đã giành đươc sự ủng hộ vô cùng to lớn của nhân dân thế giới. Sức mạnh của dân tộc nhờ đó kết hợp được với sức mạnh thời đại tạo nên thế và lực tổng hợp cưc kỳ to lớn để Việt Nam đi tới mục tiêu của mình. Hồ Chí Minh đã coi chân lý là những gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân. Độc lập Tự do - Hạnh phúc trong mục tiêu của CNXH ở Việt Nam chính là thước đo, là hệ quy chiếu, là tiêu chuẩn của chân lý cho tất cả các hoạt động của chúng ta.
Lịch sử về chính trị của nhân loại trong thế kỷ XX không có gì khác hơn là lịch sử đấu tranh vì quyền cơ bản của các dân tộc và con người. Hồ Chí Minh đã nhìn thấy vấn đề dân tộc và con người của \/iệt Nam, của nhân loại xuyên qua moị thời gian và đã có phương thức giải quyết thích hợp. Người đã chiến thắng khi dựa trên nền tảng văn hóa của dân tộc và giá trị chung của nhân loại. Kinh nghiệm của cách mạng \/iệt Nam và thế giới trong thế kỷ XX cho thấy ở những nơi và thời điểm nào đó mà vấn đề dân tộc và con người không được giải quyết đúng đắn, tự nó sẽ hạn chế, triệt tiêu động lực và thậm chí cả những thành quả cách mạng được xây đắp trong nhiều thập kỷ.

Đi tìm nét tương đồng, điểm quy tụ của toàn dân tộc trong tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh
TS. Bùi Đình Phong
Chủ đề Đại hội IX của Đảng là phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đại hội khẳng định: "Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hòa cả lợi ích cá nhân, tập thể xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế, của toàn xã hội". Đó là một bước đột phá trong tư duy lý luận của Đảng. Nó không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong thời điểm hiện tại mà còn có giá trị to lớn, sâu xa trong suốt tiến trình cách mạng Việt Nam từ nay về sau.

          Muốn thực hiện đại đoàn kết toàn dân, điều quan trọng là phải phát hiện được những nét tương đồng, điểm quy tụ thay vì khoét sâu sự cách biệt, không ngừng bồi đắp những yếu tố đó, đem lại cho nó sức mạnh mới, nguồn sinh khí mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta những bài học quý giá, bổ ích, mà đến hôm nay và mai sau vẫn là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam, soi đường cho việc phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân.

          Một là, phát huy sức mạnh cộng đồng dân tộc trên cơ sở một cái nôi chung, cùng một dòng dõi tổ tiên, tự hào về nòi giống Tiên Rồng.

          Để phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, điều mà Bác Hồ quan tâm trước hết và thường xuyên là giáo dục cho mọi người hiểu rằng, tất cả chúng ta đều là con cháu Hồng - Bàng, con Lạc cháu Hồng, con Rồng cháu Tiên. Nói tới điểm này là Người nhắc nhở tới gốc tích nước nhà, cội nguồn dân tộc. Dân tộc nào trên thế giới cũng có lịch sử của dân tộc mình. Và nhắc tới lịch sử dân tộc là trở về nguồn, trở về cái thiêng liêng nhất của mỗi dân tộc, đó cũng là cội nguồn của sức mạnh.

          Nhưng với dân tộc Việt Nam, khi bàn về cội nguồn dân tộc, ta thấy rõ nét đặc thù, không giống nhiều dân tộc khác trên thế giới. Tính đặc thù của cội nguồn dân tộc thể hiện ở chỗ nhân dân yêu mến cái nôi chung, tự hào về nòi giống Tiên Rồng của mình. Bởi thế cho nên, như Bác Hồ truyền lại, chỉ có dân tộc ta mới biết dùng hai tiếng "đồng bào" với đúng nghĩa chân thực và sâu xa của nó. "Đồng bào" - hai tiếng thiêng liêng đó nảy nở từ rất sớm và được khắc sâu trong tâm trí con người mà hơn nghìn năm đô hộ của Hán Đường không sao xóa nhòa được. "Đồng bào" chính là một nét tiêu biểu của một nền văn hóa thống nhất trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Có nơi nào trên thế giới như dân tộc Việt Nam cùng thờ một đức vua chung là Vua Hùng có công dựng nước: Dù ai đi ngược về xuôi, Nhớ ngày giỗ Tổ mồng mười tháng ba.

          Dân gian có câu:

Con người có tổ có tông
Như cây có cội, như sông có nguồn

Từ chiều sâu việc nghiên cứu truyền thống văn hóa dân tộc, Bác Hồ dạy:

Dân ta phải biết sử ta
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam
Kể năm hơn bốn ngàn năm
Tổ tiên rực rỡ anh em thuận hòa
Hồng Bàng là tổ nước ta
Nước ta lúc đó gọi là Văn Lang

          Từ khi về nước cùng Đảng ta lãnh đạo cách mạng và kháng chiến, trong tất cả các bức thư, lời kêu gọi, Bác Hồ đều mở đầu bằng một câu có hai chữ "đồng bào", như "kính gửi đồng bào yêu quý"... Đây không phải là sự ngẫu nhiên mà hoàn toàn có cơ sở và chủ đích. Người khơi dậy nét tương đồng sâu xa về văn hóa của con người và dântộc Việt Nam. Giáo sư Trần Văn Giàu cho rằng " Thư kêu gọi khởi nghĩa của Nguyễn ái Quốc thì rõ ràng là chú trọng hết sức đúng mức đến vai trò của "toàn quốc đồng bào", rằng "giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà giải phóng cho ta".

          Hai là, dân ta đã có một lòng nồng nàn yêu nước

          Yêu nước là tư tưởng và tình cảm phổ quát của nhân dân các quốc gia dân tộc trên thế giới. Nhưng tùy theo điều kiện tự nhiên và hoàn cảnh lịch sử cụ thể, tinh thần yêu nước của mỗi quốc gia dân tộc mang nội dung đặc điểm không giống nhau. Đối với người Việt Nam chúng ta, chủ nghĩa yêu nước là sản phẩm tinh thần cao qúy nhất của dân tộc Việt Nam, là tư tưởng và tình cảm thiêng liêng giữ vị trí chuẩn mực cao nhất của đạo lý làm người Việt Nam và đứng đầu bậc thang giá trị dân tộc. Tinh thần đó đã phát huy sức mạnh vô biên của nó trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, là mẫu số chung, điểm quy tụ, một động lực nội sinh của cộng đồng dân tộc trong sự nghiệp xây dựng đất nước.

          Bác Hồ từ lúc ra đi tìm đường cứu nước đã chuẩn bị sẵn trong hành trang của mình những yếu tố có trọng lượng nhất, đó là lòng yêu nước và thương dân sâu sắc. Người không chỉ chuẩn bị cho mình mà trang bị cho cả dân tộc các thứ của qúy đó. Từ lúc tìm được lý luận cách mạng của thời đại là chủ nghĩa Mác-Lênin, Người đã nâng cao lòng yêu nước, thương nòi của đồng bào lên một trình độ mới, một chất mới, đồng thời thường xuyên giáo dục mỗi con Hồng cháu Lạc phải biết nuôi dưỡng lòng yêu nước để thực hiện sứ mệnh giải phóng dân tộc. Có người vì chủ nghĩa yêu nước là chiếc gậy thần của Nguyễn ái Quốc trong cuộc hành trình vạn dặm tìm đường cứu nước. Chủ nghĩa yêu nước là chất keo kết dính mấy mươi triệu con Rồng cháu Tiên, tạo nên sức mạnh toàn dân tộc thực hiện nhiệm vụ đánh đế quốc, giành độc lập dân tộc.

          Đồng chí Nguyễn Lương Bằng nhớ lại trong những lần gặp Bác. Người dặn: "Không nên chỉ hô hào thợ thuyền, dân cày chung chung. Không nên nói vô sản một cách cứng nhắc, Trước mắt chúng ta là phải đánh đổ thực dân Pháp, giải phóng dân tộc. Cho nên phải khơi lòng yêu nước của mọi người".

          Đúng là phải khơi lòng yêu nước của mọi người và của mỗi người. Bởi vì trong quan niệm của Bác, đã là người Việt Nam, chỉ trừ lũ Việt gian bán nước, ác qủy ma tà, còn lại ít nhiều đều có lòng yêu nước. Nếu ta biết nhen nhóm đốm than hồng thì sẽ bùng lên ngọn lửa, cháy rực lên biển lửa, quét sạch giặc ngọai xâm. Đây là bài học của lịch sử, là sức mạnh của hiện tại, là bệ phóng cho tương lai. Bác Hồ tổng kết: "Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống qúy báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước".

          Nhận thức đầy đủ tinh thần yêu nước như một thứ của qúy, là cái lẽ sinh tồn cảu dân tộc, sợi dây kết nối toàn dân tộc, Bác Hồ xác định "bổ phận của chúng ta là làm cho những của qúy kín đáo ấy đều được đưa ra trưng bày. Nghĩa là phải ra sức giải thích, tuyên truyền, tổ chức, lãnh đạo, đều được thực hành vào công việc yêu nước, công việc kháng chiến".

          Ba là, chúng ta có cái thù chung là bọn cướp nước, có nguyện vọng chung là quyền lợi giải phóng dân tộc cao hơn hết thảy.

          Đại đoàn kết theo quan điểm của Bác Hồ, vừa phải có nền gốc bao gồm công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác, vừa phải rộng rãi. Nhưng rộng rãi trên cơ sở nào? Cùng với cái nôi chung, tự hào về nòi giống Tiên Rồng của mình với một tư tưởng yêu nước đậm đà, để đoàn kết được rộng rãi, phải thấy rằng đã là người Việt Nam yêu nước thì đều có cái thù chung là bọn cướp nước. Vì vậy theo quan điểm của Bác "dù có cái thù hiềm riêng cũng phải bỏ hết. Bỏ thù riêng để trả thù chung, đó là thực hiện đoàn kết rộng rãi và giành thắng lợi".

          Cái hạt nhân hợp lý trong quan điểm của Bác Hồ chính là ở chỗ trên cơ sở nắm vững những vấn đề có tính nguyên tắc, phương pháp luận trong học thuyết Mác-Lênin, nhuần nhuyễn quan điểm giai cấp công nhân, Người hiểu rất rõ thực tế Việt Nam. Không nghiên cứu công việc thực tế, kinh nghiệm thực tế, chỉ đơn thuần lý luận hoặc đơn thuần lý luận đấu tranh giai cấp thì sẽ không bao giờ có Mặt trận dân tộc thống nhất đoàn kết rộng rãi đúng nghĩa ở Việt Nam. Bác viết: "Nghe người ta nói giai cấp đấu tranh, mình cũng ra khẩu hiệu giai cấp đấu tranh, mà không xét hoàn cảnh nước mình như thế nào để làm cho đúng".

          Từ khi nước ta trở thành thuộc địa Pháp, trên cơ sở phân tích cấu trúc kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của giai cấp, tầng lớp trong xã hội Việt Nam, Bác Hồ đã chỉ ra ở nước ta tồn tại hai mâu thuẫn giữa giai cấp nông dân Việt Nam với giai cấp địa chủ phong kiến, trong đó mẫu thuẫn thứ nhất vừa cơ bản, vừa chủ yếu. Toàn thể dân tộc Việt Nam phải bền lòng, đồng minh - ra sức đánh thực dân cướp nước, giải phóng dân tộc.

          Cách nhìn nhận và phân tích có tính khoa học, hợp lý hợp tình đó, là cơ sở để Bác Hồ mạnh dạn phê phán quan điểm giai cấp đơn thuần, cứng nhắc, không phân biệt rõ đâu là vấn đề xuất thân, đâu là lập trường giai cấp công nhân. Mà nếu không xác định và phân biệt rõ điều này thì cũng không bao giờ có thể đoàn kết được rộng rãi theo tinh thần "ai có tài, có đức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ". Bác viết: "Địa chủ cũng có đôi người làm cách mạng... Họ tuy là người trong giai cấp công nhân.. Vấn đề xuất thân có quan hệ thật, nhưng nếu xuất thân là địa chủ mà đứng về phía nông dân, thì không phải là địa chủ nữa".

          Đó chính là chủ nghĩa Mác-Lênin được vận dụng đúng đắn vào thực tế Việt Nam. Bởi vì chủ nghĩa Mác-Lênin dạy chúng ta rằng: muốn làm cách mạng thắng lợi thì phải phân biệt rõ ai là bạn ai là thù, phải thực hiện thêm bầu bạn, bớt kẻ thù. Chủ nghĩa Mác-Lênin còn dạy chúng ta rằng: trong khi dựa vào lý luận chung, những người cộng sản phương Đông phải thích ứng với những điều kiện riêng biệt mà các nước châu Âu không có. Bác Hồ đã khai thác triệt để và hoàn toàn hợp lý quan điểm này trong khi triển khai chiến lược đại đoàn kết. Người cho rằng cuộc đấu tranh giai cấp ở các nước phương Tây. Và chủ nghĩa dân tộc là động lực của đất nước. Chủ nghĩa dân tộc nói ở đây là chủ nghĩa dân tộc chân chính. Mà đã là chủ nghĩa dân tộc chân chính thì nó là một bộ phận và nhất định sẽ biến thành chủ nghĩa quốc tế. Và như vậy không chỉ đơn thuần là đoàn kết trong phạm vi dân tộc, mà còn mở rộng ra phạm vi quốc tế.

          Nói tóm lại, để thực hiện được chiến lược đại đoàn kết, trước hết là đoàn kết dân tộc, với ý nghĩa vừa là nhân vừa là quả của công tác dân vận, thời nào cũng vậy, phải tìm được mẫu số chung của toàn dân tộc. Mẫu số chung này không nằm ở đâu xa mà hiện hữu trong sự thống nhất với tính đa dạng của nền văn hóa dân tộc. Nước ta có 54 dân tộc anh em, nhưng do sự gắn bó lâu đời trong một quốc gia thống nhất, do yêu cầu chống thiên tai, chống ngoại xâm và do sự giao lưu hội nhập văn hóa, cả cộng đồng dân tộc Việt Nam vẫn có mẫu số chung của một nền văn hóa thống nhất, một ý thức chung về đại nghĩa dân tộc, về vận mạng cộng đồng. Trước đây, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, mẫu số chung đó là quyết giành cho kỳ được độc lập tự do, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập tự do, xây dựng một nước dân chủ và giàu mạnh. Ngày nay, dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh và lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng, Đảng ta khẳng định: "Phát huy sức mạnh của cả cộng đồng dân tộc, truyền thống yêu nước, ý chí tự lực tự cường và lòng tự hào dân tộc, lấy mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh làm điểm tương đồng; tôn trọng những ý kiến khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc, xóa bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử về quá khứ, giai cấp, thành phần, xây dựng tinh thần cởi mở, tin cậy lẫn nhau, hướng tới tương lai".














Một số luận điểm về đoàn kết quốc tế Hồ Chí Minh
TS. Ngô Văn Khoa
Đại học Sư phạm Hà Nội
Tư tưởng đoàn kết quốc tế Hồ Chí Minh là nội dung rất lớn và quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Dưới đây tôi chỉ đề cập đến một số luận điểm lớn.
Tháng 9-1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta, triều đình nhà Nguyễn chống cự yếu ớt dần dần đi đến đầu hàng, nhưng nhân dân Việt Nam không chịu khuất phục đã nổi dậy đấu tranh quyết liệt chống lại bọn cướp nước và bè lũ bán nước. Song tất cả các phong trào đấu tranh của nhân dân ta đều bị thất bại. Nguyên nhân chủ yếu là do chưa có đường lối đúng đắn của giai cấp tiên tiến lãnh đạo. Hầu hết các phong trào dân tộc nổi lên lẻ tẻ từng địa phương, từng vùng với mục tiêu khẩu hiệu mang nặng màu sắc phong kiến hoặc tư sản, tiểu tư sản. Chính trong bối cảnh ấy, Hồ Chí Minh đã đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi cách mạng Việt Nam.
Tháng 6-1911, Hồ Chí Minh đã ra đi tìm đường cứu nước. Khác với mục đích "cầu viện" dựa vào sự giúp đỡ nước ngoài để đánh Pháp giành độc lập cho dân tộc như Phan Bội Châu và một số nhà yêu nước khác. Với Hồ Chí Minh, như Người đã nói: "Tôi muốn đi ra ngoài xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm thế nào tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta".. Như vậy là không phải với mục đích "cầu viện" mà là trên cơ sở nhận thức được thời đại mới được mở đầu bằng Cách mạng Tháng Mười Nga 1917, là quá trình vận động kiểm nghiệm gần 10 năm, bằng thiên tài trí tuệ của mình, vượt qua sự hạn chế của chủ nghĩa yêu nước của các sĩ phu và các nhà cách mạng có xu hướng đương thời, Người đã sớm đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, ánh sáng soi đường cho các dân tộc bị áp bức.
Hồ Chí Minh là người đầu tiên đã gắn phong trào cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới đưa nhân dân ta đi đúng quỹ đạo của thời đại. Người chỉ rõ: "Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản"; xác định rõ các mối quan hệ mới của cách mạng Việt Nam: quan hệ với cách mạng vô sản, quan hệ với phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, phụ thuộc.
Theo Người, muốn thực hiện đoàn kết quốc tế điều đầu tiên là phải xác lập vị trí của Việt Nam trên trường quốc tế. Mỗi một quốc gia, dân tộc không thể phát triển được nếu như không mở rộng quan hệ với thế giới bên ngoài. Vậy muốn quan hệ được trước hết phải làm cho thế giới hiểu biết Việt Nam. Vì lúc này, thực dân Pháp đã bưng bít, xóa tên Việt Nam trên bản đồ thế giới.
Năm 1919, Nguyễn ái Quốc đã gửi đến Hội nghị "hòa bình" Vecxây "bản yêu sách của nhân dân An Nam" trong đó có điểm yêu sách là: Người Việt Nam có quyền tự do xuất ngoại và đi du lịch nước ngoài. Phải nói đây là lần đầu tiên Nguyễn ái Quốc xuất hiện trên vũ đài quốc tế và Người đã sát cánh cùng các dân tộc bị áp bức đấu tranh cho sự bình đẳng, hợp tác quốc tế.
Sự kiện này đã gây tiếng vang lớn, hướng sự chú ý của thế giới vào Việt Nam. Qua việc đưa yêu sách không chỉ Pháp, các nước tham dự hội nghị và nhiều nước khác đã biết đến Việt Nam. Cũng từ đây đã làm cho vị trí Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng củng cố và phát triển. Chính Hồ Chí Minh là người đã mở cửa Việt Nam ra thế giới đặt nền móng cho mối quan hệ đoàn kết quốc tế.
Từ rất sớm Người đã tìm thấy một trong những nguyên nhân dẫn đến thất bại của phong trào Việt Nam trước khi Đảng ra đời là "nhân dân ta không hiểu tình hình thế giới". Người còn chỉ rõ tình hình biệt lập, khép kín không chỉ xảy ra ở Việt Nam mà còn là tình trạng chung của những nước phương Đông. Những nhận thức trên rút ra từ quá trình gần 10 năm vận động, kiểm nghiệm trên nhiều nước. Năm 1924 trong thư gửi đại diện quốc tế cộng sản, Hồ Chí Minh nêu: "Tôi đã ngẫm nghĩ từ lâu về nguyên nhân đầu tiên đã dẫn tới sự suy yếu của các dân tộc phương Đông đó là sự biệt lập". Ngoài nhận thức trên, Người cũng đã sớm xác định, cuộc đấu tranh của chúng ta là bộ phận của cách mạng thế giới. Như vậy, từ lời phát biểu đầu tiên tại Đại hội Tua (12-1920) trở về sau, Người luôn khẳng định cuộc cách mạng của các dân tộc bị áp bức đều có quan hệ với nhau.
Thứ hai, tư tưởng đoàn kết quốc tế Hồ Chí Minh đòi hỏi phải định rõ đoàn kết với ai, chống lại ai, đây là vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt ảnh hưởng trực tiếp đến thắng lợi của cách mạng.
Như ta đều biết, trong quá trình tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã đi nhiều nước thuộc địa cũng như nhiều nước tư bản chủ nghĩa. Người đã chứng kiến cảnh cùng cực, khốn cùng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động đồng thời cũng thấy rõ cảnh sống xa hoa của bọn tư sản. Từ đó Người đã đưa ra kết luận quan trọng: ở đâu, dù ở các nước thuộc địa, phụ thuộc hay chính quốc, những người lao động đều bị bóc lột, áp bức nặng nề, ở đâu bọn đế quốc thực dân cũng tàn bạo độc ác. Người nêu ra: "Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một mối tính hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản". Kết luận trên cực kỳ quan trọng, đây là khởi đầu của tư tưởng đoàn kết quốc tế Hồ Chí Minh - đoàn kết với những người lao khổ, cần lao trên thế giới.
Từ kết luận trên, Người đã phân biệt rõ hơn bọn thực dân đế quốc với nhân dân lao động ở chính quốc. Người nêu lên: thực dân đế quốc là kẻ thù chung của nhân dân thuộc địa và cũng là kẻ thù của nhân dân lao động chính quốc. Bởi vậy, đòi hỏi sự đoàn kết liên minh nhân dân lao động ở thuộc địa và chính quốc để chống lại kẻ thù chung. Trong lời kêu gọi nhân dân các nước thuộc địa Pháp, Người đã nêu: "Những người gây ra sự lầm than cho các bạn và giữ các bạn trong cảnh khổ đó để lợi dụng chỉ là một số ít, chúng có quyền hành vì chúng giàu. Chúng tôi là số đông và đang đấu tranh chống lại chúng vì chúng tôi cũng như các bạn là nạn nhân của sự tàn bạo của chúng, mối quan hệ giữa chúng tôi với các bạn, sẽ là những mối quan hệ đoàn kết và liên minh". Trong Tuyên ngôn của Hội Liên hiệp thuộc địa Người nêu: "Hỡi các bạn bị áp bức ở chính quốc! Giai cấp tư sản trong nước các bạn đã lừa dối các bạn, dùng các bạn làm công cụ đi xâm lược đất nước chúng tôi. Ngày nay, vẫn dùng các chính sách quỷ quyệt ấy, giai cấp tư sản nước các bạn lại định dùng chúng tôi để đàn áp mọi cố gắng tự giải phóng của các bạn. Đứng trước chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc quyền lợi của chúng ta là thống nhất, các bạn hãy nhớ lời kêu gọi của Các Mác: "Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại". Nguyễn ái Quốc đã nêu lên hình tượng chủ nghĩa tư bản là con đỉa hai vòi. Một vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc, một vòi bám vào giai cấp vô sản ở thuộc địa. Muốn giết con vật ấy, phải đồng thời cắt cả hai vòi, nếu chỉ cắt một vòi thì vòi còn lại tiếp tục hút máu và vòi bị cắt tiếp tục mọc ra. Điều đó cho chúng ta thấy nhiệm vụ chống chủ nghĩa tư bản đánh đổ chúng là nhiệm vụ của nhân dân lao động chính quốc và thuộc địa. Nhiệm vụ đó đòi hỏi phải đoàn kết cả hai lực lượng nói trên.
Về sự liên minh đoàn kết đấu tranh của nhân dân lao động ở các nước thuộc địa, phụ thuộc, Nguyễn ái Quốc chỉ rõ: chủ nghĩa đế quốc hiện tại đặt nền móng trên sự bóc lột hàng triệu người lao động ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa. Bởi thế, nó chỉ tan rã hoàn toàn và vĩnh viên khi nào chúng ta phá bỏ được nền móng đó của lâu đài đế quốc chủ nghĩa. Vì lẽ đó, các nước thuộc địa và phụ thuộc muốn được giải phóng khỏi ách áp bức bóc lột của chủ nghĩa tư bản thì chỉ bằng cách đoàn kết chặt chẽ để chống kẻ thù chung.
Là người dân thuộc địa Người thấy được khả năng tiềm tàng tin tưởng vào sức mạnh đoàn kết của các dân tộc thuộc địa và tin tưởng vào thắng lợi của cuộc đấu tranh của họ.
Thứ ba, nhiệm vụ của các Đảng Cộng sản và công nhân ở chính quốc. Để thực hiện sự đoàn kết giữa nhân dân lao động chính quốc và nhân dân lao động thuộc địa, Nguyễn ái Quốc đòi hỏi các Đảng Cộng sản và giai cấp công nhân ở chính quốc phải có hiểu biết đúng về thuộc địa và có sự giúp đỡ thiết thực đối với những người anh em thuộc địa. Trên tinh thần đó, Người đã nghiêm khắc phê phán một số Đảng Cộng sản chưa có chính sách và hành động tích cực giúp đỡ các thuộc địa.
Thứ tư, xác định lập trường của đoàn kết quốc tế. Theo Hồ Chí Minh, muốn xây dựng được khối đoàn kết quốc tế phải dựa trên cơ sở chủ nghĩa Mác-Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản. Ngay từ năm 1923, Người đã chỉ ra: "Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm vui hòa bình hạnh phúc, tóm lại là nền cộng hòa thế giới chân chính, xóa bỏ những biên giới tư bản chủ nghĩa cho đến nay chỉ là những vách tường dài ngăn cách những người lao động trên thế giới hiểu nhau và yêu thương nhau". Như vậy, chỉ có đứng trên lập trường chủ nghĩa Mác-Lênin thì mới đảm bảo sự đoàn kết thực sự chân chính.
Thứ năm, tư tưởng đoàn kết quốc tế Hồ Chí Minh còn chỉ ra những điều kiện, nguyên tắc, hình thức tập hợp lực lượng. Muốn thực hiện được đoàn kết quốc tế phải có chính Đảng Cộng sản của giai cấp công nhân lãnh đạo. Bởi lẽ, chỉ có Đảng mới vạch ra được đường lối và có khả năng tập hợp lực lượng, chịu trách nhiệm thực hiện được đoàn kết rộng rãi lực lượng trong nước cũng như quốc tế. Làm được điều đó, vì Đảng được vũ trang bằng lý luận khoa học tiên tiến nhất, đó là chủ nghĩa Mác-Lênin. Xem xét đối tượng đoàn kết quốc tế Hồ Chí Minh xác định rất rõ ràng. Đó là các lực lượng phong trào cộng sản và công nhân quốc tế; lực lượng phong trào giải phóng dân tộc và bảo vệ độc lập dân tộc; phong trào hòa bình và tiến bộ trên thế giới. Tư tưởng đoàn kết quốc tế Hồ Chí Minh không những để giải phóng dân tộc mình mà còn giải phóng cho các dân tộc bị áp bức mang lại tự do bình đẳng thật sự cho dân tộc quốc tế. Bởi vậy, đòi hỏi phải tuân thủ nguyên tắc bình đẳng và cùng có lợi. Thực hiện nguyên tắc này sẽ giúp chúng ta giải quyết nhiều mối quan hệ chồng chéo phức tạp để đi đến đoàn kết, đó là giữa các Đảng Cộng sản với nhau, giữa dân tộc này với dân tộc khác...
Để có được đoàn kết quốc tế phải thông qua hoạt động thực tiễn và gắn liền với các hình thức tổ chức thích hợp nhằm tập hợp lực lượng. Chính vì lẽ đó trong thời gian ở nước ngoài Người đã tham gia tích cực phong trào cách mạng của công nhân Anh, Pháp, Nga, Trung Quốc... từng bước xây dựng nhiều tổ chức quốc tế như: Hội Liên hiệp thuộc địa (1921), Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở á Đông (1925)... là nhà cách mạng hoạt động tích cực trong Đảng Cộng sản Pháp, Quốc tế III, các Quốc tế Nông dân, Thanh niên, Phụ nữ... thường xuyên mở rộng với nhiều chính khách, các nhà hoạt động xã hội... tất cả mọi hoạt động nói trên của Người đều hướng vào mục tiêu thêm bạn cho cách mạng Việt Nam.
Thứ sáu, mối quan hệ dân tộc và quốc tế. Nhận thức đúng đắn thời đại mới - thời đại cách mạng vô sản, từ rất sớm Hồ Chí Minh đã xác định cách mạng Việt Nam là bộ phận của cách mạng thế giới; cách mạng Việt Nam chỉ thắng lợi một khi nó hòa chung vào làn gió thời đại, hòa chung vào dòng chảy tiến trình phát triển của nhân loại. Cách mạng Việt Nam phải có trách nhiệm và bước phát triển chung của nhân loại. Muốn góp phần vào bước tiến của cách mạng thế giới, cách mạng mỗi nước nói chung, cách mạng Việt Nam nói riêng phải hoàn thành tốt những yêu cầu của cách mạng nước mình. Việc kết hợp giữa dân tộc và quốc tế trước hết là phục vụ mục tiêu độc lập tự do cho Tổ quốc.
Trên đây là một số luận điểm về đoàn kết quốc tế Hồ Chí Minh. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam Đảng ta đã vận dụng và phát triển và đã trở thành một trong những nhân tố dẫn đến thắng lợi của cách mạng Việt Nam.




Theo ngọn cờ đoàn kết của Hồ Chí Minh
. PGS. TS. Mạch Quang Thắng
1.                 Đoàn kết vì đại nghĩa của dân tộc.
Trong cuộc sống của một cộng đồng dân tộc có rất nhiều mối quan hệ phong phú, đan chéo nhau. Bóc tách ra một cách tương đối, chúng ta thấy có những "cặp" như: cá nhân - tập thể; gia đình - xã hội; bộ phận - toàn thể; giai cấp - dân tộc; quốc gia - quốc tế... Giữa các cặp quan hệ đó đều có hai mặt: thống nhất và mâu thuẫn. Hồ Chí Minh bao giờ cũng chú trọng nhân lên sự thống nhất trong các mối quan hệ đó.
Một quan điểm lớn trong tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh là: Tổ quốc trên hết. Người chú ý phát huy chữ "đồng" để giải quyết những yếu tố khác biệt. Khi đề cập các mối quan hệ, nhất là mối quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng dân tộc, Hồ Chí Minh trước hết nói đến sự gắn bó, thống nhất, nhưng nếu có mâu thuẫn thì quan điểm nhất quán của Người là phải hy sinh lợi ích của cá nhân cho lợi ích chung của Tổ quốc. Điều này được thể hiện ở cả thời chiến lẫn thời bình. Trong thời bình, lợi ích (nhất là lợi ích vật chất) được đặt ra trước tất cả mọi người và có sức tác động lớn.
 Mất đoàn kết là mất tất cả! ở nơi nào mất đoàn kết thì ở đấy bầu không khí chính trị - xã hội bị ô nhiễm với các biểu hiện: sự nghi kỵ, chia bè cánh, có tình trạng đấu đá, lật đổ, sự thật bị bóp méo, trắng đen lẫn lộn, công việc bê trễ, v.v.. Chỉ một đoạn ngắn sau đây mà Hồ Chí Minh đã 6 lần lặp lại hai chữ "đoàn kết": "Đoàn kết là lực lượng mạnh nhất của chúng ta. Chúng ta phải đoàn kết rộng rãi và chặt chẽ. Đoàn kết giữa Chính phủ và nhân dân. Đoàn kết giữa các tầng lớp trong nhân dân với nhau. Đoàn kết giữa đồng bào toàn quốc, từ Bắc chí Nam... Đoàn kết chặt chẽ lực lượng trong nước và ngoài nước, chúng ta nhất định khắc phục được mọi khó khăn một cách thắng lợi" (Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.7, Nxb CTQG,H., 1996, tr.364). Trong Di chúc, ở đoạn ngắn viết về Đảng, Hồ Chí Minh cũng đã nhắc đi nhắc lại 5 lần chữ "đoàn kết" (Sđd, t.12, tr. 497).
Không thể có đoàn kết khi không có những điểm tương đồng, không có "mẫu số chung". Ngọn cờ đại nghĩa Hồ Chí Minh được giương lên để tập hợp sức mạnh của toàn dân là bởi những điểm tương đồng đó. Người cho rằng: để dẫn dắt nhân dân làm nên một sự nghiệp vĩ đại cần phải có một sức lãnh đạo, sức lãnh đạo đó không phải chỉ có một vài người thôi mà phát sinh ra từ sự hiệp lực của nhiều người. Muốn cho mọi người đoàn kết chặt chẽ với nhau thì họ phải cùng một lý tưởng và ý chí, họ phải nuôi một kỳ vọng giống nhau. Khi nào có cùng một ý chí, cùng kỳ vọng thì khi ấy mới có đoàn kết, bằng không thì dẫu có hô hào đoàn kết mấy đi nữa cũng không thể nào đoàn kết được.
Điểm tương đồng, "mẫu số chung" của dân tộc là "Không có gì quý hơn độc lập, tự do", là xây dựng một đất nước hùng cường, là hòa bình, thống nhất, độc lập, dân, chủ và giàu mạnh, v.v.. Đó chính là điểm quy tụ là Bác Hồ luôn để tâm đến, dẫn dắt mọi người đi theo đấu tranh thực hiện cho kỳ được. Chính vì thế mà Hồ Chí Minh đã quy tụ được tuyệt đại đa số nhân dân vào mặt trận dân tộc thống nhất. Trong mặt trận ấy, quyền của mỗi cá nhân, quyền của mỗi cộng đồng đều được đặt vào trong quyền lợi tối cao của dân tộc.
Mặt trận Việt Minh là minh chứng tuyệt đẹp đầu tiên thể hiện tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh vì đại nghĩa của dân tộc. Đảng và Bác Hồ đã nêu lên điểm tương đồng, vì đại nghĩa của dân tộc: nếu không giành được độc lập dân tộc thì quyền lợi của giai cấp vạn năm cũng không đòi lại được. Cũng vì đại nghĩa của dân tộc mà Hồ Chí Minh đã phát động cuộc kháng chiến toàn dân: "Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gốc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước" (Sđd. t.4, 1995, tr. 480).
Vì đại nghĩa dân tộc mà Hồ Chí Minh, với tấm lòng độ lượng, kêu gọi tất cả mọi người, bất kể có quá khứ ra sao, đứng vào mặt trận xây dựng chế độ mới. Đương nhiên, ngoài mục tiêu chung, ngoài điểm tương đồng, còn có tấm lòng chân thành, đại nghĩa cũng như uy tín của cá nhân Hồ Chí Minh. Đứng dưới ngọn cờ đại nghĩa của Hồ Chí Minh, ai cũng thấy yên tâm, tự hào vì đã góp sức mình cho Tổ quốc. Chính vì vậy mà Hồ Chí Minh đã giác ngộ được rất nhiều người từ bỏ mặc cảm, chính kiến, từ bỏ cả vinh hoa phú quý, không ngại gian khổ với mục đích cao đẹp là phục vụ lợi ích tối cao của dân tộc, của cách mạng.
Tấm lòng Bác Hồ là như vậy, không gợn chút riêng tư, tất cả vì quyền lợi của dân tộc, gạt bỏ những dây dợ cá nhân vướng víu dưới chân mình. Người chỉ nghĩ đến Tổ quốc, đến đồng bào, để lại một sự nghiệp mà bất cứ người Việt Nam có lương tri nào cũng phải ngưỡng mộ và muốn học tập. Hồ Chí Minh đã truyền cho Đảng ta một chiến lược: chiến lược đi vào lòng người, tất cả vì hạnh phúc của con người, vì độc lập, tự do cho Tổ quốc Việt Nam.
2.                 Công - nông - trí là nền tảng của khối đại đoàn kết dân tộc
Đoàn kết ở mọi lúc, mọi nơi, đoàn kết thật rộng rãi, biên độ tập hợp mọi người đoàn kết mở hết cỡ có thể được - đó là quan điểm của Hồ Chí Minh. Chẳng thế mà Bác Hồ đã đề cập phạm vi "đồng bào", "con Rồng, cháu Tiên", nghĩa là mượn hình tượng Mẹ Âu Cơ để "quy nạp" vào phạm vi tối đa cần phải tập hợp. Có người tham gia cách mạng trên chiến khu Việt Bắc rất ngại mình có thành phần xuất thân từ gia đình quan lại phong kiến thì Bác giải tỏa tâm lý: "Con quan thì tốt chứ sao! Bác cũng là con quan đây". Có người là địa chủ, là tư sản, Bác khuyến khích họ tham gia kháng chiến. Thậm chí, có người làm quan trong chế độ cũ, nhưng cũng có thể cải tạo đi theo cách mạng. Chúng ta có lúc thật ngỡ ngàng với cái "biên độ" tập hợp lực lượng đó của Hồ Chí Minh. Dưới khối đoàn kết ấy, mọi người dân Việt Nam yêu nước, dù có quá khứ ra sao, thành phần xuất thân như thế nào đều cảm thấy hòa hợp. Như vậy, lực lượng cách mạng, theo đúng tư tưởng Hồ Chí Minh, là những chuỗi số ngày một gia tăng chứ không phải là giảm đi.

          Với "biên độ" như vậy, đã có người lo lắng cho "lập trường giai cấp" của Bác. Nhưng, Hồ Chí Minh quan niệm về cái nền, cái nhân, cái lõi của biên độ ấy rất chắc: đó là liên minh giữa giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức (gọi tắt là công - nông - trí). Quan điểm về liên minh công - nông - trí của Bác Hồ đã ghi đậm trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng ngày 3-2-1930 và sau này được nhắc lại trong nhiều văn kiện. Đây là một điểm sáng tạo của Hồ Chí Minh so với học thuyết Mác - Lê-nin, vì học thuyết này chỉ đề cập liên minh công -- nông, chứ không đề cập "trí".
Chúng ta có thể làm phép so sánh. Phong kiến Việt Nam cũng theo quan điểm nho giáo của trung Quốc chia xã hội thành hai loại người là tiểu nhân và quân tử. Trong quân tử không có người lao động chân tay và tầng lớp phụ nữ - những người bị nho giáo khinh rẻ và xếp vào "tiểu nhân", "dân ngu khu đen". Còn quân tử, theo nho giáo, gồm các quan lại, trí thức phong kiến, những quan "phụ mẫu" chăn dắt dân. Phong kiến Việt Nam dù sao cũng có những yếu tố tiến bộ khi tiếp thu nho giáo gốc ở Trung Quốc. Những lúc bị xâm lăng thì người lao động chân tay - chủ yếu là nông dân - không bị coi rẻ nữa mà được "khoan thư sức dân", được coi là lực lượng ,"chở thuyền và lật thuyền", là những ngưới "áo vải cờ đào" đứng trong đội quân chủ lực ra trận đánh quân thù. Nhưng, nói chung, nòng cốt của xã hội, "những người làm nên lịch sử", không được phong kiến Việt Nam coi là nhân dân lao động, mà lại là vua quan, trí thức phong kiến.
          Những người theo tư tưởng tư sản ở Việt Nam quan niệm về dân có tiến bộ hơn. Chẳng hạn, Cụ Phan Bội Châu, trong chủ trương tập hợp lực lượng cách mạng, nêu lên 10 lực lượng như sau: 1) Phú hào; 2) Quý tộc; 3) Sĩ phu; 4) Lính tập, 5) Tín đồ Thiên Chúa giáo; 6) Du đồ hội đảng; 7) Nhi nữ anh sĩ; 8) Thông ngôn; 9) Ký lục; 10) Bồi bếp. Tiến bộ hơn vì cũng đã có binh lính (là những người nông dân mặc áo lính); nhân dân theo đạo Thiên Chúa; phụ nữ,... Kể ra thì có nhiều lực lượng nhưng vẫn thiếu, mà lại thiếu hai lực lượng cơ bản nhất của xã hội Việt Nam đầu thế kỷ 20 là nông dân và công nhân. Đầu thế kỷ, công nhân Việt Nam đã có, tuy không nhiều, và nó ngày một phát triển do chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp. Có thể Cụ Phan Bội Châu lúc đầu chưa nhận ra, nhưng nông dân Việt Nam thì ở đâu mà chẳng có, mà có rất đông, khoảng 95% dân số. Về cuối đời, Phan Bội Châu đã kịp nhận ra sức mạnh của công nông, nhưng Cụ đã ở vào thế sức tàn lực kiệt. Lúc ấy, trách nhiệm lịch sử giương cao ngọn cờ cứu nước đã chuyển sang những chiến sĩ theo lập trường cách mạng vô sản mà Bác Hồ đã đào tạo, bồi dưỡng.
Hồ Chí Minh đã thấy rất rõ vai trò cực kỳ to lớn của giai cấp công nhân Việt Nam. Nó tuy ít về số lượng và công nhân đại công nghiệp, đại cơ khí theo quan niệm của C.Mác lại càng ít, nhưng có đầy đủ những phẩm chất cần có để đóng vai trò quân chủ lực và là người lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Bác Hồ thấy rõ sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam là người chịu trách nhiệm lãnh đạo cách mạng Việt Nam đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng một nước Việt Nam mới. Xin nhấn mạnh là Bác thấy rõ điều đó không chỉ qua lý luận Mác - Lê-nin mà còn qua sự cảm nhận trực tiếp của bản thân mình khi trở thành người thợ, người làm thuê trong những năm ở châu Âu, châu Mỹ. C.Mác và gia đình của ông đã trải qua những thời kỳ khốn khó khi bị trục xuất, khi bị đói kém, khi con cái bị chết... Còn Ph.Ăng-ghen khi viết tác phẩm nổi tiếng Tình cảnh giai cấp công nhân Anh thì bản thân ông không bị lâm vào hoàn cảnh nghèo khó. V.I.Lê-nin, tuy có cuộc đời gian nan nhưng chưa lâm vào hoàn cảnh của người thợ bị bóc lột. Đặc biệt thay, Bác Hồ của chúng ta chủ động, tự nguyện dấn thân vào hàng ngũ của những người thợ, một người trí thức dám chấp nhận gian nan, khổ ải, chối từ con đường giàu sang phú quý để sang Pháp và các nước khác ở Âu, Mỹ lao động chân tay: làm thủy thủ mà việc cụ thể là đốt lò, tạp vụ... trên tàu; cào tuyết, bồi bàn trong khách sạn; sửa ảnh; vẽ thuê đồ gốm sứ; v.v.. Như vậy là Bác đã cảm nhận được trực tiếp thân phận cũng như sức mạnh của những người lao động làm thuê khi được giác ngộ, được tổ chức lại.
Hồ Chí Minh cũng thấy rất rõ vai trò và sức mạnh của giai cấp nông dân Việt Nam. Điều này thì quá rõ, bởi vì Người xuất thân từ gia đình trí thức phong kiến gắn với lao động nông nghiệp (làm ruộng, dệt vải). Đây là nét thường thấy trong hầu hết các gia đình nhà nho ở Việt Nam. Người còn cảm nhận trực tiếp về đời sống, tâm tư và sức mạnh của nông dân. Bản thân Người đã trực tiếp tham gia các cuộc biểu tình đấu tranh của nông dân Thừa Thiên - Huế chống thuế năm 1908.
Hồ Chí Minh còn thấy rõ vai trò của tầng lớp trí thức Việt Nam ở một nước thuộc địa nửa phong kiến và trong điều kiện một nước nghèo, kém phát triển. Họ là tầng lớp rất nhạy cảm với thời cuộc và cũng xuất thân từ những gia đình lao động. Giữa họ với những người lao động không khác nhau là bao và, có thể nói, Bác Hồ là hình ảnh điển hình của mẫu người này.
Nhưng, đứng riêng thì sức mạnh của các giai cấp, tầng lớp đó không được phát huy một cách tốt nhất. Sức mạnh đó chỉ được phát huy khi nằm trong khối đại đoàn kết toàn dân, nhất là trong khối liên minh công - nông - trí. Có thể nói, khối liên minh này ở Việt Nam là cái nền chắc chắn nhất cho chiến lược đại đoàn kết dân tộc. Trong khối liên minh đó, giai cấp công nhân - với đội tiên phong của nó là Đảng Cộng sản Việt Nam - có vai trò lãnh đạo. Trong Mặt trận, Đảng phải tránh khuynh hướng cô độc, hẹp hòi, đồng thời tránh đoàn kết một chiều; nghĩa là phải bảo đảm cả tính rộng rãi và tính vững chắc của khối đại đoàn kết. Đó là hai mặt của một vấn đề có tính nguyên tắc.
3. Đoàn kết lâu dài, thủy chung, chân thành
Muốn cách mạng thành công thì phải có lực lượng. Lực lượng cách mạng lấy từ sức mạnh đoàn kết của nhân dân. Hồ Chí Minh đã đưa ra thông điệp về tình đoàn kết lâu dài, thủy chung, chân thành. Bản thân Bác Hồ là hiện thân của lòng chân thành trong tất cả các mối quan hệ ứng xử với những người chung quanh. Vì chân thành nên Hồ Chí Minh mới cảm hóa, thuyết phục được nhiều người đi theo cách mạng. Thực tế đã cho thấy có người đến với cách mạng là bởi cảm phục cá nhân con người Hồ Chí Minh.

Đoàn kết chân thành sẽ dẫn đễn thủy chung, lâu dài. Người ta không thể đi với cách mạng khi thấy sự bấp bênh, lỏng lẻo trong khối đoàn kết. Trong từng thời kỳ cách mạng, trước những yêu cầu, nhiệm vụ khác nhau, có thể có sự điều chỉnh trong phương pháp chỉ đạo, tổ chức, bố trí lực lượng, nhưng đại đoàn kết là vấn đề bất di, bất dịch.

ở đây liên quan đến vấn đề đấu tranh giai cấp. Làm thế nào để giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh giai cấp mà vẫn giữ được khối đại đoàn kết toàn dân? Trước khi cải cách ruộng đất, Bác chủ trương giảm tô, kêu gọi địa chủ hiến ruộng. Đến lúc cải cách ruộng đất thì chuyển địa chủ thành những người lao động bằng cách tịch thu, trưng thu ruộng đất của họ chia cho những nông dân thiếu ruộng hoặc không có ruộng, chỉ để lại cho họ phần ruộng đất, tài sản nhất định để họ tự lao động bảo đảm cuộc sống. Bằng cách này, giai cấp địa chủ bị "xóa sổ" với tư cách là những người bóc lột. Đó là "đấu tranh giai cấp" kiểu mà Hồ Chí Minh quan niệm. Rất tiếc, trong quá trình thực hiện, nhiều nơi ở miền bắc nước ta đã phạm phải sai lầm kéo dài và nghiêm trọng. Còn đối với tư sản dân tộc, Hồ Chí Minh chủ trương cải tạo hòa bình, biến những tư sản dân tộc thành người lao động, duy trì các thành phần kinh tế, kể cả thành phần kinh tế tư nhân và công tư hợp doanh... để phát huy khả năng tổ chức quản lý và vốn của họ, v.v.. Người cho rằng, chính sách của Chính phủ là: công tư đều lợi, công nông giúp nhau, lưu thông trong ngoài. "Công" tức là kinh tế quốc doanh và là nền tảng lãnh đạo kinh tế. "Tư" là kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế cá thể của nông dân và thủ công nghiệp. Bác phát biểu về quan hệ chủ thợ: "Nhà tư bản thì không khỏi bóc lột. Nhưng Chính phủ ngăn cấm họ bóc lột công nhân quá tay. Chính phủ phải bảo vệ lợi quyền của công nhân. Đồng thời, vì lợi ích lâu dài, anh chị em thợ cũng để cho chủ được số lợi hợp lý, không yêu cầu quá mức". Người nói tiếp: "Chủ và thợ đều tự giác tự động, tăng gia sản xuất lợi cả đôi bên" (Sđd , t.7, tr.222).

Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Hồ Chí Minh đã phê phán kiểu đấu tranh giai cấp giáo điều: thấy người ta nói đấu tranh giai cấp mình cũng nói đấu tranh giai cấp mà không tính đến đặc điểm của nước ta! (Xem: Sđd, t.5, 1995, tr.272). Làm cho những người thuộc giai cấp bóc lột đi theo công nhân, đi theo Đảng - đó thực sự là "đấu tranh giai cấp" kiểu Hồ Chí Minh. Đoàn kết trên cơ sở bảo đảm lợi ích cho mọi thành viên, đó là đoàn kết thủy chung, lâu dài và chân thành nhất. Bác Hồ luôn nhất quán như vậy.

Sự nghiệp CNH,HĐH đang thực hiện ở nước ta hiện nay rất cần sức mạnh đại đoàn kết. Trong hành trang mà Đảng và nhân dân ta tiến vào thế kỷ 21 có tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết, có ngọn cờ mà Người đã giương cao, tập hợp được các lực lượng, phát huy được sức mạnh của cả dân tộc và thời đại.










Thực hiện những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh
về đại đoàn kết toàn dân tộc
Nguyễn Thạc Hân
Ban Dân vận Trung ương
Chủ tịch Hồ Chí Minh, anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá lớn, người sáng lập, rèn luyện Đảng ta, luôn chăm lo xây dựng củng cố phát triển khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đó là chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh.
Trước hết Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định nhân dân ta vốn có lòng yêu nước nồng nàn và đoàn kết chặt chẽ, đấu tranh anh dũng để bảo vệ và củng cố độc lập dân tộc. Truyền thống ấy đã trở thành thuần phong mỹ tục của dân tộc.Trong bài nói chuyện với đại biểu nhân dân Thanh Hoá ngày 13-6-1957, Người nhấn mạnh: "Cần xây dựng và phát triển thuần phong, mỹ tục. Các đồng chí nước bạn sang ta nói nhân dân Việt Nam rất cần cù, giản dị. Thuần phong, mỹ tục là đoàn kết, thương yêu giúp đỡ nhau sản xuất tiết kiệm, vì vậy nên cần phát triển thuần phong mỹ tục".
Chủ tịch Hồ Chí Minh kế thừa và phát huy truyền thống "nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng" của dân tộc ta và những tinh hoa tư tưởng đoàn kết của nhân loại tiến bộ, nâng lên thành chân lý, thành chính sách, thành chiến lược cách mạng.
Về nội dung, tư tưởng "đoàn kết, đại đoàn kết" của Hồ Chí Minh rất phong phú, nhiều vẻ bao gồm tư tưởng về đại đoàn kết dân tộc (đoàn kết cả nước, đoàn kết toàn dân không bỏ sót một người dân nào, đoàn kết trong Đảng, đoàn kết trong Mặt trận dân tộc thống nhất...), đoàn kết quốc tế. Phát biểu tại phiên họp bế mạc kỳ họp thứ tư, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà khoá I, ngày 26-3-1955, Người chỉ rõ: "Chính sách đối nội trước mắt của ta là: Đoàn kết toàn dân, thi đua sản xuất... Chính sách ngoại giao của ta là: đoàn kết chặt chẽ với nhân dân các nước bạn". Nói chuyện tại Lớp nghiên cứu chính trị khoá II, trường Đại học nhân dân Việt Nam, ngày 8-12-1956 Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: "Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân". Trong thư gửi đồng bào cả nước, ngày 6-7-1956, Người khẳng định: "Đường lối đấu tranh của chúng ta hiện nay là toàn dân từ Nam đến Bắc, đoàn kết rộng rãi và chặt chẽ trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam". Trong bài nói tại Đại hội liên hoan phụ nữ "Năm tốt" ngày 30-4-1964, khi giải thích khái niệm "gia đình", Người cũng nhắc đến đoàn kết: Theo nghĩa cũ thì gia đình chỉ giới hạn hẹp trong một cái nhà, cái sân... Theo nghĩa mới thì gia đình rộng rãi hơn, tốt đẹp hơn. Thí dụ những người cùng lao động trong nhà máy, trong một cơ quan, trong một hợp tác xã... đều phải đoàn kết thương yêu nhau như anh em trong một gia đình. Rộng ra nữa là đồng bào cả nước đều là anh em trong một gia đình. Ngay trong "Kính cáo đồng bào" viết ngày 6-6- 1941, khi đất nước ta còn chìm trong nô lệ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cập đến đoàn kết dân tộc: "Trong lúc quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy, chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ đế quốc và bọn việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa nóng". Nói về đoàn kết trong Đảng, trong bản "Di chúc" viết ngày 10-5-1969, Người chỉ rõ: "Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và nhân dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình". Chủ tịch Hồ Chí Minh không những nêu rõ nội dung của tư tưởng đại đoàn kết mà còn chỉ ra tầm quan trọng, những nguyên tắc, yêu cầu, phương pháp, cách thức đoàn kết. Nói chuyện tại Lớp chỉnh huấn trung cao của Bộ Quốc phòng tháng 5 năm 1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: "Bây giờ còn một điểm rất quan trọng cũng là điểm mẹ. Điểm này mà thực hiện tốt thì con cháu đẻ ra đều tốt: Đó là đoàn kết". Mà "nền gốc của đoàn kết là: đoàn kết của đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác".

Theo Hồ Chí Minh, đoàn kết là một chính sách lớn đối với toàn dân tộc, đoàn kết để đấu tranh cho thống nhất và độc lập của Tổ quốc; ta còn phải đoàn kết để xây đựng nước nhà. Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta phải đoàn kết với họ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu yêu cầu của đoàn kết là phải đoàn kết rộng rãi và chặt chẽ. Đoàn kết giữa Chính phủ và nhân dân. Đoàn kết giữa các tầng lớp nhân dân với nhau. Đoàn kết giữa đồng bào toàn quốc từ Bắc tới Nam. Nói rộng hơn nữa: đoàn kết giữa nhân dân ta và nhân dân các nước bạn. Đoàn kết chặt chẽ lực lượng trong nước với ngoài nước... Nói chuyện với đại diện Mặt trận Tổ quốc tỉnh Hà Tĩnh, ngày 15/6/1957, Người khẳng định "Đoàn kết chặt chẽ thành một khối thống nhất. Phải đoàn kết giữa lương và giáo, giữa quân và dân, giữa Bắc và Nam"... Trong thư gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam tại Pleiku, ngày 19-4-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: "Giang sơn và Chính phủ là giang sơn và Chính phủ chúng của chúng ta. Vậy nên tất cả dân tộc chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ để giữ gìn nước non ta, để ủng hộ Chính phủ ta". Đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi không những là yêu cầu tất yếu của cách mạng Việt Nam mà còn là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta, một tầm nhìn về tương lai của dân tộc. Ngay từ năm 1946, trong thư gửi đồng bào Nam Bộ, Người có những lời khuyên rất thấm thía: "Tôi khuyên đồng bào đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi. Năm ngón tay cũng có ngón vắn ngón dài. Nhưng vắn dài đều hợp nhau lại nơi bàn tay. Trong mấy triệu người cũng có người thế này, thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều dòng dõi của tổ tiên ta. Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ, ta phải nhận rằng con Lạc cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc. Đối với những đồng bào lạc lối lầm đường, ta phải lấy tình thân ái mà cảm hoá họ như thế mới thành đoàn kết, có đại đoàn kết thì tương lai chắc chắn sẽ vẻ vang".

Chủ tịch Hồ Chí Minh đòi hỏi một sự đoàn kết thật sự có chiều sâu, có hiệu quả, "không phải đoàn kết ngoài miệng, mà đoàn kết bằng việc làm, đoàn kết bằng tinh thần, đoàn kết thực sự". Trong bài nói chuyện với cán bộ tỉnh Hà Tây ngày 10-2-1967, Người nhắc nhở cán bộ "từ tỉnh đến huyện, đến xã phải đoàn kết, đoàn kết thực sự, làm sao tự mình nêu gương và giáo dục cho đảng viên, đoàn viên, cán bộ giữ gìn, phát triển đạo đức cách mạng, làm sao cho nhân dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm". Người giải thích: "Đoàn kết thực sự nghĩa là mục đích phải nhất trí và lập trường cũng phải nhất trí. Đoàn kết thực sự nghĩa là vừa đoàn kết, vừa đấu tranh, học những cái tốt của nhau, phê bình những cái sai của nhau và phê bình trên lập trường thân ái, vì nước, vì dân". Về mối quan hệ giữa phê bình, tự phê bình và đoàn kết, Người giải thích: Phê bình, tự phê bình tốt nghĩa là xuất phát từ đoàn kết mà phê bình và tự phê bình, phê bình và tự phê bình để đi đến đoàn kết hơn nữa.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh ý nghĩa, tác đụng to lớn của đoàn kết. Người nhiều lần khẳng định "Đoàn kết là lực lượng mạnh nhất của chúng ta". "Đoàn kết là một lực lượng vô địch". "Đoàn kết là sức mạnh". Đoàn kết là sức mạnh vô địch của chúng ta". "Đoàn kết là lực lượng tất thắng". Thật là một chân lý giản dị và sáng tỏ.
Theo Hồ Chí Minh, đoàn kết, đại đoàn kết là nhân tố thắng lợi của cách mạng Việt Nam, giúp dân tộc ta "thành công, đại thành công" trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Trong lời kêu gọi nhân dịp kỷ niệm cách mạng tháng Tám và ngày Độc lập năm 1951, Người nhấn mạnh: "Lòng yêu nước và sự đoàn kết của nhân dân ta là một lực lượng vô cùng to lớn, không ai thắng nổi. Nhờ lực lượng ấy mà tổ tiên ta đã đánh thắng quân Nguyên, quân Minh, đã giữ vững quyền tự do, tự chủ. Nhờ lực lượng ấy mà chúng ta cách mạng thành công, giành được độc lập. Nhờ lực lượng ấy mà sức kháng chiến của ta ngày càng mạnh. Nhờ lực lượng ấy mà quân và dân ta quyết chịu đựng muôn nỗi khó khăn thiếu thốn, đói khổ quyết một lòng đánh tan quân giặc cướp nước. Nhờ lực lượng ấy mà với gậy tầm vông và súng hoả mai lúc đầu, chúng ta liên tiếp thắng địch". Trong Báo cáo về dự thảo Hiến pháp sửa đổi tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà khoá I, ngày 18-12-1959, Người khẳng định: "Lần đầu tiên trong lịch sử, một dân tộc bị áp bức đã đánh bại cuộc xâm lược của một đế quốc hùng mạnh, đã giành lại độc lập cho dân tộc, đem lại ruộng đất cho dân cày, đưa lại quyền dân chủ thực sự cho nhân dân. Thắng lợi đó là do lòng yêu nước nồng nàn và tinh thần đấu tranh anh dũng của quân và dân ta, do toàn dân ta đoàn kết chặt chẽ trong Mặt trận Dân tộc thống nhất và chính quyền nhân dân ta dựa trên nền tảng liên minh công nông dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân và Đảng...". Trong bài nói tại Hội những người Ấn nghiên cứu các vấn đề quốc tế, ngày 7-2-1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: "Nhờ đại đoàn kết mà trong bao nhiêu thế kỷ, nhân dân Việt Nam đã bảo vệ được độc lập, tự đo của mình. Nhờ đại đoàn kết mà nhân dân Việt Nam đã đánh thắng chủ nghĩa thực dân, làm cách mạng Tháng Tám thành công và đã kháng chiến đến thắng lợi. Nhờ đại đoàn kết toàn dân mà nước Việt Nam chúng tôi nhất định sẽ thống nhất".
Nhờ có chiến lược đại đoàn kết đúng đắn của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, cách mạng nước ta hơn 70 năm qua đã giành được hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, phát huy được sức mạnh của toàn dân tộc đánh thắng được hai đế quốc to là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, cả nước hoà bình, thống nhất đi lên CNXH, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Để tiếp tục phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh, tiếp tục đưa Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng và Nghị quyết TW7 (khóa IX) về "phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh" vào cuộc sống, cần thực thi mạnh mẽ, có hiệu quả những chủ trương chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, xây dựng những định hướng chính sách nhằm tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Thứ hai, phát huy mạnh mẽ vai trò của chính quyền Nhà nước trong việc thực hiện chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc.
Thứ ba, mở rộng và đa dạng hoá các hình thức tập hợp nhân dân, nâng cao vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể trong việc thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc.
Thứ tư, tăng cường công tác chính trị tư tưởng, nâng cao trách nhiệm công dân, xây dựng sự đồng thuận xã hội, đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước.
Thứ năm, xây đựng tổ chức Đảng trong sạch, vững mạnh và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng để Đảng thực sự là hạt nhân lãnh đạo khối đại đoàn kết toàn dân tộc.








Tư tưởng Đại đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong sự nghiệp giải phóng dân tộc
Vũ Thị Kim Xuyến

(ĐCSVN)- Giữa thế kỷ XIX, nhân dân Việt Nam điêu đứng trong cảnh ngộ mất nước, bị xóa tên trên bản đồ thế giới, bị áp bức về chính trị, bị bóc lột về kinh tế, bị đầu độc về văn hóa, bị đày đọa trong đói rách và bệnh tật. Toàn xã hội Việt Nam đặc biệt là tầng lớp lao động lâm vào số phận bi thảm, quyền sống và mọi quyền con người bị chà đạp.
 Khát vọng giải phóng được ấp ủ từ lâu trong dân tộc Việt Nam càng thêm nung nấu và trở thành vấn đề sống còn. Vào những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, những người Việt Nam nhiệt thành yêu nước, đã từng ao ước hướng vào các phong trào Đông Du, Đông Kinh nghĩa thục, Duy Tân và chống thuế ở Trung kỳ…, đã từng hy vọng vào ngọn cờ của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh… nhưng đau xót thay mọi sự nỗ lực gắng gỏi của các thế hệ tiền bối đều không đi đến kết quả. Đối với Hồ Chí Minh, mặc dù khi đó chưa lý giải được thấu đáo nguyên nhân thất bại của phong trào yêu nước cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX song Người đã nhận thấy ở các nhà ái quốc tiền bối còn có những lầm lẫn, mơ hồ trong việc phân biệt bạn thù, trong việc tập hợp lực lượng, xây dựng phong trào cách mạng ... Hồ Chí Minh trân trọng mọi công phu tìm kiếm, khâm phục tâm huyết của các bậc tiền bối, nhưng thấy rõ tất cả các con đường đã được chọn đều không có hiệu quả. Vì vậy, Người quyết định xuất dương để xem xét thế giới, quan sát cuộc sống của các dân tộc, nghiên cứu cách làm của các nước, cốt tìm ra con đường cho dân tộc Việt Nam tự giải phóng mình. Những năm tháng bôn ba ở nước ngoài để tìm chân lý cứu nước, Hồ Chí Minh đã thâm nhập sâu sắc đời sống và phong trào cách mạng của giai cấp công nhân ở các nước TBCN, của các dân tộc bị áp bức bóc lột ở thuộc địa. Cuộc khảo nghiệm thực tiễn rộng lớn đã giúp Người nhận thức một sự thật: giới cần lao và các dân tộc thuộc địa tiềm ẩn một sức mạnh vĩ đại, song cuộc đấu tranh của họ chưa đi đến thắng lợi, bởi vì các dân tộc bị áp bức chưa biết tập hợp lại, chưa có sự liên kết chặt chẽ với giai cấp công nhân ở các nước “chính quốc”, chưa có tổ chức.
Từ nhận thức khoa học này, Hồ Chí Minh đã làm tất cả từ tuyên truyền, thức tỉnh, đến vận động, đến tổ chức dể làm xây dựng một chiến lược đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế, chống chủ nghĩa đế quốc, chống chủ nghĩa thực dân, giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp. Trên con đường hoạt động cách mạng Hồ Chí Minh tiếp tục tìm tòi, kiểm nghiệm những cơ sở lý luận thực tiễn trên một quy mô, phạm vi rộng lớn để dần dần xây dựng những luận điểm đầu tiên về đại đoàn kết đó là những luận điểm về sự cần thiết phải kết hợp cách mạng thuộc địa với cách mạng chính quốc, về sự cần thiết phải có một chính đảng của giai cấp công nhân để đoàn kết các lực lượng yêu nước, cách mạng ở thuộc địa và cuộc chiến tranh chống chủ nghĩa thực dân; về vai trò của liên minh công nông do giai cấp công nhân lãnh đạo. Những luận điểm này được phản ánh trong các bài viết của Người đăng trên Tạp chí Cộng sản (bản tiếng Pháp) số 18, 19 năm 1921, trên các báo “ Le Pari” (Người cùng khổ), “Luymanitê” (Nhân đạo), tạp chí “Thư tín quốc tế”, “Đời sống công nhân”…, trong các bài tham luận của Người tại Đại hội Nông dân quốc tế (1923), (trong thư gửi các bạn cùng hoạt động ở Pháp) Người viết: “Đối với tôi câu trả lời được rõ ràng: trở về nước đi vào quần chúng thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập”, Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ V (1924) Người đã tuyên bố rõ: “lao động tất cả các nước! đoàn kết lại”.
Nhận thức được sức mạnh đoàn kết, vai trò của đại đoàn kết trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh đã nhanh chóng hình thành một mặt trận đoàn kết chiến đấu giữa nhân dân lao động ở các nước có bọn thực dân đi xâm lược với nhân dân các dân tộc bị xâm lược, Người coi khối liên minh đó là một trong những nhân tố bảo đảm cho thắng lợi của cách mạng.

Các nhà yêu nước tiền bối chưa thấy được số phận của các dân tộc bị áp bức khác cũng đau khổ, tủi nhục như nhau, có chung một nguyện vọng là phấn đấu cho tự do, độc lập của dân tộc mình. Hồ Chí Minh từ những năm 20 đã thấy rõ điều đó và Người đã nỗ lực phấn đấu để góp phần tích cực xây dựng mặt trận đoàn kết chiến đấu giữa các dân tộc bị áp bức để chông kẻ thù chung. Hội Liên hiệp thuộc địa (ở Pháp), “Hội các dân tộc bị áp bức” của các nước châu á, mà chính Người đã tham gia sáng lập. Trước Hồ Chí Minh trên thế giới chưa bao giờ hình thành một khối liên minh ấy.
Hầu hết các nhà yêu nước tiền bối đều dựa vào tầng lớp trên làm nòng cốt cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, coi quần chúng nhân dân chỉ đóng vai trò thứ yếu. Hồ Chí Minh trong khi lấy “công nông là gốc của cách mạng” lại vẫn sẵn sàng mở rộng cửa đón tiếp những người thuộc tầng lớp trên có tinh thần yêu nước vào Mặt trận dân tộc thống nhất chống đế quốc vì độc lập tự do của tổ quốc. Mặt trận Việt minh (1941), Mặt trận Tổ quốc Việt Nam sau này chính là biểu hiện của tinh thần ấy.
Là người quán triệt và vận dụng một cách sáng tạo những luận điểm của Mac-Lênin về cách mạng giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh đã góp phần làm phong phú những luận điểm ấy trong thời đại mới. Người đã rút ra một kết luận quan trọng là: “trong điều kiện thuận lợi cho phong trào cách mạng của thời đại ngày nay, bất cứ một dân tộc nào dù nhỏ, nhưng nếu đoàn kết chặt chẽ và kiên quyết chiến đấu theo đường lối chính trị và quân sự đúng đắn lại được sự ủng hộ và giúp đỡ tích cực của phe XHCN và của nhân dân cách mạng thế giới thì có thể đánh thắng bất cứ bọn đế quốc nào, kể cả tên đầu sỏ là đế quốc Mỹ ”.
Kết luận nổi tiếng ấy của Người được nêu ra trong lúc đế quốc Mỹ đang ào ạt đưa hàng chục vạn quân và hàng triệu tấn vũ khí vào miền Nam Việt Nam, loài người đang hồi hộp lo lắng cho số phận của dân tộc Việt Nam trước sự xâm lược của tên đế quốc đầu sỏ, lại càng có ý nghĩa trọng đại. Nó chẳng những củng cố niềm tin tất thắng vào sự nghiệp đấu tranh cách mạng của các dân tộc bị bọn đế quốc xâm lược, mà còn nêu lên một chân lý có tính thời đại về sự chiến đấu để bảo vệ thiêng liêng quyền dân tộc mình.
Tự nhận lấy trách nhiệm và sứ mệnh lịch sử trước đất nước, dân tộc và thời đại, Hồ Chí Minh vô cùng thấm thía giá trị của đại đoàn kết. Sau 30 năm ra đi tìm đường cứu nước năm 1941 trở về Cao Bằng, Hồ Chí Minh trong tay không có vũ khí, không có quân đội nhưng Người đã một cẩm nang thần kỳ, cống hiến cho dân tộc. “Dân ta muốn sống chỉ có một đường là đoàn kết lại để đánh Tây, đuổi Nhật” và truyền cẩm nang đó qua một trong nhiều phương tiện như báo Việt Nam độc lập số 102. Ngay từ số báo đầu tiên Bác đã khẳng định rõ:
“Mau mau đoàn kết cùng nhau
Để đánh Tây, đánh Nhật, để lo tự cường”.
Một lời kêu gọi thiết tha như thấy từ sâu thẳm đáy lòng yêu nước của Người.
Đoàn kết lại đồng bào ta ơi!
Trước thời cứu nước sau thời cứu dân.
Không một số báo Việt Nam độc lập nào trong những năm 1941- 1942 lại không có những lời kêu gọi, căn dặn, yêu cầu, mong mỏi, hướng dẫn, vận động toàn dân đoàn kết xung quanh Hội Việt Minh. Đoàn kết trong một tổ chức, trong một mặt trận đó là vũ khí mạnh nhất, không vũ khí nào, không ai thắng nổi. Không chỉ có kêu gọi, mà Hồ Chí Minh còn viết hàng loạt thơ ca như: Hòn đá, Dân cày, Công nhân, Phụ nữ, Ca binh lính, Ca sợi chỉ, Con Cáo và tổ Ong v.v… với tinh thần cốt lõi là kêu gọi toàn dân ta:
“Đoàn kết vững bền như khối sắt

Để cùng nhau cứu nước Nam ta”.
Với tư tưởng đó của Hồ Chí Minh được thể hiện rất đậm nét trong bài diễn ca Lịch sử nước ta, với hơn 200 câu lục bát truyền thống của dân tộc. Hồ Chí Minh đã tái hiện lại dòng lịch sử dân tộc, làm sống lại trong lòng người dân đất Việt những mốc son chói lọi; nêu cao những chiến công hiển hách của cha anh, khơi dậy lòng tự hào dân tộc, đồng thời động viên lớp lớp cháu con noi gương các bậc tiền bối đứng lên đánh đuổi giặc thù:
…Bất kỳ nam nữ nghèo giầu
Bất kỳ già trẻ cùng nhau kết đoàn
Người giúp sức, kẻ giúp tiền
Cùng nhau giành lấy chủ quyền của ta…
Hồ Chí Minh còn dùng những hình ảnh sinh động có thực, với lý lẽ sắc bén, phân tích những đúng, sai, lợi, hại nhằm tuyên truyền giáo dục, thuyết phục lôi cuốn tập hợp quần chúng cách mạng lên đường tranh đấu. Vì thế, Hồ Chí Minh luôn nghĩ rằng: trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân nên toàn dân ta đồng tình đồng sức, đồng lòng sẽ tạo nên sức mạnh kỳ diệu và hùng hậu, thành phong trào cách mạng sôi sục để đánh đuổi Nhật - Pháp cứu nước, cứu nhà. Sức mạnh đó đã được Hồ Chí Minh khẳng định trong bài thơ Nhóm lửa viết năm 1941. Và đúng như lời tiên đoán của Người chỉ 4 năm sau, dưới sự lãnh đạo của Đảng, toàn dân ta đã tập hợp thành lực lượng to lớn trong Mặt trận Việt Minh giương cao ngọn cờ đại đoàn kết dân tộc. Bằng tinh thần quyết chiến, quyết tháng, vượt qua bao khó khăn, thử thách, nhân dân ta đã làm nên cuộc Cách mạng tháng Tám long trời lở đất, đưa dân tộc ta từ kiếp lầm than nô lệ sang kỷ nguyên độc lập tự do và CNXH. Đầu năm 1951, phát biểu tại Đại hội thống nhất Mặt trận Việt Minh và Hội Liên Việt, Hồ Chí Minh chỉ rõ:
Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết
Thành công, thành công, đại thành công.
Như vậy, theo Hồ Chí Minh đoàn kết càng rộng rãi, đoàn kết càng chặt chẽ thì thắng lợi càng to, thành tích càng lớn. Lịch sử dân tộc Việt Nam nói chung, lịch sử cách mạng Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng chứng minh sự khẳng định này của Người là hoàn toàn đúng.
Cách mạng tháng Tám thành công, 9 năm kháng chiến chống Pháp thắng lợi, hơn 20 năm chống Mỹ cứu nước toàn thắng, góp phần cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc ở á, Phi, Mỹ Latinh. Tất cả những chiến công lịch sử phi thường ấy của nhân dân ta không thể không kể đến công lao vĩ đại của Hồ Chí Minh- Người anh dùng kiệt xuất của sự nghiệp giải phóng dân tộc. Bởi lẽ trong suốt quá trình đấu tranh, nhất là vào những lúc diễn ra bước ngoặt của cách mạng thì tầm nhìn xa, trông rộng của Hồ Chí Minh; tư tưởng bất tử: “Không có gì qúy hơn độc lập tự do” của Người; những chủ trương quyết đoán và sáng suốt của Người; tài năng động viên và tổ chức tuyệt vời của Người; phương pháp cách mạng vừa sắc bén vừa mềm dẻo, linh hoạt với tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Người, thực sự là những nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Hồ Chí Minh đã từng là hạt nhân đoàn kết của các dân tộc bị áp bức, đã thúc đẩy cuộc giải phóng dân tộc trong thế kỷ XX giành thắng lợi, đã từng mơ ước “Bốn phương vô sản đều là anh em”. Tinh thần đoàn kết đó không bó hẹp trong một nước Việt Nam. Người lấy mục tiêu hoà bình, tự do, bình đẳng, bác ái, ấm no, hạnh phúc cho tất cả những Người lao động và tiến bộ thuộc mọi giống nòi, không phân biệt màu da, chủng tộc làm điểm tương đồng để thực hiện sự liên minh thống nhất đoàn kết quốc tế. Người đã rút ra bài học lớn: “đoàn kết trong mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi, đoàn kết quốc tế để thế giới ủng hộ, giúp đỡ là một trong những nhân tố quan trọng quyết định thắng lợi của cách mạng”. Và Người luôn luôn khẳng định: “lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do. Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn”. Trước khi đi vào cõi vĩnh hằng Người đã để lại bản Di chúc cho toàn Đảng, toàn dân ta. Người nhấn mạnh về đoàn kết trong Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết quốc tế. Những dòng cuối cùng của Di chúc Người viết: “điều mong muốn cuối cùng của tôi là toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.
Đó là những bài học quý báu mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng và phát triển sáng tạo thành công mang ý nghĩa thực tiễn để góp phần vào sự nghiệp giải phóng dân tộc
Trong sự nghiệp giải phóng dân tộc tư tưởng đại đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh là bó đuốc soi đường, dẫn lối cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta từ miền Nam đến miền Bắc, từ miền ngược đến miền xuôi, từ nông thôn đến thành thị, từ trong nước đến nước ngoài tiến lên giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đặc biệt với đại thắng mùa xuân 1975 đã mở ra một kỷ nguyên đất nước độc lập, thống nhất và tiến lên CNXH. Ba mươi năm đã trôi qua kể từ thắng lợi vẻ vang đó, đất nước Việt Nam độc lập thống nhất đã tiến những bước dài chưa từng có trong lịch sử, giành những thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới. Ngày nay, tư tưởng đại đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh đang vẫy gọi chúng ta tiếp tục vững bước tiến lên để thực hiện bằng được “mục tiêu chung là củng cố tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN” mà Nghị quyết Hội nghị Trung ương VII khoá IX đã chỉ rõ.
Tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh
GS. Văn Tạo
Tư tưởng và hành động của Hồ Chí Minh luôn hướng tới xây dựng khối đại đoàn kết để tạo thành sức mạnh vô địch, giành độc lập dân tộc, giữ vững tự do dân chủ, kiến thiết nước nhà. Người còn chỉ ra phương châm là đoàn kết phải chân thành, chặt chẽ, thống nhất và để đi đến đoàn kết yêu cầu phải thực hành dân chủ rộng rãi, nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình.
oàn kết là một nhân tố quan trọng, một trong "ba phép quý" (Chính quyền, Quân đội, Mặt trận) đem lại thắng lợi cho cách mạng Việt Nam. Đoàn kết đó vừa bắt nguồn từ truyền thống đoàn kết dựng nước, giữ nước của dân tộc, vừa từ khoa học đoàn kết cách mạng của giai cấp công nhân.
Ông cha ta xưa do phải dựng nước, giữ nước trong muôn vàn gian khó chống thiên tai, địch họa cho nên phải lấy "Kết đoàn làm sức mạnh". Hai Bà Trưng đã có sức mạnh của cả 65 thành nổi dậy. Trần Hưng Đạo thì quân thần, binh sĩ: "Một lời" "sát Thát" truyền ghi. ("sát Thát" là "giết giặc Nguyên Mông") Lời thề sông Hóa, chữ đề cánh tay". Lê Lợi - Nguyễn Trãi với chiến lược "Tâm công" (tức "Đánh vào lòng người"), khiến nhân tâm quy tụ: "Trăm vạn người chỉ một lòng...". Đến thời cận đại, Phan Bội Châu kêu gọi "Mười giới đồng tâm" cứu nước, nhưng sự nghiệp chưa thành vì thiếu sức mạnh thời đại - sức mạnh của giai cấp công nhân.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết dân tộc ra đời lúc này đã kế thừa được truyền thống đoàn kết của ông cha trên cơ sở lý luận khoa học của giai cấp công nhân-lý luận Mác - Lê-nin nhằm đoàn kết giai cấp, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế, tạo nên sức mạnh tổng hợp để chiến thắng kẻ thù. Tư tưởng đoàn kết của Người phát huy tác dụng tích cực trong suốt chiều dài lịch sử hơn nửa thế kỷ qua, từ khi Đảng ra đời đến nay, góp phần đem lại những thành công to lớn cho cách mạng
Trong Diễn văn nhân kỷ niệm lần thứ 109 Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh và 30 năm thực hiện Di chúc của Người, Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu, đã nêu cao hiệu quả của tư tưởng đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cách mạng dân tộc và trong quan hệ quốc tế: Người đã xây dựng nên "Một mặt trận dân tộc thống nhất tiêu biểu cho đại đoàn kết toàn dân, lấy liên minh công nhân-nông dân-trí thức làm nền tảng, không ngừng củng cố và mở rộng. Một tinh thần đoàn kết quốc tế trong sáng vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Trong tâm trí các giai cấp cần lao bị áp bức và nhân loại tiến bộ "Việt Nam, Hồ Chí Minh" đã trở thành biểu tượng của niềm tin, ý chí, lương tâm và phẩm giá".

          Tư tưởng "Đoàn kết" của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi sâu vào tâm trí đảng viên và đại chúng nhân dân bởi vì nó là biểu hiện "cái tâm trong sáng và nhiệt thành" của một chiến sĩ yêu nước và cách mạng, luôn lấy đoàn kết làm chiến lược hàng đầu của sự nghiệp dựng nước và giữ nước".
Đoàn kết vì sự nghiệp yêu nước và cách mạng
Trong Di chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh nói là nhờ đoàn kết chặt chẽ mà từ ngày thành lập đến nay Đảng đã "tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác".
Trong thời kỳ Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã "Kêu gọi đồng bào đoàn kết. Vì có đoàn kết mới có lực lượng, có lực lượng mới giành được độc lập, tự do". Ngày Quốc tế Lao động 1-5-1946, Người nói: Đây chẳng những là ngày tết lao động mà còn là ngày nhân dân đoàn kết: Đoàn kết để giữ vững tự do dân chủ. Đoàn kết để kiến thiết nước nhà. Đoàn kết để xây dựng một đời sống mới. Trong sản xuất, Người cổ vũ đoàn kết để chinh phục thiên nhiên: Toàn dân đoàn kết một lòng. Đập đá thì núi vỡ, đào sông thì nước về. Trong đấu tranh thống nhất Người nêu cao ý nghĩa của đoàn kết và tin tưởng ở tương lai tất thắng: Đoàn kết là một lực lượng vô địch: Lực lượng đoàn kết đã giúp Cách mạng Tháng Tám thành công. Lực lượng đoàn kết đã giúp kháng chiến thắng lợi. Lực lượng đoàn kết sẽ động viên nhân dân từ bắc chí nam đấu tranh để thực hiện hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ trong cả nước.
Đoàn kết theo đường lối giai cấp - Lấy đoàn kết trong Đảng là hạt nhân cho đoàn kết dân tộc
Từ khi ra đi tìm đường cứu nước, đến khi gặp được chủ nghĩa Mác - Lê-nin, Người đã thấy đoàn kết giai cấp, đoàn kết quốc tế vô sản và đoàn kết với các dân tộc bị áp bức trên thế giới luôn đóng vai trò chiến lược. Tư tưởng đó được biểu hiện ở khẩu hiệu của C.Mác và Ph.Ăng-ghen là: "Vô sản toàn thế giới đoàn kết lại!". Lê-nin đã phát triển lý luận Mác trong thời đại đế quốc chủ nghĩa thành: "Vô sản toàn thế giới và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại!". Đoàn kết của các Đảng vô sản, trong đó có Đảng Cộng sản Việt Nam là xuất phát từ thực tiễn đấu tranh của giai cấp vô sản - một giai cấp lấy sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc làm hàng đầu - sự nghiệp của những người tay không tấc sắt, không có gì khác ngoài sức lao động để bán, lại bị rên xiết trong xiềng gông nô lệ, cho nên đã đứng lên chiến đấu để: Được thì thế giới vui chung. Mất thì chỉ mất cái gông trên đầu. Do vậy mà đoàn kết đã trở thành sức mạnh vô địch.
Tư tưởng đoàn kết quốc tế của lý luận Mác - Lê-nin đã củng cố và làm phong phú thêm nội dung tư tưởng đoàn kết dân tộc vốn đã có trong tư duy của Người, cho nên trong xây dựng Đảng, Người đã có những cống hiến lớn lao:
Người đã sáng tạo trong xây dựng Đảng: Chủ nghĩa Mác - Lê-nin kết hợp phong trào công nhân và phong trào yêu nước đã dẫn tới việc thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương... Trên tinh thần Đoàn kết giai cấp - Đoàn kết dân tộc Hồ Chí Minh đã triệu tập Hội nghị hợp nhất ba đảng (từ 3 đến 7-2-1930) thành một đảng duy nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam. Người đặt nền móng cho tư tưởng đoàn kết của Đảng ngay từ ngày đầu thành lập, tạo tiền đề cho mọi thành công "đoàn kết chiến đấu" của Đảng sau này... Trong xây dựng Đảng, Người đã từng huấn thị: Các đồng chí ta, tuy có khi khác nhau về chủng tộc hay khác nhau về nguồn gốc giai cấp, nhưng là người cùng chủ nghĩa, cùng mục đích, cùng sống, cùng chết, chung sướng, chung khổ, cho nên phải thật thà đoàn kết.
Trong cuộc chỉnh Đảng thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, Người nói:   Ngày nay nhiệm vụ của Đảng ta là đoàn kết và lãnh đạo giai cấp cùng nhân dân kháng chiến, kiến quốc... là một đảng lãnh đạo, Đảng ta cần phải mạnh mẽ, trong sạch, kiểu mẫu. Toàn Đảng phải tư tưởng nhất trí, hành động nhất trí, đoàn kết nhất trí mới làm tròn được nhiệm vụ của Đảng... Chỉnh Đảng thành công thì nó sẽ khuếch trương những thắng lợi về quân sự, chính trị, kinh tế, v.v.
Tháng 3-1955, trước nhiệm vụ mới rất nặng nề ở cả hai miền nam bắc, Hồ Chủ tịch đã quan tâm đến đoàn kết trong Đảng để khắc phục khó khăn giành thắng lợi mới. Người nói: Ngày nay, sự đoàn kết trong Đảng là quan trọng hơn bao giờ hết, nhất là sự đoàn kết chặt chẽ giữa các cán bộ lãnh đạo. Và nhấn mạnh: Đảng ta đoàn kết và vững chắc, dân ta đoàn kết và hăng hái, quân đội ta hùng mạnh, chính sách ta đúng đắn... chúng ta nhất định thành công. Trong Di chúc, Người còn nhấn mạnh: Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Và nhắc nhở: Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình.
          Sức mạnh đoàn kết của Đảng được nhân lên gấp bội khi Đảng ta đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo được tốt khối đoàn kết toàn dân. Mặt trận dân tộc thống nhất được Đảng xây dựng qua các thời kỳ ngày càng hoàn thiện và có hiệu lực: Từ: Đồng minh phản đế Đông Dương năm 1930-1931; Mặt trận Dân chủ thời kỳ 1936-1939; Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) thời kỳ vận động Cách mạng Tháng Tám (1941-1945), Mặt trận Liên hiệp quốc dân Việt Nam (Liên Việt) thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp; đến Mặt trận giải phóng miền nam, Mặt trận Tổ quốc của cả nước thời kỳ 1954-1975 và Mặt trận Tổ quốc hiện nay. Đảng có đoàn kết nhất trí mới có thể là lực lượng lãnh đạo đáng tin cậy, là chỗ dựa của Mặt trận dân tộc thống nhất, nhờ vậy mà Mặt trận do Đảng xây dựng mới phát huy được tác dụng.
Góp phần tích cực vào đoàn kết quốc tế vô sản
Từ Đại hội V của Quốc tế cộng sản đến các đại hội quốc tế khác, Người đã góp phần tích cực vào đoàn kết quốc tế vô sản. Khi phong trào cộng sản thế giới xảy ra sự bất hòa, Người tự thấy đau lòng và bộc lộ: Về phong trào cộng sản thế giới - Là một người suốt đời phục vụ cách mạng, tôi càng tự hào với sự lớn mạnh của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế bao nhiêu, thì tôi càng đau lòng bấy nhiêu vì sự bất hòa hiện nay giữa các đảng anh em! Người nêu cao trách nhiệm của Đảng trong sự nghiệp cao cả này: Tôi mong rằng Đảng ta sẽ ra sức hoạt động, góp phần đắc lực vào việc khôi phục lại khối đoàn kết giữa các đảng anh em trên nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý, có tình. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đặt một niềm tin vào sự khôi phục lại được tình đoàn kết đó: Tôi tin chắc rằng các đảng anh em và các nước anh em nhất định sẽ phải đoàn kết lại.
          Phương châm và biện pháp, hiệu quả của đoàn kết
          Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ đưa ra tư tưởng đoàn kết, mà còn chỉ ra phương châm, đề ra biện pháp để xây dựng và củng cố đoàn kết;
Phương châm là đoàn kết phải chân thành, như năm 1945 Người nêu ra khái niệm "chân thành Đoàn kết". Trong Di chúc, Người nhấn mạnh phải Đoàn kết chặt chẽ, Đoàn kết nhất trí, Đoàn kết và thống nhất. Muốn đoàn kết phải khắc phục chủ nghĩa cá nhân, chia rẽ bè phái, địa phương, cục bộ, chống tham ô, lãng phí, quan liêu, phải cùng nhau thực hiện "Cần kiệm liêm chính chí công vô tư" như Người dạy.
Về biện pháp - Để đi đến đoàn kết, Người đặt lên hàng đầu yêu cầu: thực hành dân chủ rộng rãi, nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình.

          Trong Di chúc Người viết: Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Đoàn kết phải với tinh thần thương yêu, khoan dung, độ lượng cho nên về phương châm tự phê bình và phê bình, Người nhắc nhở: Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau.
Hiệu quả của đoàn kết: Nhờ đoàn kết theo tư tưởng của Người mà nhân dân liên tục giành được thắng lợi như Người đã đúc kết: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công. Câu nói đó đã trở thành Chân lý. Nếu các anh hùng dân tộc, các danh nhân văn hóa thế giới thường để lại các danh ngôn có giá trị sâu sắc muôn đời thì Chủ tịch Hồ Chí Minh, Anh hùng dân tộc Việt Nam, danh nhân văn hóa thế giới cũng để lại nhiều danh ngôn. Trong đó, đi đôi với danh ngôn: "Không có gì quý hơn độc lập tự do" là danh ngôn:
"Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết".
Thành công, thành công, đại thành công".
Hai danh ngôn này đã đi vào lịch sử như một cống hiến vào văn hóa và văn minh nhân loại, được nhiều nhà văn hóa, chính trị thế giới đánh giá cao.










Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo
TS. Lương Văn Tám
Ðoàn kết lương, giáo, đoàn kết giữa những người theo đạo với những người không theo đạo, giữa những người theo các tôn giáo khác nhau là một bộ phận cấu thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc.

          Quan điểm đoàn kết tôn giáo, theo Hồ Chí Minh, trước hết phải lấy mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội làm điểm tương đồng, dùng cái tương đồng để khắc phục sự dị biệt. Giải phóng dân tộc ở nước ta là mục tiêu trước nhất, là nền tảng cho sự giải phóng giai cấp, là điều kiện để có độc lập, tự do cho các tôn giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: "Nước không độc lập thì tôn giáo không được tự do, nên chúng ta phải làm cho nước độc lập đã". Độc lập rồi phải quan tâm đến đời sống người dân, vì "nước độc lập, mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập chẳng nghĩa lý gì". Sự đoàn kết và phát triển theo xu hướng tích cực, tiến bộ của tôn giáo sẽ góp phần giành và giữ vững nền độc lập cho Tổ quốc, nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi: "Phải đoàn kết chặt chẽ giữa đồng bào lương và đồng bào các tôn giáo, cùng nhau xây dựng đời sống hòa thuận, ấm no, xây dựng Tổ quốc". Lời kêu gọi của Người đã tạo nên sự nhất trí cao của toàn dân trong đó có đồng bào các tôn giáo với sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Đồng thời đây cũng là cơ sở vững chắc để bác bỏ mọi âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù lợi dụng tôn giáo, hòng chia rẽ, phá hoại chính sách tôn giáo và dân tộc, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân của Đảng ta.

          Để đoàn kết tôn giáo, Người còn chỉ rõ là phải hết lòng chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào các tôn giáo, phải đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, không tín ngưỡng, quyền sinh hoạt tôn giáo theo đúng pháp luật. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: tự do tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần không thể thiếu được của một bộ phận nhân dân, là lĩnh vực thiêng liêng của mỗi người mà không ai có thể xâm phạm được; vì vậy, thừa nhận quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là tôn trọng nhân dân, tôn trọng tự do, dân chủ của mọi người.

          Tư tưởng đoàn kết tôn giáo của Hồ Chí Minh hơn 70 năm qua đã được Đảng ta kế thừa và phát triển cho phù hợp với tình hình mới. Nghị quyết 24-NQ/TW Bộ Chính trị (khóa VII) ngày 16-10-1990 đã khẳng định "Chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta là tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân, thực hiện đoàn kết lương, giáo, đoàn kết toàn dân xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cần khắc phục nhận thức thiển cận đối với tôn giáo và thái độ hẹp hòi, thành kiến, phân biệt đối xử đối với đồng bào có đạo". Và gần đây nhất trong Nghị quyết Hội nghị TW lần thứ bảy (khóa IX) của Đảng ta đã chỉ rõ: "Đảng, Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết dân tộc. Ðoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau; đoàn kết đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo…Nghiêm cấm sự phân biệt đối xử với công dân vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo. Đồng thời, nghiêm cấm lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động mê tín dị đoan, hoạt động trái pháp luật và chính sách của nhà nước, kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia".

          Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng ta về tôn giáo rất rõ ràng, thế nhưng các thế lực phản động trong và ngoài nước luôn có ý đồ lợi dụng và xuyên tạc chính sách tôn giáo để chia rẽ dân tộc, xâm phạm chủ quyền đất nước như gần đây nhất ngày 17-9-2003, Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế của Quốc hội Mỹ đã có khuyến nghị sai trái về vấn đề tôn giáo ở Việt Nam, kêu gọi Ngoại trưởng Mỹ C.Powell xếp Việt Nam vào diện quốc gia "đặc biệt lo ngại về tự do tôn giáo". Rõ ràng đây là điều phi lý và sai sự thật. Chúng ta, những người Việt Nam yêu chuộng hòa bình, có truyền thống đoàn kết, truyền thống khoan dung tôn giáo quyết không thể chấp nhận được.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về tự do tín ngưỡng và đoàn kết tôn giáo
Nguyễn Xuyến
Nước ta là nước đa tôn giáo, song có hai tôn giáo mà số tín đồ đông nhất là Phật giáo và Công giáo.
Là một người cộng sản theo chủ nghĩa Mác - Lê nin, Chủ tịch Hồ Chí Minh không bao giờ phản đối, bài xích các tôn giáo. Người luôn luôn tỏ thái độ tôn trọng và đề cao vai trò của những vị đã sáng lập ra các tôn giáo. Người nói: "Mục đích cao cả của Phật Thích Ca và chúa Giê-su đều giống nhau. Thích Ca và Giê- su đều muốn mọi người có cơm ăn, áo mặc, bình đẳng, tự do và thế giới đại đồng"
Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là mẫu mực của sự tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và tự do không tín ngưỡng. Người không hề có sự phân biệt đối xử giữa tôn giáo này và tôn giáo khác, giữa người có đạo và người không có đạo. Tư tưởng đoàn kết tôn giáo, hòa hợp dân tộc, không phân biệt tín ngưỡng tôn giáo là tư tưởng nhất quán và trở thành chính sách lớn của Bác.
Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam độc lập do chính Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp chỉ đạo soạn thảo, đã khẳng định quyền tự do tín ngưỡng là quyền tự nhiên của người Việt Nam. Người nghiêm khắc phê phán những biểu hiện vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, quan tâm giáo dục cán bộ chính quyền, quân đội và các đoàn thể phải tôn trọng tự do tín ngưỡng, bảo vệ đền chùa, nhà thờ các tôn giáo.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng bào lương hay giáo đều là người Việt Nam, đều là người lao động và sự nghiệp cách mạng là việc lớn, 1à sự nghiệp chung không phải chỉ của một hai người. Người kêu gọi: "Lương giáo đoàn kết, toàn dân đoàn kết, cả nước một lòng, nhân dân ta nhất định sẽ thắng lợi trong công cuộc đấu tranh thực hiện hòa bình, thống nhất Tổ quốc, và xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập dân chủ và giàu mạnh".
Người dạy: "Ngày nay, đồng bào cả nước, giáo và lương, đều đoàn kết chặt chẽ, nhất tâm nhất trí như con một nhà, cương quyết giữ vững tự do độc lập..."
Tư tưởng đoàn kết tôn giáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh rõ ràng nổi lên quan điểm bỏ qua những dị biệt nhỏ để giữ lấy cái tương đồng lớn; vượt qua những khác biệt về đức tin, lối sống… để giữ lấy tình đoàn kết dân tộc, giữ lấy mục tiêu độc lập, tự do, hạnh phúc.
Giữa tháng 10 năm 1945, vào ngày lễ hành nguyện Phật giáo, trong một bữa tiệc chay được tổ chức tại chùa Quán Sứ (Hà Nội), có tín hữu hai tôn giáo (Công giáo và Phật giáo) tham dự, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: "Mặc dầu hai tôn giáo có hai giáo lý khác nhau nhưng tôn giáo nào cũng từ bi nhân đạo mà ra, thì không lý gì lúc này cùng là con dân Việt Nam, lại không thể có sự đoàn kết giữa hai tôn giáo được".
Trong bức thư gửi các giám mục và đồng bào công giáo Vinh, Hà Tĩnh, Quảng Bình, ngày 14-10-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: "Đức Giêsu hy sinh vì muốn loài người được tự do hạnh phúc, đồng bào ta cả lương cả giáo cũng vì tự do hạnh phúc cho toàn dân mà hy sinh phấn đấu”(7)
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo không chỉ xuất phát từ thực tế đất nước, truyền thống đoàn kết của dân tộc, từ tinh hoa văn hóa dân tộc, từ lý luận Mác - Lê nin xem cách mạng là sự nghiệp của quần chúng... mà còn từ tình cảm yêu thương, lòng nhân ái của Người với đồng bào các tôn giáo. Tấm lòng ấy là bản sắc Hồ Chi Minh luôn biết hòa vào quần chúng, hiểu họ yêu gì, ghét gì và mong muốn điều gì.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc có một ý nghĩa rất to lớn. Nó đã trở thành cơ sở cho việc hình thành chính sách tôn giáo của Đảng và Chính phủ ta trong các giai đoạn cách mạng nhằm phát huy được mặt tích cực của đạo đức tôn giáo trong công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước.
Kể từ luận cương cách mạng tư sản dân quyền năm 1930 đến Nghị quyết Đại hội VII của Đảng năm 1996, từ Nghị quyết đầu tiên của Chính phủ ngày 3-9-1945 đến Nghị định số 26/1999/NĐ-CP ngày 19-4-1999 và trong các bản Hiến pháp của nước ta, Đảng và Nhà nước đều nhất quán tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền tự do tín ngưỡng và đoàn kết tôn giáo.


Đại đoàn kết toàn dân - nhu cầu và yêu cầu tất yếu trong sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển đảo, phát triển đất nước
ThS. Bùi Thị Như Ngọc
Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Ðảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng việc xây dựng, củng cố và mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân. Dưới sự lãnh đạo của Ðảng, các tầng lớp nhân dân không phân biệt thành phần, giai cấp, dân tộc, tôn giáo đã tập hợp trong Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam, tạo nên sức mạnh đại đoàn kết toàn dân để làm nên thắng lợi lịch sử Cách mạng Tháng Tám năm 1945, các cuộc kháng chiến cứu nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Những thắng lợi đó mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do cho đất nước. Ngày nay, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc đang tiếp tục phát huy cao độ, trở thành động lực quan trọng đối với công cuộc đổi mới đất nước, giữ gìn toàn vẹn lãnh thổ, biên giới quốc gia. Nhu cầu và yêu cầu về đại đoàn kết toàn dân càng trở nên cấp thiết khi vấn đề chủ quyền biển, đảo của nước ta trên Biển Đông có những diễn biến phức tạp do Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan HD-981 nằm sâu trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của chúng ta một năm trước, hay thời gian gần đây tăng cường xây dựng đường băng dài khoảng 3.000m trên đá Chữ Thập, cải tạo, xây dựng công trình phá vỡ nguyên trạng tại một số đảo, bãi đá trong quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam… Hành động của Trung Quốc đã xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam, vi phạm luật pháp quốc tế và Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), đe dọa nghiêm trọng đến hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn và tự do hàng hải, hợp tác và phát triển ở khu vực và thế giới. Đồng thời, vấp phải sự phản ứng mạnh mẽ của nước ta và dư luận thế giới.
Trước tình hình đó, đại đoàn kết toàn dân đã trở thành “cái nôi” chung tập hợp những người Việt Nam yêu nước. Đại đoàn kết toàn dân trong thời đại ngày nay là sự tiếp nối của truyền thống ngàn đời “thương người như thể thương thân”, “lá lành đùm lá rách”, “uống nước nhớ nguồn”… hướng tới mục tiêu chung cao cả thấm đẫm tinh thần nhân văn, nhân bản, là bảo đảm những lợi ích chính đáng, tối cao của dân tộc, lợi ích của nhân dân và quyền thiêng liêng của con người. Tình yêu đất nước gắn với ý thức bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ được thể hiện rộng rãi, mạnh mẽ và có sức lan tỏa lớn, được chuyển tải thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng, các trang mạng xã hội, qua chính những công việc thường ngày… Đây là cuộc đấu tranh chính nghĩa. Chủ quyền biển, đảo của nước ta đã được minh chứng bằng các tài liệu, chứng cứ lịch sử từ nhiều thế kỷ trước. Trải qua các thời kỳ lịch sử, đến ngày nay, việc Trung Quốc công bố có chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam là hoàn toàn không có cơ sở pháp lý. Do đó, việc nhân dân Việt Nam tự nguyện, tự giác tập hợp nhau trong một khối thống nhất, đồng thuận, kiên định đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo quốc gia bằng con đường hòa bình vừa là nhu cầu tự thân tất yếu ở người dân, đồng thời là yêu cầu tất yếu của thời cuộc, bởi chúng ta có nghĩa vụ và trách nhiệm gìn giữ, bảo vệ nền độc lập, tự do, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước mà biết bao thế hệ cha ông đã phải hy sinh xương máu.
Đại đoàn kết phải đồng thuận và tỉnh táo
Trong bối cảnh Biển Đông đang có những diễn biến phức tạp, ảnh hưởng đến chủ quyền biển, đảo nước ta, có thể thấy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân đang được huy động và củng cố mạnh mẽ, dưới nhiều hình thức và phương cách đa dạng, cho thấy nội lực dân tộc đang được hòa quyện trong dòng mạch yêu nước, được lan tỏa, phát triển về cả bề rộng lẫn chiều sâu.
Tinh thần đại đoàn kết toàn dân được thể hiện ở sự đồng thuận cao của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam trong cả chính trường lẫn đời sống thường nhật. Ngày 30-4-2015, Việt Nam gửi công hàm tới tất cả phái đoàn thường trực các nước ở Liên hợp quốc, bác bỏ yêu sách chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông, nhấn mạnh chúng ta có đầy đủ cơ sở pháp lý và bằng chứng lịch sử không thể chối cãi để khẳng định chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của mình ở Biển Đông, phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS). Hành động này cho thấy sự kiên quyết của Đảng, Nhà nước ta trong việc bảo vệ chủ quyền biển, đảo đất nước và nhận được sự hưởng ứng của nhân dân ta cũng như bạn bè quốc tế. Đại đoàn kết toàn dân cũng được thể hiện trong những cuộc biểu tình hòa bình trong cộng đồng người Việt trong và ngoài nước phản đối Trung Quốc hạ đặt giàn khoan trái phép trên vùng biển nước ta, thể hiện qua các phong trào, cuộc vận động mạnh mẽ: “Tất cả vì biển đảo quê hương”, “Hướng về Biển Đông thân yêu”, “Vì Trường Sa thân yêu”… Trên các trang mạng xã hội, rực màu cờ đỏ sao vàng của Việt Nam được các thành viên mạng đưa lên; những bài viết, hình ảnh, videoclip… thể hiện tình yêu đất nước, biển, đảo quê hương trào dâng thành những luồng nội lực mạnh mẽ, gắn kết trong tình yêu Tổ quốc, ý thức bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của đất nước.
Đảng, Nhà nước ta xác định đấu tranh hòa bình để bảo vệ chủ quyền biển đảo bằng con đường ngoại giao, khẳng định ý chí quyết tâm và có các biện pháp giữ vững ổn định môi trường để các doanh nghiệp nước ngoài yên tâm làm ăn, kêu gọi người dân tỉnh táo, kiềm chế, tránh bị kẻ xấu lợi dụng, triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp, kiên quyết không để xảy ra biểu tình trái pháp luật và xử lý nghiêm khắc những người có hành vi tuyên truyền kích động… Những chủ trương, biện pháp này nhận được sự đồng tình, hưởng ứng trong cả nhận thức lẫn hành động của nhân dân ta là minh chứng cụ thể cho tính thống nhất, đoàn kết từ trên xuống dưới, sự đồng thuận từ dưới lên trên. Đại đoàn kết trong tính tương tác hai chiều như thế càng thể hiện rõ tính dân chủ tập trung, nhân văn của Đảng, của nhân dân ta.
Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo nước nhà bằng con đường hòa bình, vì mục tiêu phát triển chung của đất nước, vì lợi ích chính đáng của người dân, cũng như vẫn bảo đảm mối quan hệ hòa bình, phát triển nên chúng ta không tẩy chay hay bài trừ người Trung Quốc, hàng hóa Trung Quốc. Trái với những tin đồn thất thiệt, hoạt động giao thương giữa Việt Nam và Trung Quốc vẫn ổn định. Theo thống kê của Hải quan Việt Nam, năm 2014, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam - Trung Quốc đạt hơn 58 tỷ USD, tăng hơn 17% so với năm 2013. Trung Quốc liên tục là bạn hàng thương mại lớn nhất của Việt Nam, trở thành thị trường xuất khẩu lớn thứ hai của Việt Nam (sau Mỹ). Năm 2014, Việt Nam là đối tác thương mại lớn thứ hai của Trung Quốc trong ASEAN (sau Ma-lai-xi-a). Tính riêng ba tháng đầu năm 2015, kim ngạch thương mại song phương đạt 14,6 tỷ USD, tăng khoảng 17,5% so với cùng kỳ năm 2014 (1).
Trong bối cảnh hiện nay, cần tăng cường đại đoàn kết toàn dân trong tâm thế chủ động, tỉnh táo, sử dụng các biện pháp, hình thức sáng tạo, tránh để các thế lực thù địch thực hiện những âm mưu “diễn biến hòa bình” nhằm gây rối, làm mất an ninh trật tự xã hội, ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế… Việc công nhân tại Bình Dương, Vũng Áng thời gian qua bị kẻ xấu xúi giục tụ tập, có những hành động ảnh hưởng đến kinh tế, trật tự an toàn xã hội là bài học kinh nghiệm quý báu cho công tác vận động, định hướng đúng đắn trong nhận thức và hành động để đại đoàn kết toàn dân thực sự phát huy được sức mạnh và hiệu quả. Đảng, Nhà nước ta đã kịp thời ban hành những chỉ thị, công điện, đề ra biện pháp chỉ đạo bảo đảm an ninh trật tự, xây dựng thế trận lòng dân vững chắc để đại đoàn kết toàn dân không bị lợi dụng bởi những kẻ xấu… thể hiện tầm nhìn và sách lược đúng đắn, kịp thời về đại đoàn kết toàn dân phù hợp với yêu cầu và nhiệm vụ của tình hình mới.
Nâng tầm sức mạnh đại đoàn kết toàn dân để bảo vệ hiệu quả chủ quyền biển đảo quốc gia
Để tập trung và phát huy hiệu quả đại đoàn kết toàn dân trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo nước ta hiện nay, cần chú trọng:
- Tăng cường hơn nữa sự phối hợp, kết hợp chặt chẽ giữa liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng nhằm phát huy và nâng tầm sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, để đại đoàn kết toàn dân thực sự là nguồn sức mạnh, là động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định, bảo đảm thắng lợi bền vững trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chủ quyền biển, đảo đất nước.
- Có sự phối hợp, kết hợp chặt chẽ giữa vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, chính quyền địa phương các cấp và người dân để huy động đại đoàn kết toàn dân trong một khối thống nhất, đồng thuận, tránh việc các phần tử xấu lợi dụng đoàn kết để lôi kéo, kích động biểu tình trái pháp luật, gây rối trật tự, an ninh xã hội và ảnh hưởng đến sự phát triển chung của đất nước, cũng như ảnh hưởng đến quan hệ hợp tác quốc tế của Việt Nam.
- Đổi mới, nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức về biển đảo và ý thức chủ quyền biển, đảo gắn với chủ quyền quốc gia đến đông đảo các tầng lớp nhân dân trong nước nhằm giúp người dân hiểu đúng và có ý thức đồng thuận cao. Từ đó, tạo sự kết nối liền mạch giữa các thế hệ về ý thức đại đoàn kết toàn dân, ý thức về chủ quyền biển, đảo nước nhà trong tất cả các giai tầng xã hội, không phân biệt trẻ già. Đồng thời, chú trọng tuyên truyền đến người Việt Nam ở nước ngoài và bạn bè quốc tế để họ có cái nhìn đúng đắn về chủ quyền biển đảo nước ta, từ đó tự giác, tích cực ủng hộ, hưởng ứng công cuộc bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Có thể sử dụng nhiều hình thức đa dạng như: qua đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên, thông qua các kênh truyền thông trong nước và quốc tế, qua Internet, mạng xã hội (Youtube, Facebook, Twitter…) để đưa những thông tin lịch sử minh chứng cho chủ quyền biển, đảo của Việt Nam đã có từ lâu đời, cập nhật diễn tiến tình hình trên Biển Đông và thông tin rộng rãi chủ trương Việt Nam bảo vệ chủ quyền biển, đảo bằng con đường hòa bình… nhằm giúp mọi người hiểu và tích cực ủng hộ nước ta. Đặc biệt, chú trọng phát huy vai trò của từng người dân trong tuyên truyền về chủ quyền biển, đảo, khuyến khích họ sử dụng mạng xã hội để biến sức mạnh trên mạng thành sức mạnh trong thực tế, kết nối và tăng cường sự ủng hộ của đồng bào trong nước, bạn bè quốc tế một cách liên tục, hiệu quả.
- Huy động sự ủng hộ về vật chất và cả tinh thần của người dân ở trong và ngoài nước để ủng hộ ngư dân bám biển, ủng hộ lực lượng cảnh sát biển làm nhiệm vụ gìn giữ chủ quyền biển, đảo thông qua các hình thức: tổ chức những cuộc vận động, chương trình tuyên truyền về chủ quyền biển, đảo, lập quỹ ủng hộ vì biển, đảo quê hương,… Những việc làm này cần được tiến hành thường xuyên, mở rộng không chỉ ở phạm vi người Việt trong nước mà còn ở nước ngoài, hướng tới thu hút sự quan tâm, tham gia của nhân dân ta và bạn bè thế giới yêu chuộng hòa bình, chính nghĩa.
- Làm tốt công tác vận động quần chúng, gắn với biểu dương kịp thời những tấm gương vận động quần chúng tích cực, hiệu quả nhằm bảo đảm duy trì, phát triển hiệu quả khối đại đoàn kết toàn dân về cả chất và lượng; xử lý nghiêm những trường hợp lợi dụng đại đoàn kết để gây mâu thuẫn dân tộc, làm mất ổn định an ninh xã hội.
- Không ngừng tạo mối liên hệ đoàn kết dân tộc gắn với đoàn kết quốc tế, tranh thủ sự ủng hộ của người Việt Nam ở nước ngoài và bạn bè thế giới thông qua con đường chính trị, ngoại giao, giao lưu văn hóa… nhằm nâng tầm chất lượng đại đoàn kết, tạo nên sức mạnh quốc gia kết hợp với sức mạnh quốc tế, sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, phục vụ hiệu quả công cuộc bảo vệ chủ quyền biển, đảo nước ta trong giai đoạn hiện nay










Đoàn kết thống nhất theo Tư tưởng Hồ Chí Minh
Nguyễn Quốc Gia
 Gv. Khoa Xây Dựng Đảng
   Chủ tịch Hồ Chí Minh người sáng lập rèn luyện Đảng ta, lãnh tụ thiên tài của dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới. Trọn cuộc đời Người đã chăm lo cho sự phát triển của cách mạng Việt Nam, chăm lo cho hạnh phúc của tất cả mọi người. Như nhà thơ Tố Hữu đã từng ca ngợi: “Nâng niu tất cả chỉ quên mình”. Đúng! Người đã quên mình mà hy sinh trọn đời cho dân tộc, cho đất nước, cho nhân dân và cho nhân loại. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng Người đã chăm lo xây dựng sự đoàn kết thống nhất cho toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết toàn quân và đoàn kết với nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới. Đọc lại  Hồ Chí Minh Tuyển tập, Hồ Chí Minh Toàn tập, một điều dễ cho chúng ta nhận thấy rằng: Hầu như tất cả những bài viết, bài nói chuyện của Người với đồng bào, đồng chí, với bạn bè, anh em Bác đều nhắc nhở phải giữ gìn sự đoàn kết, đoàn kết là sức mạnh, đoàn kết là chìa khoá của mọi thành công. Trong diễn văn mừng năm mới 1955, khi nói về vấn đề tranh thủ sự ủng hộ của thế giới cho cách mạng Việt Nam, Bác khẳng định  “Bất kỳ người nào, bất kỳ nhóm nào nếu họ tán thành hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ thì chúng ta cũng sẵn sàng thật thà đoàn kết với họ, chúng ta đoàn kết chặt chẽ với nhân dân các nước bạn” . Hay trong thư gửi Hội nghị cán bộ Y tế, Bác viết: “Bác góp vài ý kiến sau đây để giúp các cô, các chú thảo luận - Trước hết là phải thật thà đoàn kết, đoàn kết là sức mạnh của chúng ta, đoàn kết thì vượt được mọi khó khăn giành được nhiều thành tích”. Rồi trong lời kêu gọi ở lễ mừng Quốc khánh 2 - 9 năm 1955, Bác nhấn mạnh “Đoàn kết là lực lượng vô địch, lực lượng đoàn kết đã giúp cách mạng tháng Tám thành công, lực lượng đoàn kết đã giúp kháng chiến thắng lợi, lực lượng đoàn kết sẽ động viên nhân dân từ Bắc đến Nam đấu tranh thực hiện hoà bình, thống nhất, độc lập dân chủ trong cả nước”.
Còn trong buổi nói chuyện với Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 10 Bác đã căn dặn: “Để làm tròn nhiệm vụ thì phải luôn luôn đoàn kết nội bộ, nâng cao cảnh giác, chớ chủ quan khinh địch, tự mãn”. “Khi một dân tộc đã đoàn kết nhất trí, đấu tranh dành độc lập tự do…thì nhất định họ sẽ thắng lợi…”
Như vậy, xây dựng sự đoàn kết thống nhất trong Đảng luôn được Người coi là vấn đề quan trọng, mang ý nghĩa sống còn để giữ vững vai trò lãnh đạo cách mạng của Đảng. Đoàn kết thống nhất là nguồn gốc của sức mạnh, là then chốt của mọi thành công. Vì thế suốt cuộc đời hoạt động cách mạng sôi nổi của mình, Người đã đặc biệt chăm lo xây dựng rèn luyện để Đảng ta trở thành một khối đoàn kết thống nhất. Trước khi từ biệt chúng ta để về với thế giới vĩnh hằng, trong Di chúc để lại cho toàn Đảng, toàn dân ta, Người đã căn dặn: “Trước hết nói về Đảng, nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của nhân dân ta. Các đồng chí từ trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”.
Truyền thống đoàn kết của Đảng có cội nguồn từ truyền thống đoàn kết của dân tộc Việt Nam. Đối với nước ta, thắng lợi trong đấu tranh dành chính quyền, trong đấu tranh dựng nước, giữ nước và những thành quả bước đầu trong xây dựng CNXH (đặc biệt là những thành tựu củ hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới của đất nước). Xét đến cùng đều là kết quả của sự đoàn kết, thống nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta. Nói một cách khác, sự đoàn kết thống nhất trong Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
          Lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc Việt Nam gắn liền với truyền thống yêu nước, đoàn kết, kiên cường đấu tranh chống ngoại xâm, khoan dung độ lượng. Trải qua lịch sử hàng ngàn năm,  truyền thống ấy được phát triển ngày càng phong phú, khắc hoạ ngày càng đậm nét trong văn hoá, bản sắc dân tộc và là bộ phận hợp thành sức mạnh dân tộc..
          Trong quá trình tìm đường cứu nước Hồ Chí Minh đã sớm tìm ra nguyên nhân thất bại của các phong trào cách mạng dưới sự lãnh đạo của các vị tiền bối, chính  là đã không phá được, âm mưu“Chia để trị” mà thực dân Pháp thiết lập ở Việt Nam và Đông Dương. Bằng âm mưu thâm độc ấy thực dân Pháp muốn phá vỡ truyền thống đoàn kết sức mạnh trường tồn của dân tộc Việt Nam. Hồ Chí Minh đã tìm ra nguồn động lực, sức mạnh giải phóng cho dân tộc ngay trong lòng mọi người dân Việt Nam. Từ truyền thống yêu nước, truyền thống đoàn kết của dân tộc đã tạo thành sức mạnh của các phong trào đấu tranh chống ngoại xâm nối tiếp nhau đòi lại nền độc lâp  tự do cho Tổ quốc.
Thực tế đã cho ta thấy rõ, nhờ đoàn kết một lòng, thực hiện tốt tư tưởng Hồ Chí Minh, qua 78 năm đấu tranh cách mạng tuyệt đại bộ phận cán bộ, đảng viên của Đảng đã đoàn kết nhất trí, phấn đấu hy sinh không sợ khó khăn gian khổ. Phấn đấu vì mục tiêu: Vì sự nghiệp dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh; Vì độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước Việt Nam XHCN. Bằng sức mạnh đại đoàn kết, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta đấu tranh thắng lợi trong cách mạng giải phóng dân tộc và hiện nay đang lãnh đạo cách mạng Việt Nam từng bước quá độ tiến lên CNXH. Nhiệm vụ trước mắt là thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, lấy việc phát triển kinh tế là trọng tâm đưa đất nước Việt Nam từng bước đi lên. Đoàn kết trong Đảng đã trở thành hạt nhân xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết quốc tế rộng rãi để tạo nên sức mạnh cho cách mạng Việt Nam. Nhưng thực tế trong Đảng vẫn còn: “Một bộ phận cán bộ đảng viên, kể cả cán bộ chủ chốt các cấp, yếu kém cả về phẩm chất, năng lực, vừa thiếu tính tiên phong gương mẫu, vừa không đủ trình độ hoàn thành nhiệm vụ”(VKĐH X tr6). Điều đó đã làm giảm sút năng lực lãnh đạo và sức chiến đầu của Đảng, ảnh hưởng đến chính sách đại đoàn kiết dân tộc. Vì vậy, năm bài học kinh nghiệm đã được ĐH Đảng toàn quốc lần thứ IV  của Đảng rút ra từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, từ tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, mà đến nay vẫn còn nguyên giá trị: Đó là:
1. Đoàn kết thống nhất trong Đảng phải trên cơ sở chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương chính sách, đúng đắn của Đảng. Mục tiêu lý tưởng của Đảng nhất quán là Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, đó là điểm tập trung quy tụ mọi tổ chức Đảng, đảng viên và toàn thể quần chúng nhân dân xung quanh Đảng để thực hiện mục tiêu cao cả đó. Nếu xa rời mục tiêu lý tưởng này thì nội bộ Đảng sẽ bị chia rẽ, sự thống nhất của các tổ chức Đảng từ trung ương cho đến cơ sở, mọi cán bộ đảng viên sẽ mất phương hướng. Cán bộ đảng viên phải đặt lợi ích của Đảng, của cách mạng, của nhân dân lên trên hết như Bác Hồ đã từng căn dặn: “Ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc Đảng ta không có lợi ích gì khác” (3)
2. Thực hiện tốt các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt Đảng; trước hết là nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Đây là điều kiện quan trọng đảm bảo cho toàn Đảng luôn thống nhất về tổ chức tư tưởng và hành động. Các tổ chức Đảng thực hiện tốt vấn đề này sẽ quy tụ được trí tuệ của đông đảo đội ngũ cán bộ đảng viên và tập thể cấp uỷ; Đề cao trách nhiệm cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt các cấp. Ở cơ sở sẽ xác định đúng nhiệm vụ chính trị, đề ra nghị quyết và các giải pháp tổ chức thực hiện sẽ được sát đúng thực tế phù hợp với cơ sở. Các nghị quyết sẽ được nhận thức thống nhất, những sai lầm khuyết điểm cũng được phát hiện và sửa chữa kịp thời. Loại trừ từ gốc những mầm mống dẫn tời tình trạng không thống nhất về tư tưởng, tổ chức và hành động. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ dân chủ trong Đảng là nền tảng cho sự đoàn kết “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết thống nhất của Đảng” (4). Đảng chỉ mạnh thực sự khi trong Đảng có sự đoàn kết thống nhất cả trong tư tưởng, hành động và tổ chức, không đoàn kết một cách hình thức. Chỉ trên cơ sở đoàn kết thống nhất, dân chủ thì đảng viên mới thực sự trung thực, thẳng thắn, chân thành với nhau giúp nhau nhận rõ khuyết điểm sai lầm để cùng tiến bộ.
3. Thực hiện nghiêm chỉnh chế độ quy định về tự phê bình và phê bình trong Đảng.
Tự phê bình và phê bình là biện pháp quan trọng nâng cao trí tuệ, phát hiện và giải quyết những mâu thuẫn trong Đảng. Tự phê bình và phê bình đòi hỏi phải có tính Đảng, tính nguyên tắc cao; Phải đảm bảo tự phê bình và phê bình để tăng cường sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, tăng cường mỗi quan hệ giữa Đảng và quần chúng, là nội dung thường xuyên của sinh hoạt Đảng. Vì vậy, mỗi cán bộ đảng viên phải coi đấu tranh tự phê bình và phê bình trong Đảng cần thiết như cơm ăn, nước uống và không khí thở hàng ngày không được lơ là chểnh mảng. Nếu không thực hiện tốt điều này sẽ dễ dẫn đến mất đoàn kết trong Đảng; Nhưng đồng thời phải kịp thời ngăn chặn các biểu hiện lợi dụng dân chủ, lợi dụng phê bình gây chia rẽ mất đoàn kết.
4. Thường xuyên giáo dục và bồi dưỡng tình thương yêu đồng chí giữa cán bộ đảng viên.
 Cách mạng đòi hỏi đội ngũ cán bộ đảng viên phải gắn bó chặt chẽ với nhau không chỉ bằng tổ chức mà còn gắn bó với nhau bằng tình thương và lòng nhân ái của những người cùng chung chí hướng, cùng chung lý tưởng. Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm: Tình thương và lòng nhân ái là sự thống nhất giữa lý trí, tình cảm và tinh thần. Không có lý trí thì không thể xây dựng được một Đảng cách mạng chân chính; Nhưng không có tình cảm cách mạng, tình đồng chí, tình thương yêu giữa con người với nhau, thì đoàn kết trong Đảng chỉ là hình thức. Đối với tổ chức cơ sở Đảng sự hiểu biết cặn kẽ về công tác, về điều kiện sinh hoạt và hoàn cảnh của nhau… là những yếu tố góp phần quan trọng xây dựng nên khối đoàn kết thống nhất trong Đảng. Vì vậy, phải thường xuyên quan tâm giáo dục và bồi dưỡng tình thân ái đồng chí và sự cảm thông sâu sắc giữa đội ngũ cán bộ đảng viên với nhau.
5. Tập thể cấp uỷ, các đồng chí trong ban thường vụ nhất là đồng chí bí thư phải thực sự là trung tâm đoàn kết.
 Từ trung tâm đoàn kết đó mới quy tụ được đội ngũ cán bộ, đảng viên, mọi thành viên trong hệ thống chính trị và mọi tầng lớp nhân dân xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng..
  Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết thống nhất, chúng ta càng thấm thía hơn với tấm lòng bao dung, vị tha, bác ái trong tư tưởng của Người. Xin được lấy một nhận xét hết sức xác đáng và thú vị của giáo sư sử học Trần Văn Giầu để thay cho lời kết:
Trong cửa Phật không có khái niệm nào được lặp đi lặp lại nhiều lần bằng khái niệm “từ bi”. Trong cửa Khổng sân Trình không có khái niệm nào được nhắc đi nhắc lại nhiều lần bằng khái niệm “nhân nghĩa”. Trong vận động yêu nước và cách mạng chúng ta luôn nói “đoàn kết” mà không khi nào thừa; Chữ khắc lên đá càng vạch càng sâu, ý niệm trong tâm càng tụng càng thấm. Lời cụ Hồ dặn:
“Đoàn kết, đoàn kết đại đoàn kết. Thành công, thành công đại thành công”  là chân lý vĩnh hằng, là bí quyết tồn tại, là vinh quang của dân tộc ta đó.






Đồng thuận xã hội - một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Trần Đắc Hiến
TCCS - Đồng thuận xã hội là vấn đề xuất hiện và song hành cùng với sự ra đời và phát triển của xã hội loài người, do nhu cầu hợp tác và bảo tồn cuộc sống chung của các cộng đồng người trong lịch sử quy định. Cùng với sự phát triển của lịch sử xã hội, vấn đề đồng thuận ngày càng trở thành nhu cầu phổ biến, trên phạm vi rộng lớn và có ý nghĩa quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển bền vững của xã hội.
Trước hết có thể thấy rằng, khái niệm đồng thuận xã hội được phát triển từ khái niệm đồng thuận, với nghĩa là sự đồng ý với nhau giữa ít nhất hai người về một hoặc một số vấn đề nào đó, trên cơ sở đó đi đến thống nhất về hành động. Sự thống nhất giữa tư tưởng, ý chí và hành động của những lực lượng xã hội trong một hệ thống xã hội nhất định được xem là đồng thuận xã hội. Nói cách khác, đồng thuận xã hội là sự đồng tình, nhất trí với nhau của đại đa số thành viên trong xã hội về một hoặc một số vấn đề nào đó, trên cơ sở đó, các thành viên này gắn kết chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành động của mình nhằm đạt đến mục đích chung. Đồng thuận xã hội có nội dung đa dạng, phong phú, phức tạp trên nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, như kinh tế, chính trị, văn hóa, tâm lý, nhận thức, tín ngưỡng, tôn giáo; có nhiều phạm vi khác nhau và các mối quan hệ xã hội khác nhau, như trong nội bộ cộng đồng dân cư, tầng lớp, giai cấp, dân tộc, nhân loại hoặc quan hệ giữa các lực lượng xã hội ấy với nhau. Đồng thuận xã hội là điều kiện khách quan cho sự tồn tại, ổn định và phát triển bền vững của mỗi hệ thống xã hội; đồng thời là phương thức tập hợp lực lượng hữu hiệu nhất trong đời sống chính trị - xã hội của xã hội hiện đại. Trong lịch sử phát triển của xã hội nói chung, mỗi quốc gia, dân tộc nói riêng, đồng thuận xã hội có những biểu hiện đa dạng, diễn biến thăng trầm khác nhau tùy thuộc vào sự phát triển kinh tế - xã hội, đặc điểm thời đại, tương quan lực lượng giữa các giai cấp, tầng lớp xã hội và hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Mặc dù vậy, chúng tôi cho rằng, trong bất kỳ hoàn cảnh lịch sử - cụ thể nào, đồng thuận xã hội đều được thiết lập và củng cố trên các cơ sở chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, sự thống nhất về lợi ích chung giữa các thành viên xã hội, trong đó quan trọng nhất là về lợi ích kinh tế, chính trị và văn hóa. Trong đời sống xã hội có nhiều loại lợi ích khác nhau tùy thuộc cách tiếp cận, chẳng hạn lợi ích chung, lợi ích riêng, lợi ích cơ bản, lợi ích cá nhân, lợi ích giai cấp, lợi ích quốc gia dân tộc, lợi ích kinh tế, lợi ích chính trị, lợi ích văn hóa, lợi ích trước mắt, lợi ích lâu dài v.v.. Thực tiễn và lý luận đều cho thấy rằng, lợi ích là cơ sở để kết nối các thành viên của một cộng đồng xã hội nhất định; sự đồng thuận và tính chất bền vững của một cộng đồng xã hội phụ thuộc vào khả năng giải quyết mối quan hệ lợi ích giữa các thành viên của nó; vì lợi ích mà con người cùng nhau thỏa thuận để đi đến sự đồng thuận. Như vậy, cơ sở của đồng thuận xã hội là đồng thuận về lợi ích giữa các thành viên xã hội và bản chất của đồng thuận xã hội chính là sự đồng thuận về lợi ích. Phương thức để tạo ra đồng thuận xã hội là tìm kiếm sự đồng thuận về lợi ích chung trên phạm vi xã hội giữa các khuynh hướng, lực lượng xã hội khác nhau. Lợi ích chung này không phải là một đại lượng bất biến, mà tùy thuộc điều kiện lịch sử cụ thể, nội dung của nó có sự khác nhau.
Trong xã hội, giữa các thành viên xã hội luôn tồn tại sự khác nhau về nhận thức, địa vị xã hội, quan điểm, tư tưởng, tín ngưỡng, lập trường giai cấp... nên trên thực tế không thể tạo ra được một sự đồng thuận tuyệt đối và càng không thể áp đặt một cách máy móc những giá trị, lợi ích chung của nhóm xã hội này cho nhóm khác. Vấn đề mấu chốt là làm thế nào để các thành viên xã hội tự ý thức được giới hạn các lợi ích của mình trong quan hệ với lợi ích chung, từ đó đi đến thống nhất giới hạn của lợi ích chung để tạo ra được sự đồng thuận xã hội; trái lại, nếu lợi ích giữa các chủ thể xã hội mâu thuẫn gay gắt với nhau thì sẽ làm nảy sinh xung đột xã hội.
Thứ hai, sự tự nguyện nhất trí, tự giác gắn kết giữa các thành viên xã hội. Đồng thuận xã hội phải là kết quả của các cuộc thảo luận, đàm phán, thương thảo, thỏa thuận một cách khách quan, toàn diện trên quy mô xã hội. Xã hội càng tự do, dân chủ thì việc thảo luận càng diễn ra công khai, rộng rãi và do đó càng đạt được sự đồng thuận cao. Như vậy, giữa đồng thuận xã hội và dân chủ có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Xây dựng sự đồng thuận xã hội cũng chính là tiến tới xây dựng, hoàn thiện nền dân chủ; ngược lại, dân chủ càng được bảo đảm, các nguyên tắc của dân chủ càng được coi trọng thì càng đạt được sự đồng thuận xã hội ở mức cao. Nói cách khác, mức độ đồng thuận xã hội tỷ lệ thuận với chất lượng của đời sống dân chủ trong xã hội. Ngược lại, mọi sự cưỡng bức, áp đặt, vi phạm dân chủ cùng lắm cũng chỉ tạo ra được sự nhất trí tạm thời nào đó chứ không thể tạo ra sự đồng thuận đích thực, thậm chí còn tiềm ẩn khả năng dẫn đến xung đột xã hội.
Thứ ba, tôn trọng và thừa nhận những sự khác biệt không "đi ngược" mục tiêu chung, lợi ích chung của các thành viên xã hội. Chúng ta biết rằng, xã hội là một tập hợp những người không đồng nhất với nhau về lợi ích, nhu cầu, năng lực, quan điểm, tư tưởng... Những khác biệt này được xem là những "cái đơn nhất" của mỗi "cái riêng" trong mối liên hệ với "cái chung". Chính những sự khác biệt trong đồng thuận xã hội đã tạo nên tính đa dạng, phong phú, phức tạp trong đời sống xã hội. Bên cạnh sự khác biệt, đồng thuận xã hội cũng hàm chứa cả những đối lập trong chừng mực nhất định giữa các khuynh hướng, lực lượng xã hội. Đây là những nhân tố cần thiết trong quá trình vận động, phát triển xã hội. Sự đối lập này là có tính biện chứng chứ không phải siêu hình, hay có tính chất tiêu cực, đối kháng, phá hoại, gây bất ổn xã hội. Thực tế cho thấy, trong không ít trường hợp, những quan điểm khác biệt hoặc đối lập đã trở thành một kênh "phản biện xã hội" tích cực để qua đó các chủ thể lãnh đạo, quản lý đất nước điều chỉnh, hoàn thiện chủ trương, chính sách nhằm tạo ra sự đồng thuận xã hội trong việc thực thi những chủ trương, chính sách ấy một cách hiệu quả. Vì vậy, phản biện xã hội như một phương thức quan trọng để đạt đồng thuận xã hội. Bởi vì, không có phản biện xã hội thì sẽ không có dân chủ, không có dân chủ thực sự thì không thể có đồng thuận, đại đoàn kết dân tộc.
Đồng thuận xã hội còn bao hàm cả sự đấu tranh giữa các mặt đối lập diễn ra trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Phép biện chứng duy vật mác-xít đã chỉ rõ, sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan vận động, phát triển luôn gắn liền với sự vận động, phát triển và giải quyết các mâu thuẫn. Xây dựng và tăng cường đồng thuận xã hội cũng chính là quá trình không ngừng phát hiện và giải quyết các mâu thuẫn xã hội. Dựa trên cơ sở những điểm tương đồng, sự đấu tranh giải quyết mâu thuẫn nhằm đạt được sự thống nhất. Như vậy, đồng thuận xã hội chính là mục đích của việc giải quyết mâu thuẫn biện chứng giữa những mặt đối lập để khắc phục những bất đồng về tư tưởng, quan điểm, lợi ích và hành động giữa các lực lượng xã hội nhằm đi đến sự thống nhất chung. Các mâu thuẫn ở đây được giải quyết bằng phương thức "kết hợp các mặt đối lập" nhằm củng cố, tăng cường mối quan hệ đoàn kết, thống nhất và đồng thuận giữa các lực lượng xã hội, tạo động lực thúc đẩy xã hội phát triển.
Về nguyên tắc, đồng thuận xã hội là yếu tố thuộc bản chất của xã hội xã hội chủ nghĩa (XHCN), là mục tiêu phấn đấu không ngừng của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta. Ngay từ khi mới ra đời, Đảng ta đã chủ động tích lũy kinh nghiệm, lắng nghe các quan điểm, tư tưởng chính diện, phản diện trong các lực lượng cách mạng của quần chúng. Trên cơ sở đó, phân tích kỹ lưỡng, đề ra các giải pháp nhằm dần dần xóa bỏ những khác biệt, bất đồng, đối lập, đồng thời thúc đẩy mối quan hệ đoàn kết gắn bó các tầng lớp nhân dân dưới ngọn cờ của Đảng cùng nhau thực hiện thắng lợi cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng CNXH. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng chữ "đồng", với nội dung hết sức phong phú, sinh động và biện chứng, như đồng tâm, đồng lòng, đồng mục tiêu, đồng lý tưởng, đồng lợi ích v.v.. Người viết: "Dân ta xin nhớ chữ đồng: đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh"; "Biết đồng sức, Biết đồng lòng. Việc gì khó làm cũng xong". Người cũng chỉ rõ: "Sử ta dạy ta bài học này: Lúc nào dân tộc ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập tự do. Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn". Từ đó, với nguyên tắc: Dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết, Người chủ trương: đoàn kết rộng rãi, đoàn kết chặt chẽ, đoàn kết lâu dài với tất cả những ai có thể đoàn kết được vì mục tiêu chung. Nhờ vậy, đã quy tụ được mọi thành phần xã hội thuộc các giai cấp, tầng lớp, các dân tộc, tôn giáo, kể cả những người bóc lột và bị bóc lột, những người trước đây từng là kẻ thù của nhân dân nhưng nay đã thực sự ăn năn, hối cải... dưới ngọn cờ cách mạng, nhằm xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, tạo nên sức mạnh tổng hợp để cùng nhau tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc. Người chủ trương: Mặt trận sẵn sàng đoàn kết tất cả những người yêu nước không phân biệt xu hướng chính trị, tín ngưỡng, tôn giáo...; không phân biệt họ thuộc đảng phái nào... và quá khứ của họ đã hợp tác với phe nào; Bất kỳ ai mà thật thà tán thành hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ thì dù những người đó trước đây chống chúng ta, bây giờ chúng ta cũng thật thà đoàn kết với họ. Tư tưởng ấy xuất phát từ tinh thần biện chứng và nhân văn sâu sắc trong nhân cách văn hóa Hồ Chí Minh. Nhờ đó, đã tạo ra sự đồng thuận xã hội rộng lớn, có đủ sức mạnh trong việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.
Quán triệt tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn chú trọng xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc nhằm tạo ra sự đồng thuận, thống nhất cao về ý chí và hành động trong toàn xã hội. Ưu thế của Đảng ta trong việc tạo ra sự đồng thuận xã hội là chúng ta chỉ có duy nhất một đảng, đồng thời là đảng cầm quyền; chúng ta có lực lượng quần chúng nhân dân gắn bó máu thịt với Đảng qua các cuộc chiến tranh vệ quốc; nhân dân ta có truyền thống đoàn kết gắn bó với nhau. Đồng thuận xã hội tạo điều kiện quy tụ được lực lượng của toàn dân, để xây dựng cơ sở xã hội - chính trị vững chắc của Đảng. Mục tiêu và quan điểm cơ bản của Đảng ta là tăng cường đồng thuận xã hội, khắc phục những khác biệt, bất đồng để đi đến thống nhất tư tưởng và hành động, từ đó tạo ra sức mạnh tổng hợp để đưa công cuộc đổi mới theo định hướng XHCN đi đến thắng lợi, đồng thời chống quan liêu, tham nhũng có hiệu quả và đánh bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá cách mạng của các thế lực thù địch. Với ý nghĩa đó, đồng thuận xã hội không phải là sách lược mà là một chiến lược của Đảng.
Đồng thuận xã hội ở nước ta hiện nay phản ánh yêu cầu khách quan của việc xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; thể hiện nguyện vọng chung của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta. Đồng thuận xã hội được thực hiện trên cơ sở kết hợp hài hòa lợi ích của các giai cấp, tầng lớp nhân dân lao động Việt Nam, bao gồm đồng bào các dân tộc, các tôn giáo, các tầng lớp nhân dân ở trong nước và đồng bào ta định cư ở nước ngoài. Việc kết hợp này được thực hiện trên cơ sở mục tiêu lợi ích chung là giữ vững độc lập dân tộc, thống nhất của Tổ quốc, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; trên nguyên tắc lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và xã hội gắn chặt và thống nhất với nhau, trong đó lợi ích cá nhân là động lực trực tiếp; coi trọng lợi ích cá nhân nhưng không tuyệt đối hóa, không chấp nhận chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ dẫn đến mâu thuẫn gay gắt, làm tổn hại đến lợi ích chung của cộng đồng, của dân tộc; kết hợp hài hòa lợi ích trước mắt với lợi ích lâu dài, lợi ích địa phương và lợi ích cả nước. Đảng ta chủ trương: "Đại đoàn kết toàn dân tộc cần lấy mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất của Tổ quốc, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh làm điểm tương đồng để gắn bó đồng bào các dân tộc, các tôn giáo, các tầng lớp nhân dân ở trong nước và đồng bào ta định cư ở nước ngoài; xóa bỏ mọi mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử về quá khứ, thành phần giai cấp; tôn trọng những ý kiến khác nhau không trái với lợi ích của dân tộc; đề cao truyền thống nhân nghĩa, khoan dung, xây dựng tinh thần cởi mở, tin cậy lẫn nhau, giữ gìn sự ổn định chính trị và đồng thuận xã hội vì tương lai tươi sáng của dân tộc". Đồng thời Đảng cũng khẳng định: "Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hòa các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế, của toàn xã hội".
Đồng thuận xã hội là nhân tố quan trọng góp phần bảo đảm ổn định chính trị, xã hội, tạo điều kiện phát triển kinh tế, thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Do đó, xây dựng đồng thuận xã hội là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, của các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội và là trách nhiệm của mỗi công dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Để đạt được đồng thuận xã hội, theo chúng tôi, cần phải:
Một là, tạo ra cơ chế để mọi người đồng thuận với nhau và đồng thuận với sự hướng dẫn chính trị của Đảng và Nhà nước trong từng nhiệm vụ, từng giai đoạn phát triển của đất nước; tạo điều kiện để mỗi người đều thấy mình được tự do, được tôn trọng, có quyền bình đẳng như tất cả mọi người khác; hình thành và mở rộng các diễn đàn để thông qua đó mọi người có điều kiện cùng trao đổi, thương lượng, đàm phán, thỏa thuận để đi đến thống nhất về tư tưởng và hành động với nhau.
Hai là, xử lý hài hòa mối quan hệ lợi ích giữa các giai cấp, tầng lớp, các khuynh hướng, lực lượng xã hội trong quá trình hoạch định chính sách, chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của đất nước.
Ba là, kiên trì quan điểm lấy dân làm gốc, lấy lợi ích căn bản của đại đa số nhân dân làm điểm xuất phát và cơ sở của mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Điều này đòi hỏi các chủ thể lãnh đạo đất nước phải biết lắng nghe một cách nghiêm túc, chân thành những tâm tư, nguyện vọng của quần chúng nhân dân và quần chúng nhân dân cũng phải hiểu biết những người cầm quyền của mình.
Bốn là, mở rộng và thực thi có hiệu quả dân chủ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, coi đó vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng. Qua đó nhằm động viên, phát huy tính chủ động, sáng tạo, sức mạnh vật chất, tinh thần của nhân dân, tạo ra động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội và củng cố mối quan hệ đoàn kết toàn dân tộc; đồng thời góp phần xây dựng Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể nhân dân trong sạch, vững mạnh, ngăn chặn và đẩy lùi có hiệu quả nạn quan liêu, tham nhũng, củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước, tạo ra sự đồng thuận cao trong đời sống xã hội.
Năm là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, giáo dục để các giai cấp, tầng lớp nhân dân, các lực lượng xã hội tự nguyện thống nhất với nhau về các vấn đề cơ bản, vì mục tiêu và lợi ích chung của đất nước; chú trọng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân kết hợp với phát huy truyền thống nhân nghĩa, khoan dung của dântộc.
Sáu là, có thái độ khách quan, khoa học trong việc nhận thức, phân tích và xử lý những quan điểm, tư tưởng lệch lạc, sai trái trong nhân dân; tích cực, chủ động trong việc giải quyết các mâu thuẫn nội bộ nhân dân nhằm tăng cường đồng thuận xã hội. Việc giải quyết mâu thuẫn được thực hiện bằng các biện pháp tuyên truyền, vận động, giác ngộ cách mạng trong quần chúng kết hợp với các giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Thực tế cho thấy, đồng thuận xã hội khó có thể được xây dựng và tồn tại bền vững trên nền tảng của sự yếu kém kéo dài về mọi mặt trong xã hội, nhất là về kinh tế. Nếu tình trạng trì trệ, yếu kém toàn diện kéo dài, nhất là về kinh tế, thì sớm muộn sẽ dẫn đến những biến cố gây bất ổn và rối loạn xã hội. Sự tan rã của hệ thống XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu đã cho ta thấy điều này.
Trong xã hội hiện đại ngày nay, khuynh hướng đối đầu, đối địch giữa các quốc gia dần chuyển sang khuynh hướng đối thoại, hiệp thương, đối tác để hướng tới sự ổn định, cùng có lợi và phát triển. Tư tưởng xây dựng thế giới đại đồng, xã hội hài hòa, ổn định không những mang đậm tính nhân văn, mà còn là một khao khát của nhân loại tiến bộ. Đồng thuận xã hội là một trong những phương thức cơ bản nhất để đạt được mục tiêu đó./.  

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 







Giương cao ngọn cờ Đại đoàn kết Hồ Chí Minh vững bước vào thời kỳ phát triển mới

GS.TS. Phùng Hữu Phú.
UBTƯ Đảng, Phó Trưởng Ban Thường trực.
Ban Tuyên giáo Trung ương.
Để đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo bước đột phá trong phát triển đất nước, những năm tới Đảng Cộng sản Việt Nam phải dành nhiều công sức tạo bước chuyển biến rõ rệt về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, xây dựng Đảng thật sự trong sạch về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đoàn kết nhất trí cao, gắn bó mật thiết với nhân dân, có phương thức lãnh đạo khoa học, có đội ngũ cán bộ, đảng viên đủ phẩm chất và năng lực.
Dĩ bất biến ứng vạn biến
Càng đi sâu nghiên cứu, suy ngẫm, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, đối chiếu với sự vận động theo dòng chảy thời gian của đời sống, càng thấy tầm phủ sóng rộng lớn và độ mở khôn cùng tư tưởng của Người. Có thể tìm thấy trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh nhiều, rất nhiều vấn đề còn nóng hổi tính thời sự, đặc biệt là tư tưởng đại đoàn kết – sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong các bài viết, bài nói và cuộc đời hoạt động vô cùng phong phú, cao đẹp của Người. Đại đoàn kết, từ tư duy truyền thống đến Hồ Chí Minh đã trở thành một chiến lược cách mạng nhất quán, thành bí quyết thành công của cách mạng Việt Nam.
Trong cuộc đấu tranh trường kỳ giành và giữ độc lập, tự do, thống nhất đất nước, tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh đã trở thành ngọn cờ tập hợp, phát huy sức mạnh toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, đưa cách mạng Việt Nam vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, giành những thắng lợi vĩ đại. Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; thành công, thành công, đại thành công công là sự đúc kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh về bài học lịch sử cơ bản, phản ánh quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam.
Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, trung thành với tư tưởng cách mạng và khoa học của Người, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng củng cố, bồi đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường, mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, tiếp tục lãnh đạo nhân dân Việt Nam hoàn thành thắng lợi cách mạng dân tộc dân chủ trên phạm vi cả nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, giành những thắng lợi to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc đổi mới.
Ở thời điểm kết thúc thập niên thứ nhất, chuẩn bị bước vào thập niên thứ hai của thế kỷ XXI, Việt Nam đứng trước những thời cơ, vận hội phát triển mới, đồng thời cũng phải đối mặt với những khó khăn, thách thức không nhỏ. Thành quả to lớn sau một phần tư thế kỷ tiến hành sự nghiệp đổi mới đã làm tăng thêm nhiều lần thế và lực của đất nước; chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được tăng cường; độc lập, chủ quyền được giữ vững; đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện; vị thế và uy tín quốc tế được nâng cao. Đó là nền tảng cơ bản, tạo đà cho bước phát triển bứt phá trong chặng đường sắp tới. Tuy nhiên, tiềm lực và sức cạnh tranh chưa đủ mạnh của nền kinh tế đất nước trong cuộc ganh đua kinh tế gay gắt, quyết liệt toàn cầu; những hạn chế, yếu kém chậm được khắc phục trong quản lý, giải quyết những vấn đề văn hóa, xã hội, nhất là tình trạng phân hóa giàu nghèo, phân tầng xã hội; cuộc đấu tranh cam go chống tham nhũng, tiêu cực nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước; tính chất gay gắt của cuộc đấu tranh tư tưởng trước sự chống phá điên cuồng của các thế lực thù địch và sự phức tạp trong cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, quyền chủ quyền trước xu hướng gia tăng cuộc chạy đua tranh giành tài nguyên, năng lượng và các địa bàn chiến lược giữa các quốc gia… là những khó khăn, thách thức đang đặt ra, đòi hỏi phải được giải quyết.
Trong bối cảnh đó, kế thừa và phát triển sáng tạo tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh chính là phương sách tạo nên sức mạnh vô địch dựng nước và giữ nước; chính là lấy cái bất biến để ứng phó với cái vạn biến của thời cuộc.
Dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết; tất cả do con người, vì con người
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh trọn đời hy sinh phấn đấu vì mục đích cao cả: dân tộc độc lập – nhân dân tự do – con người hạnh phúc. Mọi suy nghĩ, tình cảm và hành động của Người đều hướng vào, đều xoay quanh mục tiêu duy nhất đó. Chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh trở thành ngọn cờ hiệu triệu, động viên sức mạnh vĩ đại của đông đảo lực lượng yêu nước, cách mạng chính là vì Người đã nhận thức đúng đắn sự thống nhất biện chứng và giải quyết hài hoà lợi ích dân tộc – lợi ích giai cấp – lợi ích con người phù hợp với yêu cầu và điều kiện của từng thời kỳ, giai đoạn cách mạng.
Những năm tháng đất nước bị chủ nghĩa thực dân đô hộ, nhân dân sống trong lầm than nô lệ; độc lập, chủ quyền dân tộc bị chà đạp; Tổ quốc bị chia cắt, độc lập, tự do, hòa bình, thống nhất là đòi hỏi khách quan của toàn dân tộc, là ý nguyện của mọi giai tầng xã hội, là khát vọng của mỗi người Việt Nam yêu nước. Lúc này, lợi ích dân tộc, giai cấp, con người thống nhất làm một – nước mất thì nhà tan; không giành được lợi quyền cho dân tộc thì lợi ích của giai cấp, của con người đến vạn năm cũng không đòi lại được. Trong hoàn cảnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt lợi ích dân tộc lên hàng đầu: Dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết, dù phải đốt cháy cả dãy Trường sơn cũng phải giành cho được độc lập, nếu còn một tên xâm lược trên đất nước ta, thì ta còn phải chiến đấu quét sạch chúng đi … Những lời kêu gọi tràn đầy tính tư tưởng và hành động của Người đã khơi dậy chủ nghĩa yêu nước và khí phách anh hùng của dân tộc, nhân dân, con người Việt Nam, tạo nên những kỳ tích trong Cách mạng Tháng Tám và hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược.
Trong khi đề cao lợi ích dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm đến lợi ích con người. Trước khi giành được chính quyền, Người đặc biệt chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo phong trào đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ: ruộng đất cho dân cày; tăng lương, giảm giờ làm cho thợ thuyền; quyền tự do cho công chức, viên chức, học sinh, sinh viên… Đất nước vừa được độc lập, trước sự đe dọa của thù trong, giặc ngoài, tình thế như ngàn cân treo sợi tóc, Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa lãnh đạo Chính phủ lâm thời lo chống giặc ngoại xâm, vừa dồn sức chống giặc đói, giặc dốt. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Người chủ trương vừa kháng chiến vừa kiến quốc, vừa đánh giặc vừa tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, đảm bảo đời sống cho nhân dân, bộ đội. Trong quá trình xây dựng chế độ xã hội mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên căn dặn các cấp ủy đảng, chính quyền từ Trung ương đến địa phương chăm lo cho con người, từ cái kim sợi chỉ, tương cà mắm muối, việc học hành, khám chữa bệnh, đến đảm bảo quyền tự do, bình đẳng và cơ hội phát triển, tiến bộ. Trước khi qua đời, trong Di chúc gửi lại cho toàn Đảng, toàn dân, Người căn dặn ”Đầu tiên là công việc đối với con người”’, ”Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa nhằm nâng cao đời sống của nhân dân” . Có thể nói, như lời cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng: ”Tư tưởng Hồ Chí Minh luôn luôn xuất phát từ con người và cuối cùng trở về với con người với những khả năng thiên biến vạn hóa của nó”.
Dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết; tất cả do con người, vì con người – đó chính là nền tảng trong Chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh; là mẫu số chung để tăng cường sự thống nhất, đồng thuận và hóa giải những khác biệt, thậm chí mâu thuẫn về lợi ích theo phương châm cầu đồng tồn dị. Đây là bài học lớn đối với cách mạng Việt Nam hiện nay.
Đảng Cộng sản Việt Nam, trong quá trình lãnh đạo đất nước luôn nhất quán mục tiêu xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; trước mắt, đang động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phấn đấu đến năm 2020 đưa đất nước cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Mục tiêu lý tưởng đó thật cao đẹp; mục tiêu phấn đấu trước mắt có ý nghĩa thật lớn lao, thiết thực. Cần tăng cường tuyên truyền, vận động để mục tiêu phấn đấu đó từ ý tưởng trong Cương lĩnh, trong Chiến lược của Đảng thấm sâu vào tư tưởng, tình cảm của đông đảo cán bộ, đảng viên, nhân dân, của mỗi người Việt Nam yêu nước, trở thành khát vọng, ý chí, quyết tâm chấn hưng đất nước, thành mẫu số chung quy tụ đại đoàn kết toàn dân tộc, biến nó thành sức mạnh hành động trong lao động, sáng tạo xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.
Trung thành với chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh, những năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đặt vấn đề con người ở vị trí trung tâm của chiến lược phát triển, xem con người vừa là mục tiêu vừa là động lực, ”thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước và từng chính sách phát triển; tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, y tế, giáo dục… giải quyết tốt các vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người.” Trên thực tế, cùng với những thành tựu to lớn của sự nghiệp đổi mới, Việt Nam đã thành công trong công cuộc xoá đói giảm nghèo, thực hiện thắng lợi những mục tiêu thiên niên kỷ. Điều kiện sống, lao động, học tập, chăm sóc sức khỏe của người Việt Nam không ngừng được cải thiện; quyền con người được tôn trọng, bảo đảm; ước mơ, hoài bão và tài năng sáng tạo của con người được khuyến khích, trân trọng. Tuy nhiên, do tiềm lực kinh tế còn hạn chế, do tác động của thiên tai cùng ảnh hưởng những biến động khó lường của kinh tế quốc tế trong bối cảnh hội nhập và do cả những yếu kém trong quản lý, giải quyết các vấn đề xã hội, đời sống của một bộ phận nhân dân, nhất là đồng bào vùng sâu, vùng xa, những người làm công ăn lương, những gia đình chính sách, neo đơn, cô quả… còn khó khăn; khoảng cách giàu nghèo chậm được thu hẹp; tiến bộ và công bằng xã hội triển khai chưa đồng bộ; có nơi, có lúc quyền và lợi ích của con người còn bị xâm phạm. Bước vào thời kỳ phát triển mới, Đảng, Nhà nước cần đầu tư thích đáng các nguồn lực; hoàn thiện và thực hiện hiệu quả các cơ chế, chính sách đảm bảo phúc lợi và an sinh xã hội, nâng cao chất lượng sống và bồi đắp, phát huy tài năng lao động, sáng tạo vốn rất tiềm tàng của người Việt Nam, nhân lên sức mạnh kết đoàn và nguồn năng lượng nội sinh vô tận. Những năm tháng này, lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chăm lo cho con người có ý nghĩa thời sự sâu sắc biết nhường nào: ”Vấn đề con người là hết sức quan trọng. Nhà máy cũng rất cần có thêm, có sớm, nhưng cần hơn là con người, là sự phấn khởi của quần chúng. Làm tất cả là do con người”
Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân
Trong các di cảo của Chủ tịch Hồ Chí Minh mãi mãi ngời sáng những dòng chữ viết về Nhân Dân:
”Nước lấy dân làm gốc”
”Gốc có vững cây mới bền,
Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”;
”Trong bầu trời không có gì quí hơn nhân dân.
Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”;
”Dễ trăm, lần không dân cũng chịu,
Khó vạn lần dân liệu cũng xong”.
Đại đoàn kết toàn dân tộc thực chất là đoàn kết toàn dân. Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, phạm trù Nhân Dân mở rộng biên độ tới tất cả mọi người Việt Nam yêu nước, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, giàu nghèo, trong nước hay ở nước ngoài – ai tự nguyện nhận mình là con Lạc cháu Hồng thì người đó là một tế bào của Nhân Dân. Theo Người, Nhân Dân tuy là một phạm trù mở về biên độ, nhưng chặt chẽ về cơ cấu, tổ chức – Mặt trận dân tộc thống nhất và các đoàn thể chính trị, xã hội, nghề nghiệp là tổ chức tập hợp, vận động, hướng dẫn và đại diện cho quyền lợi của Nhân Dân, liên minh công nhân, nông dân, trí thức là nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra mối quan hệ máu thịt giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước cách mạng với Nhân Dân. Một mặt, Nhân Dân chỉ có thể trở thành lực lượng tự giác và phát huy cao nhất tiềm năng, sức mạnh của mình một khi có Đảng Cộng sản, lãnh đạo; mặt khác, Đảng Cộng sản chỉ nắm được và giữ vững quyền lãnh đạo đất nước, xã hội khi nào Nhân Dân tin tưởng, đi theo và hết lòng ủng hộ. Vì vậy, Đảng Cộng sản phải hết lòng, hết sức phụng sự Nhân Dân; cán bộ, đảng viên phải là người lãnh đạo, đồng thời là người đầy tớ, người công bộc thật sự trung thành của Nhân Dân. Tất cả quyền lực và của cải là của Nhân Dân; Nhân Dân trao quyền cho Nhà nước điều hành, quản lý, và do vậy Nhà nước phải phấn đấu trở thành nhà nước thật sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; phải nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động, mang lại những lợi ích thiết thực phục vụ nhân dân.
Trọng dân, gần dân, hiểu dân, yêu dân, học dân, có trách nhiệm với dân; nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin, mọi chủ trương, chính sách xuất phát từ dân và trở về với dân… chính là phương châm hành động và phong cách Hồ Chí Minh. Suốt cuộc đời mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh tình nguyện làm một người lính vâng lệnh quốc dân đồng bào mà phấn đấu hy sinh, ”Hết lòng, hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân”.  Nhân dân Việt Nam thành kính biết ơn, tuyệt đối tin theo và đoàn kết xung quanh Người chính là vì lòng yêu nước, thương dân bao la đó.
Mấy chục năm qua, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá, nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, từ ngày thành lập đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân Việt Nam hăng hái đấu tranh, tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.Ở thời điểm chuẩn bị bước vào thập niên thứ hai của thế kỷ XXI với mục tiêu phấn đấu có ý nghĩa lịch sử, trong bối cảnh thuận lợi và thách thức đan xen, các thế lực thù địch đang tìm mọi cách chống phá hòng phân hóa nội bộ nhân dân, kích động chia rẽ, đối lập Nhân Dân với Đảng, việc kế thừa, phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh, chăm lo bồi dưỡng sức dân, phát huy dân chủ, quyền làm chủ và tiềm năng to lớn của Nhân Dân trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc có ý nghĩa sống còn. Vấn đề cấp bách phải làm ngay là tập trung xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong một phận cán bộ, đảng viên; khắc phục những yếu kém, khuyết điểm trong quản lý kinh tế, xã hội; giải quyết có hiệu quả những vấn đề xã hội và dân sinh bức xúc; nâng cao dân trí, dân khí, dân sinh; kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh tâm lý – thông tin của các thế lực thù địch… nhằm củng cố niềm tin và bồi đắp quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhân Dân với Nhân Dân. Làm tốt những công việc này thì khó khăn, thử thách nào cũng có thể vượt qua; mục tiêu, nhiệm vụ nào Việt Nam cũng có thể thực hiện thắng lợi.
Quan san muôn dặm một nhà
Trong tư tưởng và hành động của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đoàn kết dân tộc luôn gắn liền với đoàn kết quốc tế, chủ nghĩa yêu nước chân chính luôn hòa quyện và thống nhất với chủ nghĩa quốc tế trong sáng. Hiếm có lãnh tụ quốc gia nào như Chủ tịch Hồ Chí Minh, một phần lớn cuộc đời tranh đấu của mình lại gắn bó mật thiết, ở tầng sâu và tầm cao, với thực tiễn phong trào cách mạng thế giới; nhận thức và giải quyết những vấn đề của đất nước, dân tộc mình từ tầm nhìn nhân loại và xu thế thời đại. Từ rất sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, cách mạng Việt Nam là một bộ phận khăng khít của cách mạng thế giới, cách mạng Việt Nam muốn thắng lợi phải có một đảng chân chính lãnh đạo để trong thì tập hợp mọi lực lượng yêu nước, ngoài thì liên kết với giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức, bóc lột nơi nơi. Khi đất nước đã giành được độc lập về chính trị, phải tiến hành sự nghiệp kháng chiến kiến quốc, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất đất nước và xây dựng chế độ xã hội mới, với trách nhiệm là người đứng đầu Đảng và Nhà nước Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định: “Việt Nam chỉ muốn hoà bình và độc lập để cộng tác thân thiện với các dân tộc trên thế giới”; Việt Nam là một bộ phận trong đại gia đình châu Á, một bộ phận trong nền hòa bình chung toàn thế giới; “Thái độ nước Việt Nam đối với những nước châu Á là một thái độ anh em, đối với ngũ cường là thái độ bạn bè” ; “làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”. Tư tưởng đoàn kết quốc tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh có sức thu hút và lan tỏa sâu rộng bởi lẽ đó là tư tưởng vì hòa bình, công lý, vì tình hữu nghị giữa các quốc gia, dân tộc, là sự kết hợp hài hoà đoàn kết để tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ, giúp đỡ của nhân loại tiến bộ với thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả theo tinh thần thuỷ chung, trong sáng. Người thường căn dặn: giúp bạn chính là giúp mình.
Là anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá kiệt xuất của dân tộc Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đồng thời là chiến sĩ quốc tế lỗi lạc, “góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hoà bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội (…), những tư tưởng của Người là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc của dân tộc mình và tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau”. Những người yêu chuộng hoà bình, công lý và tiến bộ xã hội trên toàn thế giới khâm phục, ngưỡng mộ Chủ tịch Hồ Chí Minh vì Người là hiện thân cho tình anh em bốn biển và thông qua những hoạt động không mệt mỏi, những cống hiến xuất sắc của Người đối với cộng đồng quốc tế, nhân loại tiến bộ hiểu nhiều hơn, ủng hộ và hết lòng giúp đỡ sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa của dân tộc Việt Nam anh hùng. Đáp lại tình cảm và sự giúp đỡ quốc tế quý báu đó, trước khi qua đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh có tâm nguyện thay mặt nhân dân Việt Nam đi thăm và cảm ơn các nước anh em trong phe xã hội chủ nghĩa và các nước bầu bạn khắp năm châu đã tận tình ủng hộ và giúp đỡ cuộc chống Mỹ, cứu nước của Việt Nam.
Thế giới ngày nay đã có nhiều thay đổi. Nhân loại đang chứng kiến sự cùng tồn tại, hợp tác và đấu tranh giữa các quốc gia có chế độ chính trị, xã hội khác nhau. Toàn cầu hóa cùng sự phát triển như vũ bão của khoa học, công nghệ và sự biến đổi khắc nghiệt của khí hậu và những hiểm hoạ chung đang và sẽ đặt trước nhân loại những vận hội và thách thức mới. Xu hướng hòa bình, hợp tác, phát triển vẫn là xu hướng lớn, chủ đạo; các quốc gia ngày càng xích lại gần nhau trong sự tùy thuộc về lợi ích và yêu cầu chung tay giải quyết những vấn đề toàn cầu. Tuy nhiên, sự phục hồi chủ nghĩa dân tộc cực đoan và sự gia tăng cuộc cạnh tranh ảnh hưởng, quyền lực, tài nguyên… vẫn là những nguy cơ tiềm ẩn dẫn đến mâu thuẫn và xung đột khu vực và quốc tế không thể xem thường.
Trong bối cảnh đó, Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước và nhân dân Việt Nam tiếp tục kế thừa, phát triển tư tưởng đoàn kết quốc tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hợp tác, phát triển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tê.ë Việt Nam đang và sẽ là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế (13), vừa kiên quyết giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, vừa làm tròn nghĩa vụ và trách nhiệm với cộng đồng quốc tế, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Một thế giới hòa bình, thịnh vượng, một cộng đồng quốc tế hữu nghị, hiểu biết, tôn trọng lẫn nhau trên tinh thần anh em, bè bạn – đó là mong muốn và phấn đấu suốt đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó cũng là ước nguyện của dân tộc Việt Nam, một dân tộc khao khát, yêu chuộng hòa bình, đạo lý nhân nghĩa thủy chung và cũng là một dân tộc sẵn sàng đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để bảo vệ hòa bình, độc lập, chủ quyền của Tổ quốc.
Giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình
Đảng Cộng sản Việt Nam là thành viên đặc biệt của Mặt trận dân tộc thống nhất, là hạt nhân đóng vai trò lãnh đạo, tổ chức, hướng dẫn hoạt động của Mặt trận. Sự đoàn kết, thống nhất của Đảng tác động rất lớn đến việc tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm sâu sắc đến công tác xây dựng Đảng, nói chung, đến việc củng cố, tăng cường sự đoàn kết, nhất trí của Đảng, nói riêng. Trong bản Di chúc lịch sử, với tư cách là người sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết những suy nghĩ trăn trở cả một đời về Đảng, xem đó là công việc quan trọng trước hết để dặn lại những người đồng chí của mình. Người viết: ”Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”. Người dặn dò, trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phêâ bình; phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau; mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, phải giữ gìn Đảng thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân.
Hơn bốn mươi năm đã trôi qua, những lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn vẹn nguyên giá trị lý luận và thực tiễn. Tuyệt đại bộ phận những người cộng sản Việt Nam đã giữ đúng lời thề khi vĩnh biệt vị Lãnh tụ thiên tài và vô cùng kính yêu của mình: Hết lòng hết sức giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng, tăng cường sức chiến đấu của Đảng, làm hạt nhân cho khối đoàn kết toàn dân, bảo đảm cho sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam hoàn toàn thắng lợi. Tuy nhiên, trong tiến trình cách mạng và đổi mới, do tác động của những tàn dư tư tưởng phong kiến, thực dân chưa bị quét sạch, tâm lý tiểu nông, sản xuất nhỏ chưa được khắc phục; do tính chất lâu dài, gian khổ, phức tạp của thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội; do sự kích thích, cám dỗ của mặt trái cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế chưa được phòng ngừa, ngăn chặn; do sự kích động chống phá tinh vi và hiểm độc của các thế lực thù địch chưa bị đánh bại và do cả những thiếu sót trong công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức, một bộ phận cán bộ, đảng viên không chịu tu dưỡng, rèn luyện đã bị tha hóa, biến chất. Đã có biểu hiện dao động, hoài nghi đường lối, chủ trương của Đảng; đã xuất hiện tư tưởng công thần, địa vị, cục bộ, bè phái; đã có hiện tượng đam mê, tranh giành quyền lực, chạy chức, chạy quyền… Những tiêu cực đó đã ảnh hưởng đến sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng, hạn chế sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế.
Để đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo bước đột phá trong phát triển đất nước, những năm tới Đảng Cộng sản Việt Nam phải dành nhiều công sức tạo bước chuyển biến rõ rệt về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, xây dựng Đảng thật sự trong sạch về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đoàn kết nhất trí cao, gắn bó mật thiết với nhân dân, có phương thức lãnh đạo khoa học, có đội ngũ cán bộ, đảng viên đủ phẩm chất và năng lực.
Đây là nhiệm vụ then chốt có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam.
87 năm trước, Nhà văn Xô viết Oxíp Manđenxtam đã viết trên báo Ogoniok về Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh với một dự cảm tốt đẹp: ”Từ Nguyễn Ái Quốc đã tỏa ra một thứ văn hóa, không phải văn hóa châu Âu, mà có lẽ là một nền văn hóa tương lai”.  Kỷ niệm 120 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh bên thềm Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng chính là dịp để những người cộng sản Việt Nam, một lần nữa, ôn lại những di sản tư tưởng vô giá của Người Thầy vĩ đại, để tin tưởng vững bước vào tương lai./.
Hồ Chí Minh sớm có tư tưởng tiên phong mở cử
Nguyễn Mạnh Cầm
Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị,
 nguyên Phó Thủ tướng chính phủ,
Bộ trưởng Bộ Ngoại giao
Từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã có những tư tưởng tiên phong theo xu hướng mở cửa, đa dạng hóa quan hệ với các nước, thu hút đầu tư, thúc đẩy quan hệ buôn bán với nước ngoài.Ngay từ đầu tháng 12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho những người đứng đầu các nước Anh, Trung Quốc, Mỹ, Liên Xô và Liên hợp quốc nêu rõ chính sách của Việt Nam là thực hiện chính sách mở cửa và hợp tác, mời các nhà đầu tư, các nhà kỹ thuật nước ngoài vào kinh doanh tại Việt Nam, sẵn sàng mở các cảng, sân bay và đường giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế, chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên hợp quốc.
Trong suốt hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Việt Nam luôn nêu cao ngọn cờ hòa bình, đưa ra nhiều sáng kiến hòa bình đồng thời đẩy mạnh hoạt động ngoại giao làm cho dư luận thế giới thấy được bản chất của tình hình Việt Nam, chiến tranh xâm lược của thực dân, đế quốc và luận điệu hòa bình giả dối của chúng.
Trong thư gửi cho người đứng đầu nhà nước và chính phủ của gần 70 nước trên thế giới trình bày tình hình chiến tranh Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Trải qua hơn 20 năm chiến tranh, hơn ai hết nhân dân Việt Nam rất thiết tha với hòa bình để xây dựng đời sống của mình. Hồ Chí Minh không đề cập hòa bình và chiến tranh một cách trừu tượng. Trong thư gửi Đại hội Nhân dân Việt Nam bảo vệ hòa bình, Người nêu rõ phong trào hòa bình phải gắn liền với phong trào độc lập dân tộc.
Người luôn lấy hòa bình hữu nghị và đạo lý làm tiêu chí để phân biệt bạn thù, phân biệt dân tộc với bọn phản động, hiếu chiến trong chính phủ của đối phương, luôn nêu cao ngọn cờ hòa bình, tập hợp rộng rãi nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới chống lại các thế lực gây chiến tranh xâm lược. Đó là nét đặc trưng của “ngoại giao tâm công” Hồ Chí Minh. Thực hiện đường lối “ngoại giao tâm công” với tinh thần đem đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo, ta đã tranh thủ được một mặt trận rộng rãi nhân dân thế giới ủng hộ nhân dân Việt Nam chống Mỹ xâm lược.
Đối với Người, ai làm gì lợi ích cho nhân dân, cho Tổ quốc ta đều là bạn. Bất kỳ ai làm điều gì có hại cho nhân dân và Tổ quốc ta là kẻ thù... Phải yêu Tổ quốc, yêu nhân dân. Phải có tinh thần dân tộc vững chắc và tinh thần quốc tế đúng đắn và phải làm cho nước mình ít kẻ thù hơn hết và nhiều bạn đồng minh hơn hết. Đối với nước Pháp và Mỹ, Hồ Chí Minh phân biệt nhân dân với các chính phủ cầm quyền, để tranh thủ lực lượng tiến bộ và thúc đẩy phong trào phản chiến của nhân dân các nước này, cô lập lực lượng hiếu chiến.
Hồ Chí Minh chủ trương tập hợp lực lượng rộng rãi. Theo Người, không có khối phương Đông và khối phương Tây, mà chỉ có những người yêu chuộng hòa bình và có những kẻ chủ trương chiến tranh.
Quan điểm về đa dạng hóa quan hệ quốc tế, làm bạn với tất cả các nước dân chủ đã hình thành trong tư tưởng Hồ Chí Minh từ rất sớm. Đây là một tư tưởng vượt thời đại xét trong bối cảnh phân cực sâu sắc của chính trị quốc tế từ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai.
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Việt Nam muốn làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai. Việt Nam sẽ hợp tác với mọi nước vui lòng hợp tác thật thà và bình đẳng với Việt Nam.
Chủ nghĩa yêu nước và tinh thân dân tộc cũngthấm đượm trong tư tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh. Điểm then chốt để “neo” thế giới quan của Hồ Chí Minh vẫn là chủ nghĩa yêu nước, tinh thần dân tộc và đi cùng với nó là tư tưởng đặt lợi ích dân tộc lên trên hết. Phân tích tình hình thế giới là để giúp Người nhìn ra mối dây liên hệ giữa Việt Nam với thế giới và đánh giá đặc điểm quan hệ quốc tế là để giúp tìm lối đi cho con thuyền cách mạng Việt Nam.
Từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã có tư tưởng tiên phong theo xu hướng mở cửa, đa dạng quan hệ, thu hút đầu tư, thúc đẩy buôn bán với nước ngoài. Đối với Người, khoa học là để phục vụ cách mạng và cụ thể hơn là phục vụ sự nghiệp giải phóng dân tộc, độc lập dân tộc, thống nhất đất nước và xây dựng dân giàu nước mạnh. Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh - vốn đã mạnh bởi cơ sở khoa học của nó - lại càng mạnh hơn vì đã dựa được vào sức mạnh của truyền thống dân tộc và giành được tính chính danh vì phục vụ lợi ích dân tộc.
Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định tiến lên chủ nghĩa xã hội phải từng bước phát triển kinh tế và văn hóa - xã hội; nâng cao đời sống vật chất của xã hội phải đồng thời với nâng cao đời sống tinh thần của con người; vấn đề không chỉ là sản xuất ra nhiều của cải, mà điều quan trọng hơn là chất lượng của cải phải ngày càng cao, và làm sao nâng cao được chất lượng sống cho nhân dân. Người cho rằng, chúng ta xây dựng chủ nghĩa xã hội mà dân không được hưởng hạnh phúc thì chủ nghĩa xã hội đó cũng không có nghĩa lý gì.
Trong hệ thống các yếu tố của phát triển, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến chủ thể của quá trình phát triển - Đảng Cộng sản. Sự lãnh đạo của một đảng cộng sản chân chính, trí tuệ và sáng tạo là yếu tố đầu tiên và cũng là yếu tố cuối cùng có tính quyết định đối với sự định hướng và xây dựng một xã hội mới. Bởi theo Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng của nhân dân, của cách mạng; mục đích của Đảng không có gì khác là đem lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Đó cũng thật sự là mục tiêu của bất kỳ một triết lý phát triển nào nhằm mục tiêu phát triển xã hội bền vững..
Ngày nay, với chủ trương xây dựng và chấn hưng đất nước, coi xây dựng kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, thực chất là Đảng và Nhà nước ta đã và đang thực hiện triết lý phát triển theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đặc biệt là văn hoá đạo đức của Người.
Hơn nữa, với chủ trương tiến hành Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, rõ ràng Đảng ta đã thật sự thấm nhuần quan điểm phát triển xuất phát từ cách tiếp cận với văn hoá đạo đức, lấy đạo đức cách mạng làm gốc của người cách mạng chân chính.
Triết lý phát triển theo chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh gắn liền với bản chất chế độ ta, gắn liền với những thành tựu của sự nghiệp cách mạng Việt Nam mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang ra sức phấn đấu theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Điều đó cũng có nghĩa là triết lý hành động theo chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh chỉ có thể trở thành hiện thực khi mục tiêu cách mạng theo con đường Hồ Chí Minh đã chọn được thực hiện thành công ở nước ta.



PHÁT HUY BÀI HỌC SỨC MẠNH ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC TRONG CÁCH MẠNG THÁNG TÁM TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI HIỆN NAY

Trần Thị Thu Hương
 PGS, TS, Phó Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng,
 Tổng Biên tập Tạp chí Lịch sử Đảng,
Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc ta, làm thay đổi cả vận mệnh của dân tộc, thay đổi cả thân phận của người dân Việt Nam. Nhận định về thắng lợi vĩ đại của dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cách mạng Tháng Tám đã lật đổ nền quân chủ mấy mươi thế kỷ, đã đánh tan xiềng xích thực dân gần 100 năm, đã đưa chính quyền lại cho nhân dân, đã xây dựng nền tảng cho nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, độc lập, tự do, hạnh phúc”
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là thắng lợi đầu tiên của một dân tộc thuộc địa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã giành được chính quyền về tay nhân dân. Vì vậy, thắng lợi đó không chỉ mở ra một thời đại mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam, mà còn đánh dấu kỷ nguyên độc lập, chủ quyền của các dân tộc bị áp bức dưới chế độ thực dân. Một sử gia người Anh - Tô-mát Hót-kin (Thomas Hodgkin) đã đánh giá: “Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam là một sự kiện quan trọng nhất trong lịch sử thế giới sau Cách mạng Tháng Mười Nga. Đó là cuộc cách mạng do Đảng Cộng sản lãnh đạo, một Đảng chỉ mới ra đời được mười lăm năm. Đó là cuộc cách mạng đầu tiên thành công trong việc lật đổ chính quyền của chế độ thuộc địa. Nó đã nổ ra trong một thời điểm lịch sử kết thúc cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai... Như vậy, cuộc Cách mạng Tháng Tám đã đánh dấu sự bắt đầu của một thời kỳ mới, nó vạch đường ranh giới của thời đại thực dân bắt đầu nhường chỗ cho thời đại phi thực dân hóa” .
Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 - biểu tượng của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc
Thành công của Đảng về lãnh đạo phát huy sức mạnh toàn dân tộc trong đấu tranh giành chính quyền cách mạng, trước hết là trong hoạch định đường lối cách mạng.
Với chủ trương, chính sách đúng đắn phù hợp với quyền lợi và nguyện vọng của mọi tầng lớp nhân dân, ngay trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng và được bổ sung, hoàn thiện xuyên suốt trong quá trình chuẩn bị để tập hợp lực lượng cho Cách mạng Tháng Tám, thể hiện rõ nét nhất là quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ tám (tháng 5-1941). Ngày 25-10-1941, Mặt trận Việt Minh công bố Tuyên ngôn, Chương trình và Điều lệ nêu cao ngọn cờ đại đoàn kết dân tộc. Tuyên ngôn của Mặt trận Việt Minh “chủ trương liên hiệp hết thảy các giới đồng bào yêu nước, không phân biệt giàu nghèo, già trẻ, trai gái, không phân biệt tôn giáo và xu hướng chính trị, đặng cùng nhau mưu cuộc dân tộc giải phóng và sinh tồn’’; đồng thời khẳng định: “Coi quyền lợi dân tộc cao hơn hết thảy, Việt Minh sẵn sàng giơ tay đón tiếp những cá nhân hay đoàn thể, không cứ theo chủ nghĩa quốc tế hay quốc gia, miễn thành thực muốn đánh đuổi Nhật, Pháp để dựng lên một nước Việt Nam tự do và độc lập’’
Bốn mươi bốn điểm trong Chương trình của Mặt trận Việt Minh là một hệ thống các chính sách về chính trị, kinh tế, văn hóa - giáo dục, xã hội, ngoại giao; những chính sách cụ thể đối với các tầng lớp công nhân, nông dân, binh lính, trí thức, công chức, học sinh, phụ nữ, tư sản, địa chủ,… Tinh thần cơ bản của chương trình này là “cốt thực hiện hai điều mà toàn thể đồng bào đang mong ước:
1. Làm cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập;
2. Làm cho dân Việt Nam được sung sướng, tự do’’
Chương trình cứu nước của Mặt trận Việt Minh sau đó được đúc kết thành 10 chính sách lớn được thực hiện ở khu giải phóng Việt Bắc và được Đại hội Quốc dân Tân Trào thông qua tháng 8-1945, trở thành chính sách cơ bản sau này của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận định: “Cái tên Việt Nam độc lập đồng minh rất rõ rệt, thiết thực và hợp với nguyện vọng toàn dân. Thêm vào đó, chương trình giản đơn, thiết thực mà đầy đủ của Mặt trận gồm có 10 điểm như bài ca tuyên truyền đã kể:
Có mười chính sách bày ra,
Một là ích quốc, hai là lợi dân” .
Đó chính là cơ sở quan trọng để đoàn kết, tập hợp mọi lực lượng dân tộc.
Cùng với chủ trương đoàn kết, tập trung nhiệm vụ giải phóng dân tộc, phù hợp với khát vọng của toàn thể dân tộc, đi đôi với việc chăm lo củng cố khối liên minh công nông, Đảng ta rất coi trọng việc đoàn kết, tập hợp các lực lượng khác: thanh niên, phụ nữ, học sinh, trí thức, tiểu thương, tư sản, địa chủ…, kịp thời đưa ra hình thức tổ chức thích hợp, đa dạng nhằm tập hợp đông đảo lực lượng nhân dân.
Nhận thức đúng và đầy đủ về vị trí của các giai cấp và các tầng lớp trong quá trình xây dựng Mặt trận Việt Minh, từ cuối năm 1941 đến năm 1942, các hội Công nhân cứu quốc, Nông dân cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Quân nhân cứu quốc, Thanh niên cứu quốc, Tự vệ cứu quốc... đã được thành lập. Các tổ chức phản đế đều được chuyển thành các tổ chức cứu quốc. Mặt trận Việt Minh phát triển mạnh mẽ ở nhiều vùng nông thôn và thị xã, không những có cơ sở rộng khắp ở trong nước mà còn có cơ sở trong Việt kiều ở nước ngoài. Những người Việt kiều yêu nước ở Vân Nam (Trung Quốc) thành lập Hội giải phóng Việt Nam. Cuối năm 1942, sau khi đã liên lạc với lực lượng cách mạng trong nước, Hội giải phóng Việt Nam được coi như một bộ phận của Mặt trận Việt Minh.
Sang năm 1943, trước sự chuyển biến mới về thời cuộc, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã họp ở Võng La, quyết định mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất và xúc tiến chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang. Hội nghị nhận định: “Ở Đông Dương hiện nay thiếu một phong trào cách mạng quốc gia tư sản và phong trào thanh niên học sinh. Do đó, cuộc vận động cách mạng ở Đông Dương vẫn hẹp hòi, có tính cách công nông hơn là tính cách toàn dân tộc’’. Hội nghị đề ra chủ trương liên minh với tất cả các đảng phái, các nhóm yêu nước ở trong và ngoài chưa gia nhập Mặt trận Việt Minh, đẩy mạnh công tác vận động công nhân, nông dân, binh lính, thanh niên, phụ nữ, tư sản, địa chủ yêu nước, các dân tộc thiểu số, Hoa kiều, lập ra Hội Văn hóa cứu quốc ở các thành phố nhằm đoàn kết các nhà trí thức và các nhà văn hóa. Nguyên tắc củng cố và phát triển Mặt trận là: “Phải luôn luôn củng cố và phát triển những tổ chức của thợ thuyền, dân cày vì đó là xương sống của Mặt trận dân tộc thống nhất chống Nhật - Pháp. Nhưng đồng thời phải hết sức phát triển các tổ chức cứu quốc của thanh niên, phụ nữ và tư sản, địa chủ, tiểu thương, v.v.. Nếu không, Mặt trận dân tộc không có tính cách toàn dân mà chỉ có tính cách công nông’’.
Chính vì vậy, Đảng ta đã phát huy được sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc trong cao trào kháng Nhật, cứu nước và trong Tổng khởi nghĩa Tháng Tám.
Nhạy bén trong việc xác định rõ kẻ thù, mục tiêu cách mạng trong từng thời điểm, kịp thời đề ra khẩu hiệu đấu tranh thích hợp, đáp ứng nguyện vọng bức thiết của quần chúng.
Ngày 12-3-1945, đúng ba ngày sau khi Nhật đảo chính Pháp, Ban Thường vụ Trung ương đã ra Chỉ thị Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta. Đảng ta đã kịp thời chỉ rõ kẻ thù chính, kẻ thù cụ thể trước mắt duy nhất của nhân dân Đông Dương sau cuộc đảo chính là phát-xít Nhật và quyết định thay khẩu hiệu “Đánh đuổi phát-xít Nhật - Pháp’’ bằng khẩu hiệu “Đánh đuổi phát-xít Nhật’’. Chỉ thị cũng nhấn mạnh đến việc phải mở rộng cơ sở của Mặt trận Việt Minh, nhằm đoàn kết, tập hợp mọi lực lượng nhân dân vào cao trào kháng Nhật cứu nước. Đó chính là thực hiện chính sách đoàn kết, phân hóa hàng ngũ kẻ thù, tranh thủ mọi lực lượng có thể tranh thủ. Một tháng sau khi Chỉ thị ra đời, ngày 12-4-1945, Mặt trận Việt Minh ra lời kêu gọi Mấy lời tâm huyết ngỏ cùng các vị quan chức ái quốc Việt Nam và Mấy lời tâm huyết ngỏ cùng các vị huynh thứ ái quốc. Nội dung các lời kêu gọi ấy đã góp phần đẩy nhanh quá trình phân hóa và tranh thủ một bộ phận vào lúc cách mạng bùng nổ.
Khẩu hiệu “Phá kho thóc giải quyết nạn đói’’ đã đáp ứng nguyện vọng khẩn thiết, cấp bách trước sự sinh tồn của đại đa số nhân dân, là một nghệ thuật phát động quần chúng, hình thức đấu tranh thích hợp nhất lúc bấy giờ để đưa hàng triệu quần chúng đi từ hình thức đấu tranh thấp đến hình thức đấu tranh cao, từ đấu tranh cho quyền lợi kinh tế hằng ngày đến giác ngộ chính trị. Chính vì vậy, phong trào phá kho thóc, giải quyết nạn đói của quần chúng, không chỉ có ý nghĩa kinh tế trước mắt, mà còn có nội dung chính trị sâu sắc. “Khẩu hiệu này đưa ra giữa lúc nạn đói khủng khiếp đang diễn ra ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, đáp ứng nguyện vọng cấp bách nhất của quần chúng, do đó, đã thổi bùng ngọn lửa căm thù trong đông đảo nhân dân và phát động quần chúng vùng dậy với khí thế cách mạng hừng hực tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền’’
Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 là biểu tượng sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc, của mọi tầng lớp nhân dân Việt Nam. Toàn dân nổi dậy, cả nước đồng lòng đứng lên. Từ chiến khu về đồng bằng, từ nông thôn đến thành thị, rồi cả thành thị cùng nông thôn nhất tề nổi dậy giành chính quyền về tay nhân dân.
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là minh chứng sinh động về sức mạnh đồng thuận của cả dân tộc Việt Nam, khi được Đảng khơi dậy, tổ chức tập hợp với tinh thần tự lực, tự cường. Thắng lợi đó đã khẳng định trong thực tế lòng tin tuyệt đối của quần chúng nhân dân vào đường lối cứu nước, giải phóng dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Bài học phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong công cuộc đổi mới hiện nay
Bài học về phát huy sức mạnh tổng hợp của nhân dân, đoàn kết, tập hợp mọi lực lượng dân tộc trong Cách mạng Tháng Tám vẫn còn giữ nguyên giá trị trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay.
Thực tiễn cách mạng Việt Nam 66 năm qua là hiện thực sinh động chứng tỏ: phát huy sức mạnh toàn dân tộc là đường lối chiến lược cơ bản, lâu dài của cách mạng, là sự tiếp tục phát triển và hoàn thiện đường lối, quan điểm của Đảng trong điều kiện lịch sử mới.
Qua 30 năm tiến hành kháng chiến chống ngoại xâm (1945 - 1975), truyền thống quý báu ấy đã được nâng lên tầm cao mới, trở thành động lực và sức mạnh chủ yếu của dân tộc ta, là một trong những nhân tố có ý nghĩa quyết định đưa đến những thắng lợi vĩ đại của cách mạng nước ta từ năm 1930 đến nay.
Vào những năm 80 của thế kỷ XX, đứng trước tình hình khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng, đổi mới trở thành yêu cầu có ý nghĩa sống còn đối với vận mệnh dân tộc. Đại hội VI của Đảng (năm 1986) đã hoạch định đường lối đổi mới đất nước, chỉ rõ bốn bài học kinh nghiệm lớn, trong đó bài học đầu tiên là: “Trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc’’, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động. Thực hiện Nghị quyết Đại hội VI, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ tám đã ra Nghị quyết 8b (ngày 27-3-1990) về đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân, trong đó nhấn mạnh quan điểm: cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
Đến Đại hội VII của Đảng (năm 1991), lần đầu tiên trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta khẳng định lấy khối liên minh công nhân - nông dân - trí thức làm nền tảng cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Điều đó thể hiện: Đảng ta ngày càng nhận thức rõ hơn về vị trí, vai trò của các giai tầng trong xã hội, nhất là của tầng lớp trí thức đối với sự nghiệp cách mạng nước ta trong điều kiện cuộc cách mạng khoa học và công nghệ phát triển mạnh mẽ và kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất. Cương lĩnh (năm 1991) nêu năm bài học lớn được rút ra từ thực tiễn cách mạng, trong đó có bài học: “sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Chính nhân dân là người làm nên thắng lợi lịch sử” và “không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết: đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế”. Đại hội VII của Đảng chỉ rõ: “Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Quan hệ giữa Đảng với nhân dân bao giờ cũng là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp cách mạng. Nguồn sức mạnh làm nên thắng lợi của chúng ta chính là ở chỗ Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân”; dân chủ “vừa là một mục tiêu vừa là một động lực của công cuộc đổi mới xã hội ta”.
Tổng kết 10 năm đổi mới, Đại hội VIII của Đảng đã rút ra một trong những nguyên nhân trọng yếu dẫn đến thành công của Đảng trong hoạch định đường lối và thực hiện đường lối đổi mới: “Chính những ý kiến, nguyện vọng và sáng kiến của nhân dân là nguồn gốc hình thành đường lối đổi mới của Đảng. Cũng do nhân dân hưởng ứng đường lối đổi mới, dũng cảm phấn đấu, vượt qua biết bao khó khăn, thử thách mà công cuộc đổi mới đạt được những thành tựu hôm nay”.
Đại hội VIII tiếp tục khẳng định tinh thần của Đại hội VII và nêu cao phương châm: Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên cơ sở lấy liên minh công nhân - nông dân - trí thức làm nền tảng, đoàn kết mọi người trong đại gia đình dân tộc Việt Nam dù sống ở trong nước hay đang định cư ở nước ngoài; có cơ chế và cách làm cụ thể để thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.
Đại hội IX có bước phát triển cụ thể hơn nữa về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân: “Thực hiện đại đoàn kết các dân tộc, tôn giáo, giai cấp, tầng lớp, thành phần kinh tế, mọi giới, mọi lứa tuổi, mọi vùng của đất nước, người trong Đảng và người ngoài Đảng, người đang công tác và người đã nghỉ hưu, mọi thành viên trong đại gia đình Việt Nam dù sống trong nước hay ở nước ngoài”; “lấy mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh làm điểm tương đồng”; “trên cơ sở liên minh vững chắc giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”. Đại hội IX của Đảng nhấn mạnh: “Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hòa các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế, của toàn xã hội”Như vậy, trong thời kỳ mới, quan điểm nhất quán của Đảng ta là: đại đoàn kết toàn dân, đồng thuận mọi giai tầng, trên cơ sở giải quyết hài hòa các lợi ích, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của toàn xã hội, là động lực chủ yếu để phát triển đất nước trong giai đoạn cách mang mới.Nhằm cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết Đại hội IX, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa IX về Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, coi đại đoàn kết toàn dân tộc là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ thực tiễn của công cuộc đổi mới, tư duy về đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng ta được phát triển lên một bước mới. Cụm từ “Đại đoàn kết toàn dân” được bổ sung, hoàn chỉnh thành “Đại đoàn kết toàn dân tộc” với ý nghĩa mở rộng đại đoàn kết, đoàn kết không chỉ đối với nhân dân ta ở trong nước mà còn với cả cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Từ tư duy đổi mới về vai trò của nhân dân, về vấn đề dân tộc trong thời kỳ mới, Đại hội X của Đảng khẳng định: “đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng là đường lối chiến lược nhất quán của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
Sau 25 năm tiến hành công cuộc đổi mới và 20 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991), Đại hội XI của Đảng tiếp tục khẳng định: phát huy sức mạnh toàn dân tộc là thành tố thứ hai, sau thành tố về tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Đây chính là hai thành tố quan trọng, quyết định thực hiện thành công những nhiệm vụ căn cốt nhất của toàn Đảng và toàn dân ta trong nhiệm kỳ 2011 - 2015, đó là: đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Phát huy sức mạnh toàn dân tộc là một thành tố được nêu trong chủ đề của #ại hội IX và Đại hội X, nay khẳng định lại không chỉ để nhấn mạnh mà còn nhằm làm sáng tỏ hơn bản chất và nội dung của vấn đề thông qua thực tiễn đổi mới. Sức mạnh toàn dân tộc là sức mạnh của cả kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; sức mạnh của các thành phần kinh tế, các lực lượng chính trị, xã hội, các dân tộc, tôn giáo, các tầng lớp nhân dân trong nước và cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài có cùng “mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm tương đồng; xóa bỏ mặc cảm, định kiến về quá khứ, thành phần giai cấp, chấp nhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung… để tập hợp, đoàn kết mọi người vào mặt trận chung, tăng cường đồng thuận xã hội”.
Nghị quyết Đại hội XI của Đảng là sự kết tinh trí tuệ và ý chí của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, thể hiện sự nhất quán kiên định tư tưởng chính trị và phương pháp cách mạng Hồ Chí Minh - tư tưởng chính trị và phương pháp cách mạng dựa trên sự bố trí các lực lượng xã hội, trên cơ sở vận dụng nhuần nhuyễn quan điểm giai cấp, quan điểm dân tộc vào thực tiễn Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ rõ: “Vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân, không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân”
Phát huy truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc trong Cách mạng Tháng Tám, với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc đổi mới, trước những vận hội mới, nhưng cũng không ít khó khăn, thách thức đặt ra trước yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước, hơn bao giờ hết, Đảng cần tiếp tục phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, giữ vững và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân và sự đồng thuận của toàn xã hội trong tiến trình xây đựng đất nước hiện nay. Để đạt được mục tiêu đó, Đảng cần có những quyết sách nhằm động viên và tổ chức mọi tầng lớp nhân dân phát huy truyền thống yêu nước và lòng tự hào dân tộc, đưa đất nước vượt qua thách thức.
Với những thành quả cách mạng Việt Nam đã đạt được, dưới sự lãnh đạo đầy bản lĩnh, trí tuệ của một chính Đảng Cộng sản được lý luận Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh soi rọi, với sự quản lý điều hành năng động, sáng tạo của Nhà nước cách mạng Việt Nam, với tài năng, trí thông minh, đức tính cần cù, ý chí và khát vọng vươn lên mãnh liệt của nhân dân ta, tiếp tục vận dụng bài học phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong bối cảnh lịch sử mới, chúng ta có đầy đủ cơ sở để vững tin vào sự hiện thực hóa mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.


Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong
giai đoạn hiện nay
Nguyễn Túc
Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam
Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và nhân dân ta được lưu truyền qua các thế hệ. Tinh thần yêu nước, nhân nghĩa, khoan dung, tương thân tương ái tiếp tục được phát huy trong thời gian qua đã trở thành chất kết dính, gắn bó các thành viên trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam.
Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người khởi xướng, xây dựng và hết lòng chăm lo cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc. (Ảnh tư liệu Bảo tàng Hồ Chí Minh)
Những quan điểm, chủ trương của Đảng về đại đoàn kết dân tộc về Mặt trận dân tộc thống nhất ở thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế được tổng kết và nâng cao tầm nhận thức trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) được luật hóa bằng Hiến pháp và các luật, đã từng bước đi vào cuộc sống đã khơi dậy mạnh mẽ quyền làm chủ của nhân dân trên mọi việc của đời sống xã hội. Những kết quả đạt được trong các cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong sạch, vững mạnh, đã góp phần làm cho “khối đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục được mở rộng, củng cố và tăng cường trong bối cảnh đất nước có nhiều khó khăn, thách thức”. Đúng như Dự thảo Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc khóa XII của Đảng đã nhận định.
         
         
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) và các tổ chức thành viên các cấp đã phát động, triển khai nhiều phong trào, nhiều cuộc vận động thi đua yêu nước có ý nghĩa thiết thực được các tầng lớp nhân dân nhiệt tình hưởng ứng, đã đóng góp có hiệu quả vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt trong xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, đảm bảo an sinh xã hội… Trước tình hình của chủ quyền quốc gia bị xâm phạm, các tầng lớp nhân dân ở trong nước cũng như người Việt Nam đang làm ăn và sinh sống ở nước ngoài bằng những việc làm cụ thể đã thể hiện tinh thần yêu nước sâu sắc, ý chí quyết tâm đấu tranh bảo vệ chủ quyền thiêng liêng và bất khả xâm phạm của Tổ quốc.
Có thể khẳng định rằng: Dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước, các giai cấp, các tầng lớp nhân dân đoàn kết trong MTTQ Việt Nam đã có những đóng góp to lớn vào thành quả chung của đất nước, vào việc củng cố, tăng cường và mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Giai cấp công nhân Việt Nam: Phát triển nhanh về số lượng, đa dạng hóa về ngành nghề. Với 11 triệu người, chiếm hơn 25,8% lực lượng lao động xã hội, giai cấp công nhân có mặt trong tất cả các thành phần kinh tế, giữ vai trò nòng cốt trong việc tiếp thu và làm chủ khoa học kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, góp phần quan trọng vào việc hình thành các ngành công nghiệp hiện đại và sự tăng trưởng của nền kinh tế. Điều đáng lưu ý trong giai cấp công nhân hiện nay là trên ba phần tư công nhân đang làm việc trong các khu vực tư nhân và khu vực kinh tế có vốn đầu tư của nước ngoài, một bộ phận đang gặp khó khăn về đời sống vì những năm gần đây do khủng hoảng kinh tế thế giới tác động đến đất nước ta, nên không có việc làm.
         
Mong muốn của công nhân hiện nay là việc làm, đời sống dân chủ và công bằng xã hội. Làm sao để mọi công nhân đều có việc làm ổn định, có nhà ở, đời sống văn hóa và điều kiện học hành cho con em, nhất là trong các khu công nghiệp, khu chế xuất.
Giai cấp nông dân: Lực lượng đông đảo nhất của đất nước. Với gần 20 triệu người, chiếm hơn 47% lực lượng lao động xã hội, nông dân nước ta phát huy truyền thống cần cù, sáng tạo, vượt khó, tích cực ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật đã phấn đấu không ngừng tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần, góp phần xây dựng nông thôn mới.
Trong tình hình kinh tế gặp khó khăn, nông dân, nông nghiệp đã góp phần quan trọng ổn định đời sống xã hội, hỗ trợ đắc lực cho công nghiệp, dịch vụ. Băn khoăn, lo lắng của nông dân hiện nay là thu nhập thấp, đại bộ phận hộ nghèo là nông dân, đặc biệt là nông dân vùng cao, vùng sâu, vùng xa; chính sách hỗ trợ sản xuất kinh doanh cho nông dân, nông nghiệp còn hạn chế; đầu ra cho sản phẩm nông nghiệp không ổn định; việc làm, đào tạo nghề, đặc biệt là miền núi, vùng cao còn nhiều khó khăn.
Đội ngũ trí thức: Phát triển nhanh về số lượng và đa dạng hóa về ngành nghề. Với 4,9 triệu người, chiếm hơn 11,5% lực lượng lao động xã hội, trí thức đi đầu trong các hoạt động về khoa học và công nghệ, văn hóa, xã hội, giáo dục và đào tạo, phát triển kinh tế tri thức tạo ra nhiều công trình, sản phẩm khoa học có giá trị cao, góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Mong muốn của trí thức hiện nay là phấn đấu để sớm giải quyết được sự hẫng hụt về trí thức đầu đàn và có những điều kiện cần thiết để phát huy hết khả năng sáng tạo của mình cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước.
Đội ngũ doanh nhân Việt Nam: Với sự phát triển của nền kinh tế nhiều thành phần đã hình thành nhanh chóng đội ngũ doanh nhân với vai trò ngày càng lớn trong sản xuất kinh doanh, tạo việc làm. Với khoảng 2 triệu người hoạt động trong hơn 346.000 doanh nghiệp, đội ngũ doanh nhân giữ vai trò nòng cốt trong phát triển kinh tế, tạo việc làm, góp phần xóa đói giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Mong muốn của doanh nhân là môi trường đầu tư cần thông thoáng hơn, có chính sách phát triển doanh nghiệp và sản phẩm, dịch vụ mới.
Bên cạnh những doanh nhân làm ăn chân chính, đã xuất hiện những “doanh nghiệp ma”, doanh nghiệp làm ăn bất chính như: sản xuất hàng giả, hàng kém chất lượng, nhập khẩu trái phép, lừa đảo, trốn thuế, trốn bảo hiểm xã hội, gây ô nhiễm môi trường…
Đội ngũ công chức, viên chức: Cả nước hiện có khoảng 2,4 triệu người, chiếm 5,6% lực lượng lao động xã hội, đã nêu cao tinh thần trách nhiệm, khắc phục khó khăn, phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ, góp phần quan trọng vào việc nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý nhà nước, đáp ứng các nhu cầu chăm sóc y tế, giáo dục, đào tạo và văn hóa của nhân dân.
Về cuộc sống, bên cạnh số đông sống bằng đồng lương, cuộc sống còn nhiều khó khăn do giá cả leo thang vì đồng tiền trượt giá, đã xuất hiện một bộ phận bằng nhiều việc làm, nhiều biện pháp để có thêm thu nhập, kể cả những việc làm bất chính, vi phạm đạo đức của người cán bộ và pháp luật của nhà nước. Mong muốn của đa số công chức, viên chức là tăng lương để đảm bảo cuộc sống và có chương trình về nhà ở.
         
Đồng bào các dân tộc thiểu số: Hiện có hơn 13 triệu người, chiếm 14,4% dân số cả nước. Đồng bào đóng góp ngày càng nhiều cho sự nghiệp phát triển kinh tế, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, bảo đảm quốc phòng an ninh. Đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào ngày càng được cải thiện. Tuy nhiên, tỷ lệ hộ nghèo trong các dân tộc thiểu số còn khá cao, nhất là ở Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam bộ.
Đồng bào các tôn giáo: Hiện có khoảng 24 triệu người, chiếm gần 27% dân số cả nước, tiếp tục phát huy truyền thống đạo gắn với đời, đồng hành cùng dân tộc, thực hiện “Sống tốt đời đẹp đạo”, nhiệt tình tham gia các phong trào thi đua yêu nước, nỗ lực trong sản xuất, kinh doanh hoạt động nhân đạo từ thiện, phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo, đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển của đất nước. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận bị kẻ xấu lôi kéo, lợi dụng vào các hoạt động gây mất trật tự, ổn định xã hội.
Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài: Với hơn 4,5 triệu người sống và làm việc ở 109 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới là một bộ phận không thể tách rời của dân tộc Việt Nam, trong những năm qua, đã có nhiều nỗ lực trong lao động, học tập, chấp hành pháp luật nước sở tại, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, nêu cao tinh thần đoàn kết gắn bó với quê hương đất nước, tích cực đóng góp, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, làm cầu nối góp phần thúc đẩy quá trình hội nhập, tăng cường quan hệ hữu nghị hợp tác giữa nước ta với các nước trên thế giới. Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài mong muốn được quan tâm giúp đỡ nhiều hơn để giữ gìn, phát huy truyền thống văn hóa dân tộc, nhất là tiếng nói và chữ viết cho thế hệ trẻ, phát huy hơn nữa khả năng đóng góp của đội ngũ trí thức, doanh nhân cho phát triển đất nước.
         
Những đóng góp to lớn của các giai cấp, tầng lớp xã hội nêu trên là những yếu tố cực kỳ quan trọng, là động lực chủ yếu đảm bảo ổn định chính trị - xã hội và thúc đẩy đất nước phát triển.
Cùng với những chuyển biến và tiến bộ xã hội, nhiều vấn đề mới đã và đang nảy sinh trong quá trình tiến hành công cuộc đổi mới. Đó là xã hội, giai cấp, tầng lớp, nhóm dân cư đang trong quá trình phân hóa. Và cùng với sự phân hóa đó là sự chênh lệch ngày càng lớn về mức thu nhập và hưởng thụ giữa các vùng miền, giữa người đương chức, người về hưu, giữa thành thị và nông thôn… Sự phân hóa giàu nghèo có chiều hướng gia tăng và đang ảnh hưởng lớn đến đại đoàn kết dân tộc. Vì vậy, trong đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục được mở rộng, củng cố và tăng cường như Dự thảo báo cáo chính trị đã nêu song chưa thật vững chắc và đang đứng trước những thách thức không thể xem thường.
Như Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) đã nhận định: Lòng tin của một bộ phận nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và khả năng quản lý của Nhà nước có phần giảm sút. Nhân dân, nhất là các đồng chí cán bộ cán bộ lão thành cách mạng, cán bộ nghỉ hưu – những người sống chết vì lý tưởng xã hội chủ nghĩa, cả đời phấn đấu cho độc lập, tự do – rất bất bình trước những bất công xã hội, trước tình trạng tham nhũng quan liêu, xa dân; kỷ cương phép nước không nghiêm; đạo đức có lúc, có nơi, có bộ phận xuống cấp; tội phạm, tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông không giảm; việc chấp hành chủ trương, chính sách không đến nơi đến chốn; tình hình chạy chức, chạy bằng, chạy tội…. vẫn còn tồn tại dưới những hình thức tinh vi hơn; một số cán bộ nói nhiều, làm ít, lời nói không đi đôi với việc làm…
         
         
         
Thiết nghĩ, để đại đoàn kết dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng thực sự là nguồn sức mạnh, là động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định, bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhân dịp Đảng đang tiến hành đại hội các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Đảng cần làm cho cả hệ thống chính trị, từng cán bộ, đảng viên, trước hết là cấp ủy đảng, đặc biệt là người đứng đầu cấp ủy quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc và Mặt trận dân tộc thống nhất. Cụ thể cần nắm vững quan điểm cơ bản, đồng thời cũng là những định hướng lớn về phát suy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong giai đoạn hiện nay là:
         
1. Lợi ích cơ bản của nhân dân, của dân tộc ta ngày nay là độc lập, tự do và có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Lợi ích đó được thể hiện cụ thể hằng ngày trong mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng. Vì vậy, củng cố, tăng cường đoàn kết toàn dân tộc không thể chung chung mà phải gắn chặt với việc đảm bảo các lợi ích đó.
2. Một trong những động lực thúc đẩy nhân dân tăng cường đoàn kết trong tình hình hiện nay là quyền làm chủ đất nước của nhân dân phải được tôn trọng. Pháp luật phải đảm bảo để nhân dân thực sự là người chủ, thực sự làm chủ như Hiến pháp (sửa đổi, bổ sung) đã quy định.
3. Thắt chặt mối liên hệ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân không chỉ là trách nhiệm của Đảng và Nhà nước, mà còn là trách nhiệm của MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội và của toàn dân. Do đó, qua hoạt động của mình, MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội phải không ngừng đổi mới nội dung, phương thức hoạt động để góp phần làm cho mối liên hệ đó luôn luôn bền chặt, ý Đảng phù hợp với lòng dân.
          4. Trong giai đoạn hiện nay, các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước có tác dụng trực tiếp và quyết định đến kết quả xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội mà Đảng đã đề ra trong Quyết định 217/QĐ của Bộ Chính trị để các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước sát cuộc sống, đáp ứng lợi ích của nhân dân – cũng có ý nghĩa là lợi ích của Nhà nước.
Kiên trì thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết, nhân nghĩa, khoan dung của tổ tiên, cùng nhau hợp sức xây dựng cho được một xã hội đồng thuận cao trên tinh thần cởi mở, độ lượng, tin cậy lẫn nhau vì sự ổn định và phát triển toàn diện và bền vững của đất nước./.

 

 

 

 

 

 

 



 



Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời kỳ mới
 Vũ Trọng Kim
Ủy viên T.Ư Đảng, Phó Chủ tịch - Tổng Thư ký
Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam
Trong Dự thảo Báo cáo Chính trị, cụm từ “Đại đoàn kết toàn dân tộc” được nhắc 21 lần và có tám lần nói về “Sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc”. Không phải ngẫu nhiên từ thời kỳ dựng nước đến nay, đại đoàn kết toàn dân tộc và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc lại được đề cao như vậy. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được là cơ bản, Dự thảo Báo cáo Chính trị cũng chỉ rõ, “sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc chưa được phát huy đầy đủ, có lúc, có nơi chưa phát huy được vai trò, sức mạnh của nhân dân”.
Trong thời kỳ mới, để thấm nhuần quan điểm của Đảng, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, chúng ta phải quán triệt sâu sắc những bài học về đại đoàn kết toàn dân tộc đã được khẳng định trong thực tiễn. Trước hết, phải quán triệt và thực hiện cho được quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Nước lấy dân làm gốc. Gốc có vững cây mới bền”. Bước vào thời kỳ mới, quan điểm “Dân là gốc” phải được coi là nền tảng của công cuộc đổi mới và phát triển đất nước. Sự nghiệp đổi mới đất nước là sự nghiệp của dân, do dân, vì dân, nên mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều phải xuất phát từ dân, dựa vào dân để thực hiện.
Đảng ta xác định, dân chủ XHCN vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới, thể hiện mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân. Thực hiện dân chủ chính là điều kiện quan trọng để phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong giai đoạn hiện nay. Nguyễn Trãi từng nói “Đẩy thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân”. Trong bài báo “Dân vận” nổi tiếng viết năm 1949, Bác Hồ đã nói về dân chủ một cách giản dị nhưng rất rõ ràng, chuẩn xác: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân”; “... thực hành dân chủ là cái chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn”. Xã hội càng phát triển thì đòi hỏi trình độ dân chủ trong xã hội càng cao. Mặt khác, dân chủ là một trong những tiêu chí quan trọng nhất để đo lường sự phát triển lành mạnh của xã hội bởi lẽ bảo đảm và phát huy dân chủ là bảo đảm tôn trọng và thực hiện quyền con người, quyền và lợi ích của người dân trên tư cách người chủ của xã hội. Dân chủ phải đi liền với bảo đảm trật tự, kỷ cương, tuân thủ pháp luật. Vì vậy, dân chủ trong điều kiện mới phải thể hiện trong các thể chế, thiết chế của Đảng, Nhà nước và của cả hệ thống chính trị cũng như trong các quan hệ xã hội trong đó phải đề cao tính công khai, minh bạch, tăng cường đối thoại, lắng nghe ý kiến nhân dân. Có dân chủ thật sự mới có đoàn kết thật sự, mất dân chủ thì không có đoàn kết. Xây dựng nền dân chủ để từ đó phát huy được sức mạnh đoàn kết toàn dân trong xây dựng và phát triển đất nước chính là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trong đó MTTQ Việt Nam có vai trò đặc biệt quan trọng.
Để xây dựng xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, trong đó con người có cơ hội phát triển toàn diện, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, một trong các điều kiện cần thiết là phải bảo đảm dân sinh. Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, nhất là thực hiện tốt chỉ tiêu giảm nghèo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thực hiện có hiệu quả nhiều chính sách để ổn định và từng bước nâng cao đời sống nhân dân, thu nhập của người dân không ngừng được cải thiện. Tuy nhiên, việc thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội còn những hạn chế. Sự phát triển các lĩnh vực, các vùng, miền thiếu đồng bộ, sự chênh lệch trong hưởng thụ các giá trị của đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội... giữa miền núi, vùng sâu, vùng xa với vùng đồng bằng, đô thị còn lớn; giảm nghèo chưa bền vững; khoảng cách giàu - nghèo, sự chênh lệch trong thu nhập ngày càng gia tăng... Đây là những vấn đề cần chia sẻ, cần khắc phục, không để mâu thuẫn phát sinh. Vì vậy, giải quyết tốt vấn đề dân sinh cần được xem là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách trong thời kỳ mới. Vấn đề cốt lõi là cần tập trung xây dựng và thực hiện các chính sách phù hợp với các giai tầng xã hội, nhất là các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, lấy kinh tế tư nhân làm động lực phát triển.
Nền tảng để xây dựng và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc còn là sự ổn định về chính trị, trật tự an toàn xã hội và bảo đảm sự phát triển hài hòa trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội. Trong hoạch định chính sách và quản lý xã hội, phải tránh tư tưởng nôn nóng trong tăng trưởng mà quản lý phát triển xã hội không tốt, đồng thời phải từng bước khắc phục tình trạng bất bình đẳng, đạo đức xã hội xuống cấp, đời sống văn hóa có những biểu hiện thiếu lành mạnh, trái với thuần phong mỹ tục, xa lạ với truyền thống dân tộc. Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc còn là bảo đảm sự đồng tâm, hợp lực trong đấu tranh bảo vệ Tổ quốc và chủ quyền biển đảo thiêng liêng, thể hiện khí phách dân tộc như trong bài thơ thần “Nam quốc sơn hà” (Sông núi nước Nam), bài thơ có giá trị như bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước nhà.
Kế tục và phát huy vai trò lịch sử của Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam qua các thời kỳ, MTTQ Việt Nam ngày nay chủ trương phát huy truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ý chí tự lực, tự cường, đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước, không phân biệt thành phần xã hội, dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, quá khứ, ý thức hệ và chính kiến, điều quan trọng là tán thành công cuộc đổi mới, giữ vững độc lập, thống nhất chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Để thực hiện được mục tiêu trên, phải tăng cường và mở rộng MTTQ Việt Nam như Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) đã nêu, không chỉ dừng lại ở phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Bởi lẽ, Mặt trận được tăng cường mới xứng đáng với sứ mệnh lịch sử là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu, trong đó Đảng vừa là thành viên, vừa lãnh đạo Mặt trận. Mặt trận được tăng cường mới đủ sức làm được vai trò đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; mới đáp ứng yêu cầu là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đủ sức làm trách nhiệm giám sát và phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước; làm nòng cốt là trung tâm tập hợp, đoàn kết mọi người Việt Nam yêu nước.
Trong thời kỳ mới, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc đi đôi với tăng cường đoàn kết quốc tế. Với trách nhiệm của mình, Ủy ban Mặt trận các cấp và các tổ chức thành viên tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại nhân dân theo phương châm “chủ động, linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả”, góp phần tăng cường tình hữu nghị và đoàn kết, hợp tác giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước trên thế giới. Tranh thủ sự ủng hộ của Chính phủ và nhân dân các nước trên thế giới trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền quốc gia. Phát huy vai trò của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đóng góp có hiệu quả vào các hoạt động đoàn kết, hữu nghị, thúc đẩy các mối quan hệ hợp tác phát triển.
Khi đã thấu suốt những quan điểm, bài học về đại đoàn kết toàn dân tộc đã được minh chứng trong thực tiễn, được khẳng định về mặt lý luận và thực hiện một cách cụ thể, có những quyết sách rõ ràng với tấm gương minh chủ thì sẽ tạo được sự đồng thuận và lòng tin vững chắc trong nhân dân, từ đó tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc sẽ được hội tụ, phát huy được sức mạnh thần kỳ trong công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước.




Thực hiện những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh
về đại đoàn kết toàn dân tộc
Nguyễn Thạc Hân
Ban Dân vận Trung ương
Chủ tịch Hồ Chí Minh, anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá lớn, người sáng lập, rèn luyện Đảng ta, luôn chăm lo xây dựng củng cố phát triển khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đó là chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh.

          Trước hết Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định nhân dân ta vốn có lòng yêu nước nồng nàn và đoàn kết chặt chẽ, đấu tranh anh dũng để bảo vệ và củng cố độc lập dân tộc. Truyền thống ấy đã trở thành thuần phong mỹ tục của dân tộc.Trong bài nói chuyện với đại biểu nhân dân Thanh Hoá ngày 13-6-1957, Người nhấn mạnh: "Cần xây dựng và phát triển thuần phong, mỹ tục. Các đồng chí nước bạn sang ta nói nhân dân Việt Nam rất cần cù, giản dị. Thuần phong, mỹ tục là đoàn kết, thương yêu giúp đỡ nhau sản xuất tiết kiệm, vì vậy nên cần phát triển thuần phong mỹ tục".
Chủ tịch Hồ Chí Minh kế thừa và phát huy truyền thống "nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng" của dân tộc ta và những tinh hoa tư tưởng đoàn kết của nhân loại tiến bộ, nâng lên thành chân lý, thành chính sách, thành chiến lược cách mạng.
Về nội dung, tư tưởng "đoàn kết, đại đoàn kết" của Hồ Chí Minh rất phong phú, nhiều vẻ bao gồm tư tưởng về đại đoàn kết dân tộc (đoàn kết cả nước, đoàn kết toàn dân không bỏ sót một người dân nào, đoàn kết trong Đảng, đoàn kết trong Mặt trận dân tộc thống nhất...), đoàn kết quốc tế. Phát biểu tại phiên họp bế mạc kỳ họp thứ tư, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà khoá I, ngày 26-3-1955, Người chỉ rõ: "Chính sách đối nội trước mắt của ta là: Đoàn kết toàn dân, thi đua sản xuất... Chính sách ngoại giao của ta là: đoàn kết chặt chẽ với nhân dân các nước bạn". Nói chuyện tại Lớp nghiên cứu chính trị khoá II, trường Đại học nhân dân Việt Nam, ngày 8-12-1956 Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: "Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân". Trong thư gửi đồng bào cả nước, ngày 6-7-1956, Người khẳng định: "Đường lối đấu tranh của chúng ta hiện nay là toàn dân từ Nam đến Bắc, đoàn kết rộng rãi và chặt chẽ trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam". Trong bài nói tại Đại hội liên hoan phụ nữ "Năm tốt" ngày 30-4-1964, khi giải thích khái niệm "gia đình", Người cũng nhắc đến đoàn kết: Theo nghĩa cũ thì gia đình chỉ giới hạn hẹp trong một cái nhà, cái sân... Theo nghĩa mới thì gia đình rộng rãi hơn, tốt đẹp hơn. Thí dụ những người cùng lao động trong nhà máy, trong một cơ quan, trong một hợp tác xã... đều phải đoàn kết thương yêu nhau như anh em trong một gia đình. Rộng ra nữa là đồng bào cả nước đều là anh em trong một gia đình. Ngay trong "Kính cáo đồng bào" viết ngày 6-6- 1941, khi đất nước ta còn chìm trong nô lệ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cập đến đoàn kết dân tộc: "Trong lúc quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy, chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ đế quốc và bọn việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa nóng". Nói về đoàn kết trong Đảng, trong bản "Di chúc" viết ngày 10-5-1969, Người chỉ rõ: "Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và nhân dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình". Chủ tịch Hồ Chí Minh không những nêu rõ nội dung của tư tưởng đại đoàn kết mà còn chỉ ra tầm quan trọng, những nguyên tắc, yêu cầu, phương pháp, cách thức đoàn kết. Nói chuyện tại Lớp chỉnh huấn trung cao của Bộ Quốc phòng tháng 5 năm 1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: "Bây giờ còn một điểm rất quan trọng cũng là điểm mẹ. Điểm này mà thực hiện tốt thì con cháu đẻ ra đều tốt: Đó là đoàn kết". Mà "nền gốc của đoàn kết là: đoàn kết của đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác".
Theo Hồ Chí Minh, đoàn kết là một chính sách lớn đối với toàn dân tộc,
đoàn kết để đấu tranh cho thống nhất và độc lập của Tổ quốc; ta còn phải đoàn kết để xây đựng nước nhà. Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta phải đoàn kết với họ.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu yêu cầu của đoàn kết là phải đoàn kết rộng rãi và chặt chẽ. Đoàn kết giữa Chính phủ và nhân dân. Đoàn kết giữa các tầng lớp nhân dân với nhau. Đoàn kết giữa đồng bào toàn quốc từ Bắc tới Nam. Nói rộng hơn nữa: đoàn kết giữa nhân dân ta và nhân dân các nước bạn. Đoàn kết chặt chẽ lực lượng trong nước với ngoài nước... Nói chuyện với đại diện Mặt trận Tổ quốc tỉnh Hà Tĩnh, ngày 15/6/1957, Người khẳng định "Đoàn kết chặt chẽ thành một khối thống nhất. Phải đoàn kết giữa lương và giáo, giữa quân và dân, giữa Bắc và Nam"... Trong thư gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam tại Pleiku, ngày 19-4-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: "Giang sơn và Chính phủ là giang sơn và Chính phủ chúng của chúng ta. Vậy nên tất cả dân tộc chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ để giữ gìn nước non ta, để ủng hộ Chính phủ ta". Đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi không những là yêu cầu tất yếu của cách mạng Việt Nam mà còn là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta, một tầm nhìn về tương lai của dân tộc. Ngay từ năm 1946, trong thư gửi đồng bào Nam Bộ, Người có những lời khuyên rất thấm thía: "Tôi khuyên đồng bào đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi. Năm ngón tay cũng có ngón vắn ngón dài. Nhưng vắn dài đều hợp nhau lại nơi bàn tay. Trong mấy triệu người cũng có người thế này, thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều dòng dõi của tổ tiên ta. Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ, ta phải nhận rằng con Lạc cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc. Đối với những đồng bào lạc lối lầm đường, ta phải lấy tình thân ái mà cảm hoá họ như thế mới thành đoàn kết, có đại đoàn kết thì tương lai chắc chắn sẽ vẻ vang".
Chủ tịch Hồ Chí Minh đòi hỏi một sự đoàn kết thật sự có chiều sâu, có hiệu quả, "không phải đoàn kết ngoài miệng, mà đoàn kết bằng việc làm, đoàn kết bằng tinh thần, đoàn kết thực sự". Trong bài nói chuyện với cán bộ tỉnh Hà Tây ngày 10-2-1967, Người nhắc nhở cán bộ "từ tỉnh đến huyện, đến xã phải đoàn kết, đoàn kết thực sự, làm sao tự mình nêu gương và giáo dục cho đảng viên, đoàn viên, cán bộ giữ gìn, phát triển đạo đức cách mạng, làm sao cho nhân dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm". Người giải thích: "Đoàn kết thực sự nghĩa là mục đích phải nhất trí và lập trường cũng phải nhất trí. Đoàn kết thực sự nghĩa là vừa đoàn kết, vừa đấu tranh, học những cái tốt của nhau, phê bình những cái sai của nhau và phê bình trên lập trường thân ái, vì nước, vì dân". Về mối quan hệ giữa phê bình, tự phê bình và đoàn kết, Người giải thích: Phê bình, tự phê bình tốt nghĩa là xuất phát từ đoàn kết mà phê bình và tự phê bình, phê bình và tự phê bình để đi đến đoàn kết hơn nữa.

          Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh ý nghĩa, tác đụng to lớn của đoàn kết. Người nhiều lần khẳng định "Đoàn kết là lực lượng mạnh nhất của chúng ta". "Đoàn kết là một lực lượng vô địch". "Đoàn kết là sức mạnh". Đoàn kết là sức mạnh vô địch của chúng ta". "Đoàn kết là lực lượng tất thắng". Thật là một chân lý giản dị và sáng tỏ.
Theo Hồ Chí Minh, đoàn kết, đại đoàn kết là nhân tố thắng lợi của cách mạng Việt Nam, giúp dân tộc ta "thành công, đại thành công" trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Trong lời kêu gọi nhân dịp kỷ niệm cách mạng tháng Tám và ngày Độc lập năm 1951, Người nhấn mạnh: "Lòng yêu nước và sự đoàn kết của nhân dân ta là một lực lượng vô cùng to lớn, không ai thắng nổi. Nhờ lực lượng ấy mà tổ tiên ta đã đánh thắng quân Nguyên, quân Minh, đã giữ vững quyền tự do, tự chủ. Nhờ lực lượng ấy mà chúng ta cách mạng thành công, giành được độc lập. Nhờ lực lượng ấy mà sức kháng chiến của ta ngày càng mạnh. Nhờ lực lượng ấy mà quân và dân ta quyết chịu đựng muôn nỗi khó khăn thiếu thốn, đói khổ quyết một lòng đánh tan quân giặc cướp nước. Nhờ lực lượng ấy mà với gậy tầm vông và súng hoả mai lúc đầu, chúng ta liên tiếp thắng địch". Trong Báo cáo về dự thảo Hiến pháp sửa đổi tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà khoá I, ngày 18-12-1959, Người khẳng định: "Lần đầu tiên trong lịch sử, một dân tộc bị áp bức đã đánh bại cuộc xâm lược của một đế quốc hùng mạnh, đã giành lại độc lập cho dân tộc, đem lại ruộng đất cho dân cày, đưa lại quyền dân chủ thực sự cho nhân dân. Thắng lợi đó là do lòng yêu nước nồng nàn và tinh thần đấu tranh anh dũng của quân và dân ta, do toàn dân ta đoàn kết chặt chẽ trong Mặt trận Dân tộc thống nhất và chính quyền nhân dân ta dựa trên nền tảng liên minh công nông dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân và Đảng...". Trong bài nói tại Hội những người Ấn nghiên cứu các vấn đề quốc tế, ngày 7-2-1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: "Nhờ đại đoàn kết mà trong bao nhiêu thế kỷ, nhân dân Việt Nam đã bảo vệ được độc lập, tự đo của mình. Nhờ đại đoàn kết mà nhân dân Việt Nam đã đánh thắng chủ nghĩa thực dân, làm cách mạng Tháng Tám thành công và đã kháng chiến đến thắng lợi. Nhờ đại đoàn kết toàn dân mà nước Việt Nam chúng tôi nhất định sẽ thống nhất".

          Nhờ có chiến lược đại đoàn kết đúng đắn của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, cách mạng nước ta hơn 70 năm qua đã giành được hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, phát huy được sức mạnh của toàn dân tộc đánh thắng được hai đế quốc to là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, cả nước hoà bình, thống nhất đi lên CNXH, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Để tiếp tục phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh, tiếp tục đưa Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng và Nghị quyết TW7 (khóa IX) về "phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh" vào cuộc sống, cần thực thi mạnh mẽ, có hiệu quả những chủ trương chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, xây dựng những định hướng chính sách nhằm tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Thứ hai, phát huy mạnh mẽ vai trò của chính quyền Nhà nước trong việc thực hiện chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc.
Thứ ba, mở rộng và đa dạng hoá các hình thức tập hợp nhân dân, nâng cao vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể trong việc thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc.
Thứ tư, tăng cường công tác chính trị tư tưởng, nâng cao trách nhiệm công dân, xây dựng sự đồng thuận xã hội, đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước.
Thứ năm, xây đựng tổ chức Đảng trong sạch, vững mạnh và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng để Đảng thực sự là hạt nhân lãnh đạo khối đại đoàn kết toàn dân tộc.















Read more…