Báo cáo ngoại khóa Chuyên đề Đạo đức

2:15 AM |
GIÁ TRỊ NHÂN VĂN CAO QUÝ TRONG SỰ NGHIỆP
VĂN HÓA HỒ CHÍ MINH
Báo cáo viên: GS. SONG THÀNH
Học viện chính trị Hành chính quốc gia
Chủ tịch Hồ Chí Minh được thế giới công nhận là Nhà văn hóa kiệt xuất bằng cả một sự nghiệp văn hóa đồ sộ mà Nguời đã cống hiến cho dân tộc và nhân loại.
Trước hết, Chủ tịch Hồ Chí Minh được công nhận là Nhà văn hóa kiệt xuất vì Người đã khởi xướng phong trào đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc, giải phóng các dân tộc thuộc địa, giành lại độc lập, tự do. Đó không chỉ là một sự nghiệp chính trị phi thường, mà còn là một sự nghiệp văn hóa cao cả.
“Đổi người nô lệ thành người tự do”, phát động lòng yêu nước và chủ nghĩa anh hùng của một dân tộc phần đông còn mù chữ và thất học vùng dậy đấu tranh giành độc lập, đó là một sự nghiệp gian nan và phi thường, đồng thời cũng là một sự nghiệp văn hóa vĩ đại. Bởi vì, giải phóng con người khỏi thân phận nô lệ, khỏi cái đói, cái rét, cái dốt, là một sự nghiệp văn hóa có ý nghĩa cao cả nhất, đầy đủ nhất, một ước mơ ngàn đời của nhân loại.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là Nhà văn hóa kiệt xuất vì Người đã sớm thấy vai trò và sức mạnh của văn hóa, đã sớm đưa văn hóa vào chiến lược phát triển của đất nước.
Giành được độc lập rồi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nâng dân tộc mình lên một tầm văn hóa mới. Người đề nghị mở ngay chiến dịch chống giặc dốt. Người coi dốt nát cũng là một thứ giặc, xem thói quen và những truyền thống lạc hậu cũng là một loại kẻ thù. Người nói: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”… “Chúng ta có nhiệm vụ cấp bách là phải giáo dục lại nhân dân chúng ta… phải làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập”
Người phát động phong trào Đời sống mới, xây dựng và phát triển những thuần phong, mỹ tục mới trong nhân dân; mỗi ngành, mỗi giới đều có phong trào riêng của mình. Công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh là Người đã đưa văn hóa đi sâu vào quần chúng, tác động như một sức mạnh vật chất, biến đổi phong hóa, cải tạo con người.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đặt cơ sở thế giới quan và phương pháp luận cho việc xây dựng nền văn hóa mới Việt Nam. Người là kiến trúc sư vĩ đại của công cuộc cải cách và xây dựng nền văn hóa Việt Nam, tạo ra một cách nhìn mới, một thế giới quan mới, tạo lập một ý thức chính trị, ý thức đạo đức, ý thức pháp luật, ý thức nghệ thuật mới… chưa từng có trong lịch sử văn hóa Việt Nam.
Trên cơ sở đó, Người đã đánh thức các tiềm năng tinh thần truyền thống Việt Nam định hướng cho sự ra đời một nền đạo đức mới, một xã hội nhân cách mới. Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, xã hội nhân cách – đạo đức ấy được tạo dựng trên cơ sở chủ nghĩa yêu nước chân chính, kết hợp với chủ nghĩa quốc tế trong sáng, theo nhân cách luận của người chiến sĩ cách mạng kiểu mới: trung với nước, hiếu với dân, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư… Sau khi đã lãnh đạo toàn dân giành lại quyền độc lập, tự do cho Tổ quốc, Người đã đưa văn hóa Việt Nam lên vị trí xứng đáng trong nền văn hóa thế giới.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là Nhà văn hóa kiệt xuất vì bản thân Người là một nhà hoạt động và sáng tạo văn hóa lớn.
Hồ Chí Minh là biểu tượng của sự kết hợp hài hòa tinh hoa văn hóa dân tộc và văn hóa nhân loại, Đông và Tây. Từ nhỏ, Người đã được hấp thụ một nền văn hóa dân tộc và văn hóa phương Đông sâu sắc. Trên đường học tập và nghiên cứu, Người đã từng bước hấp thụ văn hóa nhân đạo và dân chủ của phương Tây, đặc biệt là tinh thần tự do, bình đẳng, bác ái của truyền thống văn hóa cách mạng Pháp. Chính trí tuệ siêu việt, vốn sống thực tế phong phú và vốn văn hóa rộng lớn đã dẫn Người đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, kết tinh thành tựu văn hóa của loài người. Người đã làm chủ được nhiều ngôn ngữ khác nhau, sử dụng một cách thành thạo trong viết văn, viết báo, làm thơ, viết kịch…; khi xuất hiện như một nhà báo phương Tây sành sỏi, khi lại trầm tĩnh, hàm súc như một thi sĩ cổ điển phương Đông. Trải qua mấy chục năm học tập và rèn luyện, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng bước vươn lên tầm cao của trí tuệ thời đại, để từ đó vận dụng và phát triển, sáng tạo và đổi mới, đóng góp vào kho tàng văn hóa thế giới những giá trị đặc sắc, in đậm dấu ấn Việt Nam – Hồ Chí Minh.
Bản thân Hồ Chí Minh là nhà thơ, nhà văn, nhà báo cách mạng vĩ đại. Thơ Hồ Chí Minh có bài viết bằng tiếng Việt, có bài viết bằng chữ Hán, song không bài thơ nào vắng bóng con người. Khát vọng tự do, công lý, cơm áo, hòa bình… sự cổ vũ cho cái đẹp và mối quan hệ nhân văn giữa người với người, đó là những nội dung chủ yếu trong thơ Hồ Chí Minh. Vì vậy, những bài thơ ngẫu hứng, sản phẩm của một thời, trong đó không ít bài đã ra đời trong cảnh tù đày, biệt xứ, đã trở thành “thơ của muôn đời”, đã làm “xáo trộn cả tâm hồn nhân loại” bởi những giá trị nhân văn cao quý, tỏa sáng từ một tâm hồn lớn, một nhân cách lớn.
Là một nhà thơ lớn của dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đồng thời là nhà văn lớn, là người mở đầu và đặt nền móng cho nền văn xuôi cách mạng Việt Nam. Người đã tìm tòi và viết nhiều thể loại; tiểu thuyết du ký, truyện viễn tưởng, truyện ngắn, thư từ, ký, kịch, tiểu phẩm, văn chính luận. Ở lĩnh vực nào Người cũng đạt được những thành tựu đặc sắc, đem lại những yếu tố rất mới, rất hiện đại và giữ nguyên giá trị trong sự đổi mới văn học hôm nay.
Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là một bậc thầy của báo chí cách mạng Việt Nam. Người rất khiêm tốn, không nhận mình là nhà thơ, nhà văn, chỉ nhận mình là “người có nhiều duyên nợ với báo chí”. Chính Người đã sáng lập và là linh hồn của nhiều tờ báo cách mạng đầu tiên ở nước ta. Những bài báo ngắn gọn của Người đã góp phần thức tỉnh các dân tộc bị áp bức, truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin, lên án chủ nghĩa thực dân, chỉ đạo phong trào cách mạng ở thuộc địa. Tất cả những gì Người viết ra đều là sự phản ánh trung thực, hồn nhiên vẻ đẹp cao quý trong đạo đức, trí tuệ và tâm hồn của một nhân cách lỗi lạc, vì vậy, tất cả đều hiện ra chân thực, giản dị, tự nhiên, vốn là những chuẩn mực tiêu biểu cho cái đẹp – cái hoàn thiện của con người.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà văn hóa kiệt xuất bởi Người còn là mẫu mực của tinh thần khoan dung văn hóa. Người nhắc nhở phải giữ gìn, phát huy truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc, nhưng không tự bó mình trong chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, thiển cận, mà kêu gọi phải ra sức nghiên cứu, học tập tinh hoa văn hóa của thế giới, xưa và nay. Người trân trọng mọi giá trị văn hóa nhân loại, tôn trọng và chấp nhận những giá trị khác biệt với sự lựa chọn của mình. Người từng thừa nhận mình là học trò của Các Mác, Giê-su, Khổng Tử, Tôn Dật Tiên, vì “các vị ấy đều có điểm chung giống nhau là mưu cầu hạnh phúc cho loài người… Nếu họ còn sống và ở gần nhau, tôi tin họ sẽ chung sống thoải mái với nhau như những người bạn tốt”. Đối với các tôn giáo, Người thành thật tôn trọng đức tin của người có đạo, khẳng định ý tưởng cao đẹp và những giá trị nhân bản của các vị sáng lập ra các tôn giáo đó, không hề bài bác hay phủ định, mà biết khéo hướng lý tưởng của các tôn giáo vào phục vụ sự nghiệp giải phóng dân tộc và mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà văn hóa kiệt xuất vì Người còn là hiện thân rực rỡ của văn hóa hòa bình, của đường lối ngoại giao hòa bình, luôn luôn chủ trương giải quyết mọi tranh chấp, xung đột bằng thương lượng, đối thoại với thái độ hiểu biết và nhân nhượng lẫn nhau.
Tóm lại, có thể khẳng định Nhà văn hóa kiệt xuất Hồ Chí Minh đã sáng tạo ra một thời đại mới, một nền văn hóa mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam, cũng là những giá trị đóng góp vào sự phát triển văn hóa thế giới. Nhiều chủ trương văn hóa được Người đề ra rất sớm – từ giữa những năm 40 và 50 của thế kỷ 20, như: xóa mù chữ, trồng cây phủ xanh đồi trọc, cải tạo môi trường sinh thái, yêu mến và kính trọng người già, v.v.. đến đầu những năm 90 đã được Liên hợp quốc đề lên thành những cuộc vận động lớn trên toàn thế giới. Đúng như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một kho tàng đầy của báu, là di sản chứa đựng bao giá trị, giá trị đó, nói cho cùng, là giá trị văn hoá mà chúng ta khai thác chưa được bao nhiêu”2
Sự nghiệp văn hóa Hồ Chí Minh vô cùng phong phú: có văn hóa chính trị, văn hóa đạo đức, văn hóa giao tiếp-ứng xử, văn hóa khoan dung, văn hóa-văn nghệ… Văn hóa Hồ Chí Minh là sự kết hợp hài hòa, nhuần nhuyễn những giá trị văn hóa cổ truyền của dân tộc với những yếu tố tích cực trong văn hóa phương Đông, văn hóa các tôn giáo, văn hóa dân chủ – cách mạng phương Tây, văn hóa mác-xít,… để trở thành văn hóa tiên tiến, mang những giá trị nhân văn sâu sắc, vốn là nội dung cốt lõi của văn hóa nhân loại.
Văn hóa chính trị Hồ Chí Minh là văn hóa yêu nước, thương dân, hướng tất cả vào phục vụ sự nghiệp đấu tranh cho độc lập của Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân; là văn hóa trọng dân “lấy dân làm gốc”. Với tâm niệm “có dân là có tất cả”, nên Người thường xuyên giáo dục cán bộ, đảng viên phải lo “sao cho được lòng dân”, phải phấn đấu trở thành người công bộc trung thành và tận tụy của nhân dân. Văn hóa chính trị Hồ Chí Minh vượt lên trên mọi sáo ngữ, giáo điều (nói nhiều làm ít, nói hay làm dở), đó là sự chung đúc những giá trị của các học thuyết trị nước tiến bộ mà các bậc anh hùng dân tộc, các minh quân, lương tướng đã theo đuổi trong lịch sử dân tộc và nhân loại. Chính vì thế nó chứa đựng những giá trị nhân văn cao quý.
Văn hóa đạo đức Hồ Chí Minh là văn hóa hành thiện, cổ vũ làm điều thiện, sống với nhau có tình, có nghĩa, muốn thế phải thực hiện cho tốt 8 chữ vàng : cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư biết kết hợp hài hòa lợi ích chung với lợi ích riêng, sống trung thực, giản dị, khiêm tốn, nói đi đôi với làm, ít lòng ham muốn về vật chất… nhờ đó mà có thể “sống oanh liệt, chết vẻ vang”.
Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh chính là hiện thân sinh động của văn hóa đạo đức Hồ Chí Minh. Như một người từng đối đầu với Hồ Chí Minh – tướng Vanluy thừa nhận: “Hoàn toàn xả thân vì nhiệm vụ, không một chút lợi riêng tư, dưới con mắt những người chung quanh và những người đối thoại, Hồ Chí Minh là một người vô cùng đức độ”3. Thắng lợi của cách mạng, vinh quang của quyền lực, hay danh vọng của cá nhân không thể nào làm lu mờ tấm gương đạo đức của Người. Vì vậy, trong thế giới của những người cầm quyền, hình ảnh Hồ Chí Minh lại càng nổi bật hơn bao giờ hết.
Văn hóa ứng xử Hồ Chí Minh, nói rộng ra là phương châm xử thế, Hồ Chí Minh luôn luôn là người trung hậu, thủy chung với nhân dân, với đồng chí, đồng bào và với bạn bè quốc tế: Người thấy rừng và thấy cả từng cây, không bỏ sót một ai cả, không quên bất cứ một nghĩa cử nào, dù nhỏ, đã từng ủng hộ, giúp đỡ cách mạng Việt Nam; nhưng Hồ Chí Minh lại không bao giờ nhắc đến người cũ, chuyện cũ đã từng có lúc đối xử không đúng với Người; nếu có ai nhắc đến Người cũng gạt đi. Văn hóa ứng xử Hồ Chí Minh cực kỳ tinh tế, uyển chuyển, có lý có tình, khiêm tốn, nhã nhặn, lịch thiệp.
Ứng xử văn hóa của Hồ Chí Minh đã tranh thủ được trái tim, khối óc của bạn bè năm châu, làm cho kẻ thù cũng phải khâm phục.
Văn hóa khoan dung Hồ Chí Minh là kết tinh truyền thống nhân ái, độ lượng Việt Nam và cũng là nét đặc trưng của văn hóa hòa bình trong thời đại ngày nay. Người nói: “Dân tộc ta là một dân tộc giàu lòng đồng tình và bác ái”. Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát triển những giá trị khoan dung của dân tộc và nhân loại, nâng lên thành một chất lượng mới, ở một tầm cao mới.
Là người cộng sản, Hồ Chí Minh có thái độ tôn trọng, không bao giờ tỏ ra kỳ thị, bài bác mà luôn luôn có ý thức khai thác, vận dụng những yếu tố tích cực của các học thuyết chính trị và tôn giáo như Nho, Phật, Lão, Thiện chúa giáo… vào sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước.
Khoan dung văn hóa Hồ Chí Minh được xây dựng trên cơ sở chữ “nhân” nhưng là một chữ nhân sáng suốt, có nguyên tắc, lấy công lý, chính nghĩa là nền tảng, chủ trương giải quyết những vấn đề dân tộc và quốc tế trên cơ sở “có lý, có tình”.
Khoan dung văn hóa Hồ Chí Minh là thái độ trân trọng đối với mọi giá trị văn hóa nhân loại, là không ngừng rộng mở, thâu hóa những yếu tố tích cực, tiến bộ và nhân văn của loài người để làm giàu cho văn hóa Việt Nam. Khoan dung văn hóa Hồ Chí Minh là chấp nhận giao lưu và đối thoại bình đẳng về giá trị để đạt tới cái chung, cái nhân loại, để cùng tồn tại và phát triển. Trong khi chống thực dân Pháp xâm lược, Người vấn đề cao văn hóa Pháp. Trong khi chống đế quốc Mỹ, Người vẫn ca ngợi truyền thống văn hóa dân chủ và cách mạng Mỹ.
Nói về văn hóa khoan dung Hồ Chí Minh, nhà báo Mỹ Đ.Han-bơ-xtam đã thừa nhận: “Cụ Hồ đã làm được một điều đáng chú ý: biết dùng tới văn hóa và tâm hồn kẻ thù để chiến thắng”4.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho dân tộc Việt Nam một di sản văn hóa cao đẹp và phong phú, trong đó không thể nhắctới những tư tưởng chỉ đạo của Người về xây dựng một nền văn hóa mới: dân tộc, khoa học và nhân văn, một nền văn hóa “lấy hạnh phúc của đồng bào, của dân tộc làm cơ sở”, “làm cho ai cũng có lý tưởng, độc lập, tự chủ”, “văn hóa phải sửa đổi được tham nhũng, lười biếng, phù hoa xa xỉ”, “văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”… Những phương châm đó vẫn giữ nguyên giá trị chỉ đạo đối với việc xây dựng nền văn hóa dân tộc, cho hôm nay và cả mai sau.
Khẳng định những giá trị nhân văn cao quý trong sự nghiệp văn hóa và con người Hồ Chí Minh, nhà báo G.La-cu-tuya – người được coi là một nhà viết tiểu sử Hồ Chí Minh hay nhất ở phương Tây, đã viết : “Đó là một tấm trí minh mẫn, ít ham thích bạo lực, một thái độ rất độc đáo về quan hệ giữa người với người, một trình độ văn hóa tự học khá rộng nhưng rất thông hiểu, một tinh thần hài hước, trong đó bám rễ vào các tập quán châu Á luôn luôn kết hợp với những ảnh hưởng phương Tây, một tinh thần thanh bạch, một sự khắc khổ tự nhiên được ý chí làm cho vững chắc thêm lên, một nghị lực có một không hai. Vâng, tất cả những nét đó trở thành bí quyết của Cụ Hồ trước những thử thách của đời sống xã hội”6.
Đúng như G.La-cu-tuya đã dự báo, tư tưởng và sự nghiệp văn hóa của Hồ Chí Minh đã vượt qua những thử thách khắc nghiệp của lịch sử và vẫn đang tiếp tục tỏa sáng, đặc biệt là ở vào thời điểm hiện nay, trong một thế giới đang biến động và đầy lo âu: khi mà sự sa sút về đạo đức, sự phản trắc, lừa đảo, hãm hại lẫn nhau… đang có nguy cơ tăng lên; khi mà hình ảnh của một số lãnh tụ cầm quyền ở nơi này, nơi khác đang bị phê phán và hạ bệ, thì hình ảnh Hồ Chí Minh lại càng nổi bật lên trước con mắt của nhân loại hơn bao giờ hết.
Một nhà báo Vê-nê-xu-ê-la đã viết rất thuyết phục: “Bộ máy tuyên truyền của đế quốc và các thế lực phản động đã rất nổi tiếng trong nghệ thuật vu khống xấu xa, hòng làm mất uy tín những địch thủ của họ. Họ đã chi tiêu rất nhiều tiền hòng bôi nhọ trước dư luận quốc tế đối với những ai, bằng cách này hay cách khác chống lại sự thống trị của họ… Tất cả những lãnh tụ cộng sản nổi tiếng trên thế giới đều được các hãng thông tấn của họ dán cho những “nhãn hiệu” như là những kẻ cướp hoặc khủng bố đáng tội treo cổ! Duy chỉ có Bác Hồ, do tấm gương cuộc đời và đạo đức của Người, đã làm cho những kẻ chuyên nghề vu cáo phải kính nể”.




HỌC ĐẠO ĐỨC BÁC HỒ PHẢI TỪ CÁI GỐC PHẢI THỨC TỈNH ĐƯỢC LƯƠNG TÂM CON NGƯỜI
                                                Báo cáo viên: Trần Trọng Tâm

Theo đồng chí Lê Duẩn, cái gốc - trong tấm gương đạo đức Bác Hồ là lòng yêu thương con người. Đảng dạy chúng ta, người cộng sản phải kiên định lập trường giai cấp của giai cấp công nhân, chính là kiên định từ cái gốc đó.
Cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" trong toàn Đảng và trong toàn xã hội đang được triển khai.
Tấm gương đạo đức theo tư tưởng Hồ Chí Minh đã được nêu là: Trung với nước, hiếu với dân; yêu thương con người, sống có nghĩa có tình; cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư; tinh thần quốc tế trong sáng.
Theo đồng chí Lê Duẩn, cái gốc - trong tấm gương đạo đức Bác Hồ là lòng yêu thương con người. Đảng dạy chúng ta, người cộng sản phải kiên định lập trường giai cấp của giai cấp công nhân, chính là kiên định từ cái gốc đó.
Từ lòng yêu thương sâu đậm đối với con người mà biết giận kẻ gây ra cảnh khổ nhục cho con người. Rồi người cộng sản không chỉ biết hy sinh mà còn xả thân làm cách mạng để giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người, tạo điều kiện cho con người có cuộc sống chân chính, sống bằng lao động, sống trong tình thương và sống theo lẽ phải.
Cũng từ lòng thương yêu con người mà hiểu được thực chất của hai chữ "vào Đảng". Sống trong xã hội chứng kiến tình cảnh con người bị khổ nhục… mà lòng dửng dưng không chút động lòng, đó là lúc người cộng sản đã ra khỏi Đảng.
Suy nghĩ về các cấp độ đạo đức, thì Bác Hồ chúng ta là tấm gương sáng tuyệt đẹp về cả bốn cấp độ:
Một là, gương đạo đức làm người: Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư.
Hai là, gương đạo đức cách mạng của giai cấp công nhân: ý thức tổ chức và kỷ luật, ý thức tập thể, đặt cái "tôi" trong "chúng ta".
Ba là, gương đạo đức người chiến sĩ cộng sản, sống, phấn đấu cho lý tưởng chủ nghĩa cộng sản; triệt để giải phóng con người. Có ý thức trách nhiệm trong vai trò tiên phong, gương mẫu, lôi cuốn quần chúng theo Đảng, bền chí tự học, đóng góp cho Đảng "cái đầu lạnh" với "trái tim nóng".
Bốn là, gương đạo đức của vị lãnh tụ của một Đảng cộng sản cầm quyền, có uy tín lớn được cả dân tộc tin yêu, nhưng rất khiêm tốn, sống giản dị, chống mọi đặc quyền đặc lợi, không thích được tâng bốc, được sùng bái.
Chính Bác Hồ đã đề xướng nguyên tắc tổ chức Đảng là dân chủ tập trung, coi người lãnh tụ là nhân vật trung tâm đứng cùng hàng để lôi cuốn toàn Ban Chấp hành Trung ương Đảng, lôi cuốn toàn Đảng, toàn dân làm cách mạng theo hình vòng xoáy.
Bác không muốn đứng cao hơn tập thể rồi đứng ở đỉnh chóp của Đảng, của dân tộc. Không muốn đứng cao hơn tập thể, rồi coi thường tập thể; không thích được tung hô là lãnh tụ vĩ đại. Và chính Bác Hồ chúng ta với cái đức như vậy mới thật là vị lãnh tụ vĩ đại.
Trong bốn cấp độ về đạo đức nêu trên, Bác Hồ luôn xem đạo đức làm người là gốc, là nền tảng. Bác Hồ cho rằng:
Trời có bốn mùa: Xuân, hạ, thu, đông.
Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc.
Người có bốn đức: Cần, kiệm, liêm, chính, thiếu một đức thì không thành người.
Ở trang đầu cuốn Sổ vàng của Trường Nguyễn Ái Quốc, là trường Đảng ở Trung ương, nơi bồi dưỡng, đào tạo cán bộ trung, cao cấp, từ tháng 9/1949 Bác Hồ đã viết: "Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại. Muốn đạt được mục đích thì phải cần, kiệm, liêm, chính; chí công, vô tư".
Nghĩ đến hai chữ "liêm, chính", tôi nhớ, ngày 15/4/2003, Báo Công an có đưa tin anh Đồng, tài xế taxi đã tìm cách trả lại cho khách là vợ chồng người Mỹ Billy Leepol một túi xách, trong đó có 18.800 USD và 49 triệu 400 đồng Việt Nam.
Đối với người lái xe taxi, đó là số tiền khá lớn, nếu lấy cũng không sợ bị phát hiện, nhưng anh Đồng không tham, đã trả lại cho khách.
Hỏi ra, thì đã được trả lời đơn giản rằng, không tham vì đã nhập tâm lời mẹ dặn, là phải ráng làm lấy mà ăn, đừng tham của người khác, hễ tham thì thâm thôi. Chỉ nhập tâm lời mẹ dặn có vậy thôi mà anh Đồng đã giữ được hai chữ "liêm, chính" trong đạo làm người.
Như vậy, dạy để hiểu lý lẽ về đạo làm người không khó, nhưng hiểu mà làm theo là phải nhập tâm tức là phải thấm sâu vào lòng mình, thành lương tâm của mình như anh Đồng, đối với nhiều người không phải dễ.
Phải có lương tâm làm người mới có hành vi đạo đức làm người. Chúng ta cũng biết có cán bộ gọi là cao cấp, được học khá nhiều về lý luận, về chính trị, tư tưởng, nhưng chỉ tham ăn hối lộ mấy ngàn đôla mà đang tâm làm điều phạm tội, chính là vì học nhiều nhưng chưa nhập tâm.
Để có hành vi đạo đức làm người, cần phải nhập tâm rằng, trong con người có "con" và có "người", tức là vừa có thú tính vừa có nhân tính. Hành vi theo "con" là theo bản năng sống như loài động vật, đó là thú tính. Hành vi theo "người" là hành vi có ý thức về làm người, tức là sống có suy nghĩ về cái vinh cái nhục, cái đúng cái sai, cái xấu cái tốt, đó là nhân tính. Có phát huy nhân tính mới giữ cho cuộc sống con người có niềm vui và hạnh phúc vì đã làm được điều vinh, điều đúng, điều tốt.
Để giữ được đạo làm người, ngoài việc đấu tranh kiềm chế thú tính, còn phải chống chủ nghĩa cá nhân vị kỷ vì nó dẫn đến những hành vi sai trái với định nghĩa về con người, vốn là một sinh vật mang tính xã hội. Con người ta sống phải nghĩ đến lợi mình mà không hại người, lợi nhà phải gắn với ích nước, lợi cho dân nước mình nhưng không làm hại cho dân nước khác.
Tu dưỡng đạo đức làm người phải là việc tự giác của mỗi người và sự phán xét của xã hội về đạo làm người đối với mỗi con người là hoàn toàn tự do, không một quyền lực nào có thể ngăn cấm.
Tuy nhiên kiểm tra phán xét thật chính xác về đạo đức của bản thân mình chỉ có lương tâm mình. Người ta có thể tạm thời che giấu lỗi lầm của mình về đạo đức để được khen lầm, kính phục lầm đối với mình. Nhưng, nếu có ai làm như vậy thì ngoài sai lầm về đạo đức còn mang thêm tội lừa dối. Khi lương tâm được thức tỉnh, sự ân hận sẽ tăng lên gấp bội. Ân hận là biểu hiện sự trừng phạt của lương tâm.
Nhưng nếu phạm sai lầm mà có sự ân hận sâu sắc thì có thể tránh được tái phạm. Táng tận lương tâm, làm điều giả dối, điều xấu, điều ác mà không ân hận là không còn tính người. Giữ được trọn vẹn đạo làm người rất khó, phải tự rèn luyện thường xuyên, liên tục, đừng để khôn nhiều năm mà buông lỏng tu dưỡng để dại chỉ một giờ mà hỏng cả cuộc đời.
Các biểu hiện về suy thoái đạo đức trong một bộ phận cán bộ đảng viên hiện nay đều thuộc cấp độ đạo đức làm người, tức là suy thoái từ gốc.
Giáo dục, học tập về đạo đức phải đi đến thức tỉnh được lương tâm con người, làm cho mỗi người tự mình hình thành được trong mình một tòa án lương tâm đủ sức phán xét thật nghiêm khắc về đạo đức làm người của chính mình.
Có làm được như vậy, cuộc vận động học tập và làm theo gương đạo đức Bác Hồ lần này mới có thể đạt được kết quả mong muốn











HỌC TẬP VÀ THỰC HIỆN TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỰC
HỐ CHÍ MINH
Báo cáo viên: TS. Nguyễn Khánh Bật
Viện trưởng Viện Hồ Chí Minh
Tiến sĩ Nguyễn Khánh Bật, Viện trưởng Viện Hồ Chí Minh cho rằng, trong điều kiện hiện nay, trước nguy cơ nạn tham nhũng và tệ quan liêu, trước thực trạng thoái hóa về phẩm chất, đạo đức của một bộ phận cán bộ, đảng viên, việc học tập, thực hiện tư tưởng đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh càng trở nên cấp thiết.
          Thực tế từ nǎm 1991 đến nay đã chứng tỏ khi sự nghiệp đổi mới càng mở rộng và phát triển theo chiều sâu thì việc nghiên cứu, quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh càng được đẩy mạnh và mang tính hệ thống. Thành công của đổi mới gắn bó chặt chẽ với việc học tập, quán triệt và thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh. Nói một cách khác, có sự thống nhất, sự hòa quyện, quan hệ nhân quả giữa thắng lợi to lớn của sự nghiệp đổi mới với vai trò chỉ lối, đưa đường của tư tưởng Hồ Chí Minh. Quan điểm ấy được quán triệt sâu sắc trong toàn bộ Dự thảo các vǎn kiện trình Đại hội Đảng lần thứ IX của Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII (từ đây xin được viết gọn là dự thảo).

          Dự thảo viết, qua 15 nǎm đổi mới (1986-2000) đã cho nhân dân Việt Nam "nhiều kinh nghiệm quý báu,... càng thấy nổi bật nhiều điều sâu sắc". Kinh nghiệm quý báu đầu tiên, điều sâu sắc đầu tiên là: "Trong quá trình đổi mới phải kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh". ở phần III - "Mấy vấn đề về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta", quan điểm trên đây được nhấn mạnh: "Chúng ta một lần nữa khẳng định: Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh". Dự thảo cho rằng: "Tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thụ tinh hoa vǎn hóa nhân loại, là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam... Tư tưởng Hồ Chí Minh đã và đang soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi; đó là tài sản tinh thần to lớn vô giá của Đảng ta, dân tộc ta".
Với tư cách là một hệ thống quan điểm toàn diện, sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, nội hàm tư tưởng Hồ Chí Minh rất phong phú. Nhân tố hàng đầu tạo nên một hệ thống quan điểm toàn diện sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam chính là tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh. ý thức sâu sắc vai trò nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với Đảng và dân tộc cho nên cùng với bước tiến về nhận thức, Dự thảo còn đòi hỏi ngay từ bây giờ và sang thế kỷ 21 cần đẩy mạnh hơn nữa việc học tập, quán triệt, thực hành tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó đặc biệt chú trọng tư tưởng đạo đức. ở phần IV - "Đường lối kinh tế và chiến lược phát triển", Dự thảo đặt vấn đề trong giáo dục, đào tạo những chủ nhân của thế kỷ 21 cần: "Coi trọng giảng dạy các bộ môn Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giáo dục tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống trong mọi loại hình trường". Đối với những người đang giữ trọng trách trong quản lý và điều hành đất nước hiện nay, Dự thảo viết: "Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, trước hết đối với cán bộ lãnh đạo và quản lý các cấp, về chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh". Việc học tập, thực hành tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh đối với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thể hiện đặc biệt rõ ở phần X - "Xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao nǎng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng". Về vấn đề này, Dự thảo có đoạn: "Mở rộng trong toàn Đảng và trong nhân dân phong trào học tập và làm theo tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh".
Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là sự phản ánh hoàn cảnh kinh tế, chính trị, vǎn hóa, xã hội của đất nước và thực tiễn đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động thông qua nhận thức và hành vi đạo đức Hồ Chí Minh. Vì vậy, tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh không chỉ được Người đề cập qua những tác phẩm, bài nói, bài viết mà được phản ánh sâu đậm nhất trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng dũng cảm, sáng tạo vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người của Hồ Chí Minh.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà cách mạng chuyên nghiệp, do đó, đạo đức mà Người đề cập trong các tác phẩm, bài nói, bài viết và suốt đời nêu gương, theo đuổi trước hết là đạo đức của người cách mạng, là đạo đức cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, để hoàn thành mọi nhiệm vụ do cách mạng giao phó người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: Đạo đức cách mạng là tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân. Điều quan trọng nhất đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh là tuyệt đối trung thành không chỉ dừng lại trên lời nói, ở phạm trù, chuẩn mực đạo đức mà phải biến thành lẽ sống và phương thức hoạt động của mỗi người, trước hết là cán bộ, đảng viên. Với quan niệm đó, khi đi vào hoạt động thực tiễn "tuyệt đối trung thành" phải là "quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng". Chủ tịch Hồ Chí Minh coi đó là tiêu chuẩn số một của người cách mạng, của đạo đức cách mạng. Đương nhiên, ở Chủ tịch Hồ Chí Minh đạo đức cách mạng gắn bó với tinh thần triệt để cách mạng, với trình độ khoa học sâu sắc. Do đó lòng trung thành không chỉ là cần cù, chịu khó, sẵn sàng hy sinh tính mạng mà còn phải bảo đảm hoàn thành mọi nhiệm vụ, chiến thắng mọi kẻ thù. Để đạt mục tiêu đó phải biết kết hợp nhiệt tình cách mạng với trình độ khoa học. Chủ tịch Hồ Chí Minh gọi đó là sự kết hợp chặt chẽ giữa đức với tài. Hiện nay, chúng ta gọi đó là sự kết hợp phẩm chất đạo đức với nǎng lực trí tuệ.
Trong khi cho rằng để chiến thắng mọi kẻ thù trước tiên phải có đạo đức cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát kẻ địch gồm ba loại:

- Chủ nghĩa tư bản và đế quốc thực dân;
- Thói quen và truyền thống lạc hậu;
- Chủ nghĩa cá nhân.

          Ba kẻ địch nêu trên liên quan chặt chẽ với nhau, muốn chiến thắng chúng không chỉ biết dùng gươm, dùng súng, dũng cảm xông lên, mà còn phải biết cải tạo, bao gồm cải tạo bản thân mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, "một cách rất cẩn thận, rất chịu khó, rất lâu dài".
          Cần nói thêm là, cùng với sự phát triển của cách mạng, nhất là khi đất nước bước vào thời kỳ xây dựng, Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày càng chú ý nhiều hơn tới việc chống kẻ thù thứ ba: chủ nghĩa cá nhân. Thật có ý nghĩa khi chúng ta biết đúng vào dịp kỷ niệm 39 nǎm Ngày thành lập Đảng, báo Nhân dân số 5409, ngày 3-2-1969 đǎng bài của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân". Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đối với những người "mang một ba-lô chủ nghĩa cá nhân", thì làm việc gì đầu tiên họ cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình, không lo mình vì mọi người mà chỉ đòi hỏi mọi người vì mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, chủ nghĩa cá nhân "là mẹ đẻ ra tất cả mọi tính hư tật xấu,... là kẻ thù hung ác của đạo đức cách mạng, chủ nghĩa xã hội".
          Từ quan điểm "kẻ địch gồm có ba loại", phù hợp điều kiện mới, tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII, nǎm 1994, Đảng Cộng sản Việt Nam nêu lên bốn nguy cơ đối với cách mạng Việt Nam, trong đó nguy cơ thứ ba là nạn tham nhũng và tệ quan liêu. Nguy cơ này xuất hiện trước hết do một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ, đảng viên cấp cao rơi vào chủ nghĩa cá nhân, xa rời đạo đức cách mạng. Dự thảo các vǎn kiện trình Đại hội IX tiếp tục nói tới sự tồn tại và diễn biến phức tạp của bốn nguy cơ mà Đảng đã cảnh báo từ đầu nǎm 1991, đồng thời nhấn mạnh rằng một trong những thách thức lớn nhất đối với cách mạng Việt Nam khi bước sang thế kỷ 21 là "trong bộ máy Đảng và Nhà nước tệ quan liêu, tham nhũng và sự tha hóa về phẩm chất đạo đức của một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa được đẩy lùi". Nếu nǎm 1991 Đảng mới chỉ nói tới nguy cơ về nạn tham nhũng và tệ quan liêu thì hơn sáu nǎm sau nguy cơ đó chưa bị đẩy lùi, lại còn xuất hiện thêm "sự suy thoái về phẩm chất đạo đức". Theo suy nghĩ của chúng tôi, quan liêu, tham nhũng là biểu hiện của sự suy thoái về phẩm chất đạo đức, nhưng sự suy thoái về phẩm chất đạo đức còn bao gồm cả những biểu hiện xuống cấp về đạo đức như lối sống sa đọa, thực dụng,... Có thể nói rằng nguy cơ đối với thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam xuất hiện từ trong bộ máy của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể không chỉ đơn thuần là tệ quan liêu, nạn tham nhũng mà là một loạt những vấn đề hết sức phức tạp. Nếu gọi sự vật theo đúng tên của nó thì đó chính là chủ nghĩa cá nhân. Bởi vì theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, mẹ đẻ ra mọi thói hư tật xấu, mọi lỗi lầm đều nảy sinh từ chủ nghĩa cá nhân. Đó là kẻ thù trước tiên cần phải chống trong mỗi con người, trong bộ máy của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể. Dự thảo đã quán triệt tư tưởng đó. Dự thảo đã trực tiếp đề cập việc phải kiên quyết đấu tranh với những cán bộ, đảng viên sa vào chủ nghĩa cá nhân, mang nặng tư tưởng cá nhân. Dự thảo biểu thị quyết tâm của toàn Đảng: "Kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, tệ quan liêu, tham nhũng, tư tưởng thực dụng, tham vọng cá nhân, lối sống vị kỷ, sa đọa". Nếu không khắc phục được những tệ nạn nêu trên thì Đảng, Nhà nước không thể làm cho dân tin, dân phục, dân yêu. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Muốn được dân tin, dân phục, dân yêu, cán bộ phải siêng nǎng, tiết kiệm, trong sạch, chính đáng. Nếu không thực hành bốn điều đó, mà muốn được lòng dân thì cũng như bắc dây leo trời. Điều đáng quan tâm là, nếu tháng 2-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh mới chỉ viết, có "một số ít cán bộ, đảng viên mà đạo đức, phẩm chất còn thấp kém" thì hiện nay số đó hình như đã tǎng lên. Dự thảo nhiều lần sử dụng các cụm từ "một bộ phận cán bộ, đảng viên", "một bộ phận cán bộ, công chức" và "không ít cán bộ, đảng viên trong đó có cả cán bộ lãnh đạo và quản lý các cấp, mang nặng tư tưởng cá nhân, tham vọng quyền lực, danh lợi, cục bộ, bản vị, chưa gương mẫu rèn luyện bản thân".
          Thực trạng trên đây cho thấy tính cấp thiết, ý nghĩa thời sự của việc học tập và thực hiện tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh. Chỉ xuất phát từ "sự thoái hóa về phẩm chất, đạo đức của một bộ phận cán bộ, đảng viên" và toàn xã hội chúng ta, mới hiểu hết quan điểm về học tập và thực hiện tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh được trình bày trong Dự thảo.
          Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, lòng trung thành, đạo đức cách mạng không bao giờ là một khái niệm trừu tượng mà phải được chứng minh qua những việc làm hằng ngày. Cách đây hơn 50 nǎm, đúng ngày 2-9-1950, báo Sự Thật số 140 đǎng bài "Phải tẩy sạch bệnh quan liêu". Trong bài báo này, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: Đã phụng sự nhân dân thì, phải phụng sự cho ra trò. Nghĩa là việc gì có lợi cho dân, dù nhỏ cũng phải làm cho kỳ được, việc gì có hại cho nhân dân dù nhỏ cũng phải hết sức tránh. Ngay từ nǎm 1926, Hồ Chí Minh chỉ rõ tiêu chuẩn số một của "người cách mạng mẫu mực" là: "Đêm ngày nghĩ đến sự nghiệp cách mạng và cứu độ nhân loại".
          Cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương mẫu mực trong việc thực hiện trọn vẹn những chuẩn mực đạo đức do mình khởi xướng. Cho đến những giây phút cuối cùng của đời mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn tâm niệm và hành động vì đạo lý: Bất kỳ bao giờ, bất kỳ ở đâu, tôi cũng chỉ theo đuổi một mục đích, làm cho ích quốc lợi dân.
          Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đòi hỏi, những quan điểm, chủ trương, đường lối đúng đắn phải mang lại hiệu quả thiết thực: làm lợi cho dân, trừ hại cho dân. Do đó, cùng với coi trọng việc đề ra chủ trương, đường lối, Người đặc biệt chú ý giải pháp và quyết tâm thực hiện chủ trương, đường lối đã đề ra. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: Đường lối chủ trương có rồi, phải có biện pháp thực hiện cho tốt... Kế hoạch một phần, biện pháp phải hai phần và quyết tâm phải ba phần, có như thế mới có thể hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch Nhà nước. Có thể nói toàn bộ Dự thảo, trong đó có phần về đạo đức đã quán triệt quan điểm trên đây của Chủ tịch Hồ Chí Minh: cùng với việc nêu lên quan điểm, chủ trương đã đề ra biện pháp và quyết tâm thực hiện. Do đó, chúng ta có cơ sở để tin rằng, với Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX, toàn Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên sẽ từng bước thực hiện được bốn chữ "thật" mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dặn trong Di chúc: "Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân".
























MỐI QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀP HÁT TRIỂ VĂN HOÁ ,THỰC HIỆN TIẾN BỘ VÀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ
                                      Báo cáo viên: GS.TS.Phạm Xuân Nam
                                                Viện Khoa học xã hội Việt Nam
TCCS - Các văn kiện Đại hội XI của Đảng đã đề ra nhiều chủ trương, quan điểm mới nhằm tiếp tục giải quyết tốt hơn mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong giai đoạn 2011 - 2020. Để cụ thể hóa những chủ trương, quan điểm này, cần có các cơ chế, giải pháp đồng bộ, thích hợp, như tái cấu trúc nền kinh tế, đối xử bình đẳng với các loại hình doanh nghiệp, thực hiện nhất quán nguyên tắc phân phối mới, hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội...

Tư duy lý luận và hành động thực tiễn đối với việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong giai đoạn 1986 - 2010
Hơn 25 năm qua, kể từ sau Đại hội VI của Đảng (năm 1986), tiến trình đổi mới toàn diện đất nước ngày càng đi vào chiều sâu. Trước những vấn đề mới nảy sinh từ cuộc sống, Đảng ta đã rất coi trọng phát triển tư duy lý luận trên cơ sở tổng kết thực tiễn trong nước, đồng thời mở rộng tầm nhìn ra bên ngoài, chú ý tham khảo kinh nghiệm của thế giới. Qua đó, các đại hội VII, VIII, IX, X của Đảng và nhiều hội nghị Trung ương thuộc các nhiệm kỳ đại hội ngày càng xác định rõ hơn mô hình kinh tế tổng quát, mục tiêu chung, cùng với hệ thống các chủ trương và quan điểm có ý nghĩa chỉ đạo việc giải quyết hàng loạt mối quan hệ cơ bản về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại…, bảo đảm cho sự thành công của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Riêng về mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa, xã hội, Đảng đã đề ra những chủ trương, quan điểm lớn có ý nghĩa chỉ đạo thực tiễn nổi bật sau:
- Kết hợp tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển. Đây là chủ trương và quan điểm có ý nghĩa bao trùm.
- Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xem văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.
- Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu; phát triển giáo dục và đào tạo là nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, tạo điều kiện để ai cũng được học hành.
- Khoa học và công nghệ cũng là quốc sách hàng đầu, là động lực đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, từng bước phát triển kinh tế tri thức.
- Tôn trọng lợi ích chính đáng của người lao động và các chủ thể thuộc mọi thành phần kinh tế; thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, đồng thời phân phối theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất, kinh doanh và thông qua phúc lợi xã hội.
- Giải quyết việc làm là yếu tố quyết định để phát huy nhân tố con người, ổn định và phát triển kinh tế, làm lành mạnh xã hội, đáp ứng nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bức xúc của nhân dân.
- Khuyến khích mọi người làm giàu hợp pháp đi đôi với tích cực xóa đói, giảm nghèo; có chính sách hướng dẫn, hỗ trợ người nghèo vươn lên và phấn đấu trở thành khá giả.
- Thực hiện đồng bộ chính sách bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân, phấn đấu giảm tỷ lệ mắc bệnh, nâng cao thể lực, tăng tuổi thọ và phát triển giống nòi. Thực hiện công bằng xã hội trong chăm sóc sức khỏe đối với các tầng lớp dân cư, có chính sách trợ cấp và bảo hiểm y tế cho người nghèo.
- Trong các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, con người được đặt vào vị trí trung tâm, tạo điều kiện cho mọi người đều có cơ hội phát triển và phát huy tốt năng lực của mình...
Thực hiện những chủ trương và quan điểm nói trên của Đảng, Quốc hội và Chính phủ đã thể chế hóa thành hệ thống chính sách, luật pháp, các chương trình, dự án, kế hoạch cụ thể để đưa vào cuộc sống và đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.
Về kinh tế: Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) đạt tốc độ tăng trưởng khá cao trong nhiều năm liền. GDP bình quân đầu người từ khoảng 200 USD năm 1990 tăng lên 1.168 USD năm 2010. Nước ta đã ra khỏi tình trạng kém phát triển.
Về văn hóa - xã hội: Các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thông tin - truyền thông… từng bước đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa ngày càng cao của nhân dân. Giải quyết việc làm, xóa đói, giảm nghèo, thực hiện chính sách an sinh xã hội đạt kết quả tích cực. Đổi mới giáo dục thu được một số kết quả bước đầu. Tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng lên. Hoạt động nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ dần được đẩy mạnh. Công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân có tiến bộ. Chỉ số phát triển con người (HDI) không ngừng gia tăng: từ 0,561 năm 1985 lần lượt tăng lên 0,647 năm 1995; 0,715 năm 2005; 0,725 năm 2007...
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, mà chủ yếu là nguyên nhân chủ quan, sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của nước ta vẫn tồn tại nhiều hạn chế và yếu kém.
Tăng trưởng kinh tế vẫn dựa nhiều vào các yếu tố phát triển theo chiều rộng, không kịp thời đổi mới nhận thức để sớm chuyển sang phát triển theo chiều sâu. Chất lượng tăng trưởng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế thấp.
Văn hóa phát triển chưa tương xứng với tăng trưởng kinh tế. Chất lượng giáo dục và đào tạo còn thấp, nguồn nhân lực được đào tạo ra chưa đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội. Khoa học và công nghệ chưa thật sự trở thành động lực thúc đẩy công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và nhất là tỷ lệ thiếu việc làm ở nông thôn còn cao. Xóa đói, giảm nghèo chưa bền vững, tình trạng tái nghèo còn nhiều. Khoảng cách chênh lệch giàu - nghèo giữa các tầng lớp dân cư, giữa thành thị và nông thôn, miền xuôi và miền núi có xu hướng ngày càng doãng ra.
Trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe nhân dân, mạng lưới y tế tuy được mở rộng nhưng phân bố chưa hợp lý, chưa thuận tiện cho người dân. Cơ chế, chính sách bảo hiểm y tế, thu viện phí và khám, chữa bệnh cho người nghèo, đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số còn không ít bất cập.
Bên cạnh đó, các tệ nạn xã hội còn diễn biến phức tạp.
Chủ trương, quan điểm mới về việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong giai đoạn 2011 - 2020
Trên cơ sở đánh giá một cách khách quan, toàn diện thực trạng, tình hình đã qua, các văn kiện Đại hội XI của Đảng đã chú trọng kế thừa, đồng thời bổ sung, phát triển nhiều chủ trương, quan điểm mới để tiếp tục thực hiện tốt hơn việc kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội trong giai đoạn 2011 - 2020.
Những chủ trương, quan điểm và chính sách mới chủ yếu đó là:
1 - Kết hợp chặt chẽ, hợp lý giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách; phát triển hài hòa đời sống vật chất và đời sống tinh thần, không ngừng nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội về ăn, ở, đi lại, học tập, nghỉ ngơi, chữa bệnh và nâng cao thể chất, gắn nghĩa vụ với quyền lợi, cống hiến với hưởng thụ, lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể và cộng đồng xã hội.
2 - Đẩy mạnh xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển kinh tế - xã hội.
3 - Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo nhu cầu phát triển của xã hội. Coi trọng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là đội ngũ lãnh đạo, quản lý giỏi; đội ngũ cán bộ khoa học, công nghệ, văn hóa đầu đàn; đội ngũ doanh nhân và lao động lành nghề. Tăng cường xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội và điều kiện cho mọi công dân được học tập suốt đời.
4 - Phát triển mạnh khoa học, công nghệ làm động lực đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế tri thức; góp phần tăng nhanh năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế, sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước; nâng cao tỷ lệ đóng góp của yếu tố năng suất tổng hợp vào quá trình tăng trưởng trong mô hình phát triển theo chiều sâu.
5 - Trên cơ sở đầu tư phát triển kinh tế, phải hết sức quan tâm tới yêu cầu chuyển dịch cơ cấu lao động xã hội, tạo điều kiện giải quyết ngày càng nhiều việc làm cho người lao động, đặc biệt là cho nông dân. Có chính sách tiền lương và chế độ đãi ngộ tạo động lực để phát triển; điều tiết hợp lý thu nhập trong xã hội. Khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa nghèo bền vững; giảm dần tình trạng chênh lệch giàu - nghèo giữa các vùng, miền, các tầng lớp dân cư. Hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội.
6 - Chú ý nhiều hơn công tác y tế dự phòng và chăm sóc sức khỏe nhân dân. Củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế từ cơ sở, huyện, tỉnh đến Trung ương. Tăng đầu tư nhà nước đồng thời với đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động y tế. Phát triển mạnh công nghiệp dược; quản lý chặt chẽ thị trường thuốc chữa bệnh. Bảo đảm cho người có bảo hiểm y tế được khám, chữa bệnh thuận lợi; mọi công dân khi có nhu cầu và khả năng đều được đáp ứng dịch vụ y tế chất lượng cao.
Kiến nghị một số cơ chế, giải pháp
Như trên đã trình bày, các văn kiện Đại hội XI của Đảng đã đề ra nhiều chủ trương, quan điểm mới để tiếp tục giải quyết tốt hơn mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong giai đoạn 2011 - 2020. Dưới đây xin nêu một số kiến nghị về cơ chế, giải pháp góp phần triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng xoay quanh mấy vấn đề chủ yếu sau:
Một là, quán triệt sâu sắc và thực hiện tốt hơn quan điểm kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển. Theo quan điểm đó, chúng ta không chờ kinh tế đạt đến trình độ phát triển cao mới phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, càng không hy sinh văn hóa, hy sinh tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần. Muốn vậy, mỗi chính sách phát triển kinh tế đều phải hướng tới phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; mỗi chính sách phát triển văn hóa, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội đều phải góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, dù trực tiếp hay gián tiếp, trước mắt hoặc lâu dài. Bất cứ một sự sai sót hay thiên lệch nào trong hoạch định và thực thi các chính sách có liên quan đều sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực đến mục tiêu này hay mục tiêu khác của kế hoạch phát triển kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, xã hội, thậm chí gây tác hại đến cả ba loại mục tiêu.
Hai là, đẩy mạnh quá trình tái cấu trúc nền kinh tế, thực hiện mô hình tăng trưởng mới chủ yếu dựa trên nguồn nhân lực chất lượng cao. Bước vào giai đoạn 2011 - 2020, không thể tiếp tục kéo dài mô hình tăng trưởng theo chiều rộng vốn được áp dụng suốt mấy thập niên qua. Vì đây là mô hình tăng trưởng sử dụng nhiều vốn, công nghệ lạc hậu, với đa số lao động tay nghề thấp, chủ yếu làm gia công, lắp ráp, khai thác và bán rẻ tài nguyên thô hoặc sơ chế. Hệ quả là chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế không cao, thu nhập của một bộ phận đáng kể người lao động thấp, đời sống của họ gặp nhiều khó khăn. Do đó, đã đến lúc cần có cơ chế, chính sách và lộ trình thích hợp để tái cấu trúc nền kinh tế, chuyển sang mô hình tăng trưởng theo chiều sâu, với đa số lao động có trình độ học vấn và kỹ năng nghề nghiệp cao, có khả năng đi vào lĩnh vực thiết kế, chế tạo thuộc các ngành công nghệ mũi nhọn, làm ra sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Nhờ vậy mà nền kinh tế nước nhà tăng trưởng nhanh hơn, với chất lượng cao hơn và người lao động cũng có thu nhập xứng đáng để cải thiện đời sống vật chất và văn hóa của chính mình. Về thực chất, đây là giải pháp đưa các nhân tố văn hóa, tinh thần, nhân văn cùng các tiêu chí tiến bộ và công bằng xã hội chuyển nhập vào bên trong mô hình tăng trưởng mới của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Ba là, tạo cơ hội cho các loại hình doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế được tiếp cận bình đẳng các yếu tố “đầu vào” của sản xuất, kinh doanh để cùng góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đồng thời thực hiện tốt hơn tiến bộ và công bằng xã hội. Đảng và Nhà nước ta luôn khẳng định: Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Tuy nhiên, thời gian qua, các doanh nghiệp nhà nước vẫn thường được ưu tiên trong tiếp cận đất đai, tín dụng và các yếu tố “đầu vào” khác của sản xuất, kinh doanh. Nhưng hiệu quả làm ăn của nhiều doanh nghiệp nhà nước không tương xứng với những ưu ái mà Nhà nước dành cho họ. Chẳng những thế, không ít doanh nghiệp nhà nước còn làm ăn thua lỗ kéo dài. Trong khi đó, các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư nhân - thành phần có tốc độ tăng trưởng cao nhất và tạo ra nhiều việc làm nhất - không phải bao giờ cũng được đối xử bình đẳng. Vì thế, sắp tới cần triệt để xóa bỏ cơ chế “xin - cho”, đặt tất cả các doanh nghiệp nhà nước vào môi trường cạnh tranh bình đẳng với các thành phần kinh tế khác trong cơ chế thị trường. Chỉ có như vậy mới kích thích các doanh nghiệp nhà nước vươn lên một cách lành mạnh, đồng thời sự phát triển của doanh nghiệp nhà nước mới không chèn lấn các nguồn lực để phát triển khu vực doanh nghiệp tư nhân - một động lực mạnh của tăng trưởng kinh tế gắn liền với mở rộng việc làm, yếu tố quan trọng của tiến bộ và công bằng xã hội.
Bốn là, đối với các kết quả “đầu ra” của quá trình sản xuất, kinh doanh, cần tiếp tục thực hiện nhất quán nguyên tắc phân phối chủ yếu theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, đồng thời phân phối theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào quá trình sản xuất, kinh doanh. Việc phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế được xem là chủ yếu vì chính lao động có năng suất, chất lượng và hiệu quả mới thực sự là nguồn gốc quan trọng nhất tạo ra mọi của cải cho xã hội. Nhưng trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường nhiều thành phần, ngoài phân phối theo kết quả lao động, việc phân phối theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất, kinh doanh cũng phải được coi là công bằng.
Năm là, trong việc đầu tư công cho phát triển đất nước, cần có quy hoạch và kế hoạch cụ thể để cân đối hợp lý mức đầu tư cho các vùng lãnh thổ khác nhau. Việc dành mức đầu tư cao hơn cho các vùng kinh tế động lực là rất cần thiết, nhằm tạo ra những “đầu tàu” tăng trưởng để kéo theo cả “đoàn tàu” kinh tế đi lên. Mặt khác, cần quan tâm đầu tư thỏa đáng cho các vùng khác, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhằm giảm dần khoảng cách về trình độ phát triển giữa các vùng, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, bảo đảm cho sự phát triển văn hóa - xã hội trên nguyên tắc tiến bộ và công bằng gắn liền với tăng trưởng kinh tế của tất cả các vùng, miền trong cả nước.
Sáu là, kết hợp hài hòa giữa việc phân phối lại thông qua điều tiết hợp lý thu nhập trong các tầng lớp dân cư với việc hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội. Theo chúng tôi, hệ thống đó bao gồm: chính sách ưu đãi xã hội nhằm bảo đảm mức sống ít nhất trên trung bình đối với người có công; chính sách bảo hiểm xã hội nhằm huy động sự tích góp một phần thu nhập của người lao động lúc bình thường để dành chi tiêu cho những lúc gặp khó khăn (thất nghiệp, bệnh tật, tuổi già…); chính sách trợ cấp xã hội nhằm trợ giúp những người yếu thế và dễ bị tổn thương, như người tàn tật, người già cô đơn, trẻ em mồ côi lang thang, cơ nhỡ…; chính sách cứu trợ xã hộichính sách tương trợ xã hội nhằm phát huy truyền thống tương thân tương ái, “lá lành đùm lá rách” trong cộng đồng để giúp nhau vượt qua khó khăn, xóa đói, giảm nghèo, cải thiện cuộc sống. nhằm cưu mang những người bị thiệt hại nặng do thiên tai, địch họa hoặc gặp rủi ro trong cuộc sống;
Việc thực hiện tốt hệ thống chính sách an sinh xã hội nhiều tầng nấc là thước đo quan trọng của một xã hội tiến bộ, công bằng, văn minh, đồng thời là nhân tố quan trọng khơi dậy tính tích cực, sự hăng hái của các tầng lớp nhân dân trong sản xuất, kinh doanh để thoát đói, vượt nghèo, vươn lên làm giàu cho bản thân và cho đất nước.





























NHÂN QUYỀN
Báo cáo viên: Trần Đình Huỳnh


Nhân quyền nói nôm na là quyền con người, là những quyền tự nhiên của con người (quyền Tạo hóa ban cho một cách bình đẳng đối với tất cả mọi sinh linh ra đời mang đẳng cấp Người - Con Người). Đó là quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Quyền ấy theo luật tự nhiên thì nó không thể bị tước bỏ bởi bất cứ ai, bởi bất cứ chính thể nào. Loài người đã từng được hưởng quyền bình đẳng ấy trong thời bình minh của xã hội do nó kiến tạo một cách sơ khai, thuần khiết, trong sáng, hoàn toàn không có sự tư túng, không có sự chiếm hữu của lòng tham ích kỷ. Thời kỳ ấy đã một đi không trở lại nhưng nó đã ghi dấu ấn vàng son về quyền con người mà Tạo hóa đã ban tặng, để từ khi bước vào xã hội có nhà nước cho tới nay, nhân loại đã từng tốn bao nhiêu giấy mực, tiền của và máu xương để tìm kiếm lại cái quyền thiêng liêng ấy. Chính luật tự nhiên đã bị mọi chính thể vi phạm bởi các luật thực định, luật thể hiện ý chí của giai cấp cầm quyền.
Hãy thử nói về quyền được sống
Đã được sinh ra mang danh hiệu Con Người thì ai chả muốn sống, ai chả muốn có nhu cầu về miếng ăn, thức uống, ai không muốn có quần áo để che thân khi trời nóng lạnh, ai không muốn có được một mái nhà để cư ngụ khi mưa nắng, ai không muốn được học hành…? Nhưng than ôi! Như dân tộc Việt Nam ta đã có lịch sử mấy ngàn năm dựng xây và bảo về sơn hà của mình, đã từng xây nền văn hiến từ lâu mà tại sao đã bao đời đại bộ phận nhân dân ta vẫn đói rách cơ cực? Cha ông ta đã từng vùng lên, vật vã, kiếm tìm nhưng tìm mãi mà vẫn chưa có đường ra. Nhà thơ lớn - tác giả của thi phẩm Điêu tàn viết trong thuở nô lệ dân ta mất nước - đến cách mạng mùa thu dựng nền dân chủ cộng hòa  mới ngộ ra vì sao “Cha ông ta từng đấm nát tay trước cánh cửa cuộc đời. Cửa vẫn đóng và đời im ỉm khóa” (Chế Lan Viên, “Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng”). Chính vì thế lòng mong muốn tột cùng của nhà văn hóa kiệt xuất Hồ Chí Minh rằng mọi người ai cũng có việc làm, ai cũng có cơm ăn, ai cũng có áo mặc, ai cũng được học hành, cho tới nay vẫn là mơ ước của hàng tỷ người trên trái đất.
Thiết nghĩ, các thế hệ người Việt Nam ta, bất cứ ai - trừ những người bị thiểu năng trí tuệ - đều không thể không thừa nhận đoạn nghị luận có giá trị như là một “Thiên cổ hùng văn” sau đây: "Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng,dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.
Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.
Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”. (Hồ Chí Minh, “Tuyên ngôn Độc lập”).
“Không có  gì quý hơn độc lập, tự do”. Đó là cốt lõi của nhân quyền. Chính vì thế mà nhân dân ta đã hy sinh biết bao tiền của, máu xương suốt trong 30 năm dài đấu tranh để giành và giữ vững chủ quyền quốc gia. Hơn bất cứ ai, những người cần lao - lao động trí óc và lao động chân tay Việt Nam hiểu rằng nếu nước độc lập mà dân không được hưởng tự do, hạnh phúc thì độc lập cũng chẳng có nghĩa gì.
Cố gắng vật vã, kiếm tìm, Đảng và Nhà nước Việt Nam nguyện làm công bộc của nhân dân, thành tâm mong muốn đất nước mau chóng thoát khỏi cảnh đói nghèo, lạc hậu. Có thành công, có thất bại, sai lầm. Nhưng cái đáng ghi nhận là những người cách mạng Việt Nam đã biết nhận ra những điều sai lầm, quyết tâm đổi mới, sửa chữa để tiến lên. Thái độ đúng đắn nhất là phải xây dựng cho được mối quan hệ giữa nhà nước với nhân dân theo chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Nhà nước phải làm đầy tớ thật trung thành cho nhân dân và nhân dân sử dụng nhà nước để làm việc cho mình, nếu nhà nước có sai lầm thì phải phê bình nhưng phê bình không có nghĩa là chửi bới.
Xây dựng nhà nước dân chủ và pháp quyền, nâng cao dân trí và nâng cao quan trí để ai ai cũng phải đặt mình dưới Hiến pháp và pháp luật; mọi công dân được bình đẳng trước pháp luật, được làm tất cả mọi việc mà pháp luật không cấm; còn nhà nước từ người đứng đầu cho đến nhân viên chính phủ, nhân viên hành chính xã, phường chỉ được làm những điều mà pháp luật cho phép. Đó là vấn đề cấp bách của vấn đề nhân quyền của nước ta hiện nay, cụ thể là nhiệm vụ cải cách tư pháp trọng tâm là sửa đổi Hiến pháp và cải cách hành chính - những công việc mà Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra và quyết tâm lãnh đạo thực hiện.
Còn vấn đề tự do?
Tự do, như mọi người đều biết, nó không phải là sự tưởng tượng đối với các qui luật tự nhiên mà là nhận thức được các quy luật đó và ở các khả năng - có được nhờ sự nhận thức này - buộc những qui luật đó tác động một cách hợp lý nhằm những mục đích nhất định. Luận điểm trên còn đúng trong đời sống xã hội lẫn ý chí, tư duy của con người. Như vậy, tự do của ý chí chẳng qua chỉ là các năng lực quyết định một cách hiểu biết. Do đó, sự phán đoán của một nguời về một vấn đề nhất định, càng tự do bao nhiêu thì nội dung của sự phán đoán sẽ được quyết định với một tính tất yếu càng lớn bấy nhiêu; còn sự không quả quyết, do không hiểu biết mà ra… chứng tỏ rằng nó không có tự do, nó bị chi phối bởi đối tượng mà lẽ ra nó phải chi phối. Vì vậy, tự do là sự chi phối được chính bản thân và tự nhiên bên ngoài, một sự chi phối dựa trên sự nhận thức được những tất yếu của tự nhiên; do đó nó tất yếu là một sản phẩm của lịch sử. Vì vậy, mỗi  bước tiến trên con đường văn minh lại là một bước tiến tới tự do.
Đảng Cộng sản Việt Nam nêu ra mục tiêu phấn đấu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” chính là khẳng định: xã hội chúng ta tiếp tục một bước phát triển mới, tiến tới tự do. Xã hội không phải là những cá nhân riêng lẻ, mà là tập hợp của cả cộng đồng trong mối quan hệ đan xen và tác động lẫn nhau giữa cá nhân - gia đình - dân tộc - Tổ quốc và Nhà nước. Song, xã hội vận động và phát triển bao giờ cũng do những cá nhân sống và hoạt động, theo đuổi những lợi ích khác nhau. Nhưng, chính những nhu cầu, lợi ích, mục đích, hoạt động ấy của con người lại bị ràng buộc trong mối quan hệ với những người khác, với xã hội. Do đó, nó luôn luôn bị chi phối bởi cái tất yếu trong mối quan hệ nhân quả. Giải quyết thoả đáng giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội là vấn đề cốt lõi của động lực phát triển xã hội. Lịch sử chế độ xã hội ở bất cứ quốc gia nào, vấn đề lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội cũng đều có xung đột ở những mức độ khác nhau. Giải quyết những xung đột ấy, điều chỉnh nó sao cho có sự hài hoà tương đối, “cùng chấp nhận được”, để không phá vỡ cấu trúc xã hội, để “quốc thái, dân an”, “dân giàu nước mạnh" là vấn đề thường nhật và không hề dễ dàng của một chế độ nhà nước cũng như của mỗi cá nhân.
Xã hội càng phát triển thì ý thức cá nhân về nhu cầu, lợi ích càng tăng, con người ngày càng đòi hỏi thoả mãn những nhu cầu ngày càng cao của mình. Nhưng xã hội phát triển bao giờ cũng thông qua hành động của các cá nhân. Và, như vậy động lực thúc đẩy con người trong hành động để thoả mãn nhu cầu, lợi ích (vật chất và tinh thần) của họ cũng chính là động lực thúc đẩy xã hội phát triển. Song cần lưu ý là: động lực thúc đẩy xã hội tuy là động lực của các cá nhân nhưng không phải là động lực của một số cá nhân riêng lẻ mà là động lực lay động, thôi thúc hàng triệu, hàng chục triệu con người, cả một cộng đồng quốc gia - dân tộc trong những thời điểm lịch sử nhất định.
Xã hội chính trị lành mạnh luôn luôn hướng dẫn, khích lệ, cổ vũ động lực đúng đắn của mỗi cá nhân, khi cá nhân hành động với động cơ phù hợp với lợi ích chung của cộng đồng thì khi ấy xung đột xã hội giảm thiểu, tạo ra sự hài hoà, đồng thuận cùng phát triển. Ngược lại, những cá nhân đi ngược dòng sự phát triển chung sẽ bắt buộc phải “dừng lại”, quay lại, xác định lại nhu cầu, lợi ích để hành động hợp với quy luật chung của sự tiến hoá, nếu không cá nhân đó sẽ bị đào thải, bị cầm tù trước cái tất yếu, tức là không có tự do. Nhận thức được mối quan hệ nhân quả này để hướng hành động của mỗi cá nhân, của xã hội sao cho phù hợp, đó chính là quá trình “xuất hiện một liên hợp, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”.
Trong giai đoạn hiện nay, ở nước ta, nền kinh tế thị trường đang phát huy tác dụng, lợi ích cá nhân được tôn trọng, pháp luật tạo cho mọi người đều có cơ hội làm giàu, mà dân giàu thì nước mạnh. Như vậy, lợi ích của mỗi người đang có cơ sở để thống nhất cao với lợi ích của xã hội. Chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước là sự bảo đảm về chính trị - pháp lý, để ai ai cũng được tự do làm giàu chính đáng. Bởi vì tự do, suy cho cùng, là ai muốn làm gì thì làm nhưng không được vi phạm tự do của người khác, của xã hội. Kỷ luật của Đảng (đối với đảng viên) và pháp luật của Nhà nước là tất yếu của sự phát triển của mỗi người phù hợp với từng bước tiến của cả xã hội. Chúng ta cần nhận thức rõ điều đó để hoàn toàn có tự do trong hành động. “Tự do là sự nhận thức được cái tất yếu”. Chỉ dẫn đó phải là kim chỉ nam cho động cơ và hành động của tất cả mọi người.















PHÁT TRIỂN VĂN HÓA THEO DI CHÚC CỦA CHỦ TỊCH
HỒ CHI MINH

Báo cáo viên: TS. Văn Thị Thanh Mai
 Ban Tuyên giáo Trung ương
Với bản Di chúc lịch sử, dẫu Người viết đó chỉ là “mấy lời... phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lê-nin và các vị cách mạng đàn anh khác, thì đồng bào cả nước, đồng chí trong Đảng và bầu bạn khắp nơi đều khỏi cảm thấy đột ngột...”, nhưng Người gửi gắm trong đó là tất thảy ham muốn và tâm nguyện trọn cuộc đời của Người.
Di chúc đã thể hiện tầm nhìn văn hoá rộng lớn và trí tuệ văn hoá sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh; dạt dào cảm xúc, chứa chan tình yêu và sự gắn bó sâu xa với con người, cuộc đời và thiên nhiên; là ánh sáng chỉ đường, là sức mạnh thôi thúc hành động, chẳng những đối với nhân dân ta mà còn đối với tất cả những ai đang đấu tranh cho tự do, độc lập, cho sự tiến bộ của loài người.
Văn hóa trong mối quan hệ với kinh tế, chính trị
Coi văn hóa là một mặt hợp thành toàn bộ đời sống xã hội, Hồ Chí Minh khẳng định văn hoá tồn tại và phát triển trong mối liên hệ biện chứng với các yếu tố kinh tế, chính trị và chịu sự quy định của kinh tế, chính trị. Người viết: “Muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải phát triển kinh tế và văn hoá. Vì sao không nói phát triển văn hoá và kinh tế? Tục ngữ ta có câu: Có thực mới vực được đạo; vì thế kinh tế phải đi trước”. Không chỉ thấy vai trò quyết định của kinh tế đối với văn hoá, Hồ Chí Minh còn thấy được vai trò to lớn của văn hoá đối với sự phát triển kinh tế, chính trị, xã hội: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá”. Chính vì vậy, Người chỉ rõ “văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”và đòi hỏi trong công cuộc kiến thiết nước nhà có bốn vấn đề cần phải chú ý, phải coi trọng ngang nhau: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, trong đó “văn hoá phải thiết thực phục vụ nhân dân, góp phần vào việc nâng cao đời sống vui tươi, lành mạnh của quần chúng. Vì vậy, nội dung văn hoá phải có ý nghĩa giáo dục... Văn hoá phải gắn liền với lao động, sản xuất”. 
Văn hoá còn là một mặt trận để đấu tranh chính trị, “không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị” và ngược lại kinh tế, chính trị cũng nằm “trong văn hóa”. Nhấn mạnh vai trò động lực của văn hóa, theo Hồ Chí Minh tiến lên chủ nghĩa xã hội nâng cao đời sống của nhân dân lao động cần phải có cả vật chất lẫn tinh thần, song không thể chỉ đặt trọng tâm vào kinh tế, mà phải chú trọng cả văn hóa, vì chủ thể của hoạt động kinh tế lại chính là con người và thước đo trình độ con người là văn hóa. Tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với phát triển văn hóa và giải quyết những vấn đề xã hội, cho nên nếu chỉ coi tăng trưởng kinh tế là mục tiêu duy nhất thì chẳng những môi trường văn hóa - xã hội bị hủy hoại mà mục tiêu kinh tế cũng không thể đạt được. 
Lời phát biểu của Hồ Chí Minh: “Văn hóa có liên lạc với chính trị rất mật thiết. Phải làm thế nào cho văn hóa vào sâu trong tâm lý quốc dân, nghĩa là văn hóa phải sửa đổi được tham nhũng, lười biếng, phù hoa, xa xỉ. Tâm lý của ta lại còn muốn lấy tự do, độc lập làm gốc. Đồng thời, văn hóa phải làm thế nào cho quốc dân có tinh thần vì nước quên mình, vì lợi ích chung mà quên lợi ích riêng. Với xã hội, văn hóa phải làm thế nào cho mỗi người dân Việt Nam từ già đến trẻ, cả đàn ông và đàn bà ai cũng hiểu cái nhiệm vụ của mình và biết hưởng cái hạnh phúc của mình nên được hưởng. Số phận ta ở trong tay ta” vừa thể hiện rõ quan điểm về chức năng của văn hóa, vừa đặt văn hóa vào định hướng phát triển của xã hội, coi văn hóa không chỉ gắn với phát triển, là đối tượng và mục tiêu của phát triển, mà còn gắn với hoạt động của mỗi con người. Theo Hồ Chí Minh, văn hóa có thể giúp mở rộng hiểu biết, nâng cao dân trí; giúp bồi dưỡng những tư tưởng đúng đắn và tình cảm cao đẹp của con người; bồi dưỡng những phẩm chất, phong cách và lối sống tốt đẹp, lành mạnh, giúp con người hướng đến chân, thiện, mỹ để hoàn thiện bản thân mình. Khi văn hóa có thể “vào sâu trong tâm lý quốc dân”, “sửa đổi được tham nhũng, lười biếng, phù hoa, xa xỉ”, thì sẽ giúp cho “ai cũng hiểu cái nhiệm vụ của mình và biết hưởng cái hạnh phúc của mình nên được hưởng”. Như vậy, không chỉ coi trọng vai trò quyết định của kinh tế, chính trị tới văn hoá, Hồ Chí Minh còn đồng thời chỉ rõ vai trò to lớn, sự tác động trở lại của văn hoá đối với kinh tế, chính trị và xã hội, bởi văn hóa là cơ sở, động lực tinh thần cho sự phát triển bền vững mọi mặt đời sống xã hội, cho sự tiến bộ của xã hội.
Với ý nghĩa đó, theo Hồ Chí Minh cuộc cách mạng mà nhân dân ta phải tiếp tục tiến hành khi cả nước thống nhất, non song liền một dải chính là đi lên chủ nghĩa xã hội, là phải “thay đổi triệt để những nếp sống, thói quen, ý nghĩ và thành kiến có gốc rễ sâu xa hàng ngàn năm… Chúng ta phải biến một nước dốt nát, cực khổ thành một nước văn hóa cao và đời sống tươi vui hạnh phúc” và Người đã nhấn mạnh: “Đảng phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân” trong bản Di chúc lịch sử.
Xây dựng văn hóa trong Đảng
Là người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, luôn đau đáu sự trăn trở làm sao phải xây dựng và củng cố Đảng thật trong sạch, vững mạnh, thật sự xứng đáng là người lãnh đạo, đày tớ trung thành của nhân dân, dễ hiểu tại sao trong bản Di chúc lịch sử “để đời”, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại “trước hết nói về Đảng” mà cụ thể là về văn hoá Đảng. Từ góc độ văn hóa, đoàn kết chính là giá trị, là sức mạnh và cũng là hạt nhân quan trọng của văn hóa Đảng: “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta”, “nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”. Đối với Hồ Chí Minh, văn hóa Đảng chính là trí tuệ, lương tâm và sự trong sạch của Đảng, để Đảng trở thành hình ảnh của phẩm giá, đạo đức con người Việt Nam. Trong xây dựng Đảng và xây dựng văn hóa Đảng, điều cốt yếu chính là chủ nghĩa nhân văn, ý chí phấn đấu cho sự giải phóng hoàn toàn và vì hạnh phúc con người của mỗi đảng viên. Vì vậy, văn hóa Đảng muốn có được, trước hết thể hiện ở mỗi đảng viên của Đảng. Trên tinh thần đó, để Đảng là đạo đức, là văn minh, trong Đảng không thể tồn tại một bộ phận đảng viên chạy theo lợi ích cá nhân, phá hoại sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, mà Đảng phải gồm những đảng viên luôn “xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”. Để làm được điều đó, “trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình” và mỗi cán bộ, đảng viên phải “thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư”. Đồng thời, Hồ Chí Minh nhấn mạnh “Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng” cho đoàn viên và thanh niên, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”. Cụm từ “đạo đức cách mạng” được sử dụng đến hai lần và cả hai lần đều được in nghiêng cho thấy sự quan tâm sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh tới vấn đề này. 
Coi văn hóa đạo đức là nội dung bên trong của lối sống, Hồ Chí Minh coi trọng việc giáo dục, tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng. Theo Người, một khi cán bộ, đảng viên thấm nhuần đạo đức cách mạng sẽ hướng lòng mình đến chí công vô tư, sẽ đoàn kết và “giữ gìn sự đoàn kết, nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, sức hấp dẫn của chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản trước hết là ở giá trị đạo đức của nó, ở phẩm chất đạo đức và nhân cách của những người cộng sản. Một nền văn hóa với những con người có đạo đức, nhân cách, có lối sống cao đẹp, luôn chú trọng, thường xuyên tự phê bình và phê bình trên cơ sở của tình đồng chí thương yêu lẫn nhau như Người căn dặn thì những cái xấu, cũ kỹ, hư hỏng dù phải đấu tranh lâu dài cũng nhất định sẽ bị quét sạch.
Quan tâm đến con người với ý nghĩa là chủ thể sáng tạo của mọi giá trị văn hoá, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành nhiều tâm huyết chăm lo phần “công việc đối với con người” và đây cũng là phần nội dung được viết dài nhất trong Di chúc. Trong bản thảo tháng 5-1968, Người vạch ra những dự kiến về những công việc tiến hành xây dựng đất nước sau chiến tranh, có tính đến từng đối tượng cụ thể: thương binh, gia đình liệt sĩ, bộ đội, thanh niên xung phong, phụ nữ, nông dân. Đối với các liệt sĩ, mỗi địa phương cần xây dựng vườn hoa và bia kỷ niệm để ghi nhận sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ, để đời đời giáo dục tinh thần yêu nước cho nhân dân ta. Đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình hay đối với cha mẹ, vợ, con của thương binh và liệt sĩ, Người căn dặn “phải tìm mọi cách làm cho họ có nơi ăn chốn ở yên ổn”, “phải giúp đỡ họ có công việc làm ăn thích hợp, quyết không để họ bị đói rét”. Đối với những chiến sĩ trẻ tuổi và thanh niên xung phong ưu tú thì cần cho đi học thêm các ngành, các nghề để đào tạo thành “đội quân chủ lực trong công cuộc xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở nước ta”. Đối với phụ nữ, “phải có kế hoạch thiết thực đề bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ” để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo... Đó là những lời giản dị, súc tích, thể hiện sự đồng cảm sâu sắc từng đối tượng và Người đã đánh giá đúng tinh thần, thái độ và sự đóng góp của họ trong cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc. 
Thấm nhuần đạo lý văn hoá truyền thống của dân tộc “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, đồng thời cũng nhằm để “khoan thư sức dân, làm kế sâu dễ bền gốc”, trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị miễn thuế nông nghiệp một năm cho đồng bào nông dân “để cho đồng bào hỷ hả, mát dạ, mát lòng, thêm niềm phấn khởi, đẩy mạnh sản xuất” sau nhiều năm liên tục ra sức góp của, góp người, vui lòng chịu đựng mọi khó khăn, gian khổ vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và thống nhất nước nhà. Ngay cả với những người được coi là nạn nhân của chế độ xã hội cũ, Hồ Chí Minh khoan dung, đầy nhân ái cũng căn dặn và mong muốn “Nhà nước phải dùng vừa giáo dục, vừa phải dùng pháp luật để cải tạo họ, giúp họ trở nên những người lao động lương thiện”. Quan điểm này mang đậm chủ nghĩa nhân văn, đức hiếu sinh, cốt cách dân tộc Việt của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời cũng chứng tỏ, sự nghiệp cách mạng mà chúng ta tiến hành mang đậm chiều sâu văn hóa, kết tinh những giá trị truyền thống của một nền văn hiến đã được bồi đắp qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, nhằm “chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi”. Đó là một cuộc cách mạng chính nghĩa và nhân văn, xuất phát từ lợi ích chính đáng của nhân dân, hợp với lòng dân, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại và thực sự là cuộc hành trình đi đến những giá trị văn hóa đích thực nhất.
Xây dựng văn hóa theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Bốn mươi lăm năm sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đi xa, đất nước, con người Việt Nam đã có nhiều thay đổi. Trong hành trình hướng đến tương lai, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên định thực hiện những căn dặn của Người trong bản Di chúc, có thể thấy Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân ta đấu tranh cách mạng, giành độc lập và thống nhất trọn vẹn cho đất nước; tạo dựng hình ảnh một nước Việt Nam vững vàng, ổn định về chính trị, vượt qua khủng hoảng kinh tế - xã hội, tiến hành công cuộc đổi mới thành công, đưa kinh tế phát triển, thực hiện an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo... nhằm cải thiện một bước đáng kể đời sống vật chất - vǎn hoá của nhân dân, có vị trí uy tín trên trường quốc tế ngày càng lớn, ngày càng đậm nét. Những kết quả quan trọng đó không chỉ có ý nghĩa to lớn đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, khẳng định trí tuệ và bản lĩnh của Đảng ta, mà còn khẳng định chúng ta đang đi theo đúng con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta và nhân dân ta đã lựa chọn, nó còn cho thấy giá trị văn hóa lớn lao của sự kiên định mục tiêu đi lên chủ nghĩa xã hội.
Đặc biệt, thực hiện những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh về văn hóa và Di chúc, nhất là sau 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, nhận thức về vai trò, vị trí văn hóa trong Đảng, trong xã hội đã được nâng lên; chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về văn hóa đã lan tỏa sâu rộng trong đời sống xã hội. Văn hóa được chú trọng và việc phát huy mọi nguồn lực để đầu tư cho văn hóa cũng đã cho thấy sự gắn kết giữa phát triển văn hóa với nhiệm vụ phát triển kinh tế và xây dựng Đảng. Vai trò của văn hóa ngày càng thể hiện rõ và có tác động lớn trong đời sống kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng, xây dựng con người Việt Nam mới xã hội chủ nghĩa.
Tuy nhiên, cũng sau 45 năm thực hiện Di chúc - Cương lĩnh xây dựng đất nước sau chiến tranh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bên cạnh những thành tựu đạt được là những khó khăn, thử thách không nhỏ: “Kinh tế phát triển chưa bền vững, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế thấp... Những hạn chế, yếu kém trong các lĩnh vực giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ, văn hoá, xã hội, bảo vệ môi trường chậm được khắc phục; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tội phạm, tệ nạn xã hội, suy thoái đạo đức, lối sống... chưa được ngăn chặn, đẩy lùi… Công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân chuyển biến chậm. Còn tiềm ẩn những yếu tố gây mất ổn định chính trị - xã hội”(10). Cùng với đó là sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên… đã và đang gây bức xúc trong xã hội, ảnh hưởng đến niềm tin của người dân đối với Đảng, Nhà nước, đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ. 
Trước thực trạng trên, thấm nhuần những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Di chúc, nhằm xây dựng và chỉnh đốn Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp phải “thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình… Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau” theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” gắn với đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo tinh thần Chỉ thị 03 của Bộ Chính trị. Thông qua đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, thiết thực đó, thông qua việc kịp thời biểu dương những tấm gương người tốt, việc tốt trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội để nhân rộng những điển hình tiên tiến, “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”… góp phần đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; xây dựng Ðảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh. Đồng thời, thực hiện Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”, cần quán triệt sâu sắc, coi văn hoá và con người là vấn đề trọng tâm, phản ánh chất lượng và mục đích cuối cùng của sự tăng trưởng kinh tế trong chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm cho sự phát triển bền vững của đất nước. Cùng với xây dựng con người, chú trọng giải quyết các mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hoá, xã hội; giữa lợi ích của cá nhân và lợi ích của cộng đồng; giữa lợi ích của con người và lợi ích của môi trường; giữa lợi ích của hiện tại và lợi ích của tương lai, nhằm “xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển”

















MỘT SỐ CƠ SỞ PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN HỒ CHÍ MINH
                                                          Báo cáo viên:LÊ HỮU ÁI
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng
Khi nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, với tư cách là một bộ môn – Hồ Chí Minh học, đòi hỏi phải tuân thủ một số nguyên tắc, phương pháp luận cơ bản. Trong giới hạn cho phép, bài viết đề cập tới ba cơ sở phương pháp luận nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh là phương pháp hệ thống, phương pháp liên ngành và phương pháp thực tiễn trong sự tương tác lẫn nhau.

1. Loài người tiến bộ và nhân dân ta không hề nghi ngờ một hệ tư tưởng Hồ Chí Minh, được hình thành trong các phong trào lớn của thế kỷ XX góp phần quyết định đưa dân tộc Việt Nam tới độc lập dân tộc, thống  nhất đất nước, thực hiện dân chủ, giữ gìn hòa bình ở khu vực và trên thế giới, tạo nên thời đại mang tên Người - thời đại Hồ Chí Minh. Tư tưởng Hồ Chí Minh là một quá trình, tư tưởng Hồ Chí Minh là một giá trị, diện mạo của nó vừa rõ nét, vừa tiềm ẩn. Do vậy, nhiều nhà nghiên cứu đề xuất nhiều quan điểm, cách thức và phương pháp khác nhau để tiếp cận khai thác các giá trị của nó; chẳng hạn đó là các phương pháp như phương pháp hệ thống, phương pháp liên ngành, phương pháp thực tiễn, phương pháp lôgic - lịch sử, phương pháp so sánh …đó là những cơ sở  phương pháp luận quan trọng  để nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh. Xét về mặt lý thuyết, nó giúp cho chúng ta xây dựng một bộ môn khoa học mới – Hồ Chí Minh học. Trong bộ môn mới này, tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh cũng có thể nói cụ thể hơn là tư tưởng Hồ Chí Minh về con người chiếm một vị trí nổi trội, tạo nên diện mạo hết sức độc đáo. Ở bài viết này tác giả chỉ muốn khảo sát một vài cơ sở phương pháp luận khi Hồ Chí Minh tiếp cận nghiên cứu về con người.
 2. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng nhân văn là nền tảng sâu xa nhất. Đó là chủ nghĩa nhân văn kết tinh từ ngàn đời trong quá trình sinh sống, giữ nước và dựng nước của cả một cộng đồng người gắn bó với nhau từ đời này sang đời khác, từ thế hệ nọ đến thế hệ kia cùng nhau giải quyết các nhiệm vụ lịch sử để tồn tại. Nó khác với các tư tưởng phân biệt giới tính, phân biệt thế hệ, phân biệt tầng lớp, phân biệt dân tộc của Nho giáo. Nó không phải là tư tưởng từ bi, ở ẩn, tu nhân, xuất thế chỉ nhận thức bản thân mình của Phật giáo. Nó cũng không phải là tư tưởng xa lánh cỏi đời, bất cần thế tục của Lão giáo hay quá ưu tiên các điều kiện sản xuất vật chất của các triết thuyết cùng thời.
Trong bài “Vĩ đại một con ngưòi”, Giáo sư Trần Văn Giàu khi viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cho rằng: cái đặc sắc làm nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh đó là sự quan tâm đến con người trong mọi hoạt động cụ thể của nhận thức và hành động của Hồ Chí Minh. Ông viết: “Tầm cỡ một triết nhân chưa chắc ở chỗ giải quyết mối tương quan giữa tồn tại và tư tưởng, ở chỗ thế giới ấy là thực hay ảo ảnh, là khả tri hay bất khả tri, ở chỗ lựa chọn giáo điều hay điều mới lạ, mà chung quy ở mức độ quan tâm đến con người đang sống trên trái đất này…. Nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh như mọi người đều biết đã đặt cược trên sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người. Từ “Bản án chế độ thực dân Pháp” đến “Tuyên ngôn độc lập” và từ “Tuyên ngôn đôc lập” tới “Di chúc”. Ở đâu Hồ Chí Minh cũng coi và khẳng định trước hết là vấn đề con người.
2.1. Phương pháp hệ thống hay quan điểm hệ thống có thể giúp ta dễ dàng phát hiện những tư tưởng quan trọng của Hồ Chí Minh “Vì sự nghiệp trăm năm phải trồng người” tức là các khía cạnh xã hội của con người, của sự quan tâm của cộng đồng đến cá nhân. Tiếp cận hệ thống có thể tái hiện lên một quá trình tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục con người, về các biện pháp giáo dục con người, các quy trình quản lý của xã hội đối với cá nhân. Song Hồ Chí Minh lại khẳng định thêm rằng “Mỗi người đều có cá tính riêng, sở trường riêng, đời sống riêng của bản thân và gia đình” . Rõ ràng, cho dù  là rất quan trọng, nhưng phương pháp hệ thống không phải là phương pháp duy nhất tạo nên lý luận toàn diện về Hồ Chí Minh học. Tiếp cận hệ thống có thể giúp ta nghiên cứu các tư tưởng Hồ Chí Minh về bản chất xã hội và bản chất tự nhiên của con người.
Việc tìm kiếm một hình thức tư duy lý luận có khả năng tạo ra một lý luận phát hiện đầy đủ hơn, phong phú hơn tư tưởng Hồ Chí Minh về con người sẽ góp thành một bộ phận hữu cơ trong lý luận toàn diện về Hồ Chí Minh học. Nó vừa là sự tiếp cận hệ thống của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, vừa là sự tiếp cận của nhiều phương pháp của các khoa học cụ thể khác. Con người, các tư tưởng từ nó, về nó, cho nó là một thiên hà của các vấn đề. Hồ Chí Minh đã đặt vấn đề giải phóng con người, giáo dục con người, phát huy toàn bộ các năng lực và thỏa mãn các nhu cầu chính đáng của con người. Xung quanh các tư tưởng về con người của Hồ Chí Minh nếu chỉ duy nhất hóa phương pháp hệ thống thì e rằng khó có thể tiếp cận đầy đủ và toàn diện các vấn đề mà Người đã đề cập .
2.2 Đương nhiên việc kết hợp giữa phương pháp hệ thống với liên ngành nhằm làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh phải gắn với các mối quan hệ cụ thể, xác định phù hợp với nhiệm cụ đặt ra mà tâm điểm là tạo ra một lý luận toàn vẹn về Hồ Chí Minh học. Mỗi bộ phận, mỗi mối quan hệ, mỗi mặt trong hệ lý luận về Hồ Chí Minh học là những “lát cắt” khác nhau và sự tái hiện lý luận về các mặt đó cũng như mối liên hệ nội tại trong hệ lý luận ấy là của khoa triết học – nhân bản và nhiều khoa học khác nhau.
Nói rằng cơ sở tư tưởng Hồ Chí Minh xuất phát từ con người, từ hạnh phúc của con người do vậy nó mang tính chất hệ tư tưởng khi xét nó là hệ thống lý luận, không có nghĩa là hệ lý luận chỉ tiếp cận khía cạnh xã  hội của con người, có lúc Hồ Chí Minh nói rằng: “Chủ nghĩa xã hội cộng với khoa học chắc chắn sẽ đưa loài người đến hạnh phúc vô tận” . Hoặc: “Nước độc lập mà dân không được hạnh phúc, tự do thì chẳng có nghĩa lý gì”  thì tư tưởng về xã hội, về cộng đồng, về thế giới, về nhà nước của con người là vấn đề hạnh phúc của con người (được hiểu một cách khá cụ thể và tường minh). Như vây, cần phải vạch ra được cơ sở lý luận về xã hội, về hình thức cộng đồng của con người. Phải sét ở bình diện đảm bảo hạnh phúc cho con người. Điều đó đảm bảo xác định mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng, giữa cá nhân và cộng đồng. Ở Hồ Chí Minh hai mặt đó vừa thống nhất vừa khác biệt.
2.3. Cùng với quan điểm hệ thống trong quá trình xây dựng hệ thống lý luận về Hồ Chí Minh học, nhiều người đã nhấn mạnh quan điểm phương pháp luận về thực tiễn trong nghiên cứu di sản tư tưởng Hồ Chí Minh. Phải nói rằng đây là một quan điểm đúng đắn bởi vì với Hồ Chí Minh lý luận phải đi đôi với thực tiễn, học phải gắn với hành và do vậy nhiều lần Hồ Chí Minh đã giải quyết những vấn đề lý luận rất phức tạp nhưng với tinh thần thực tiễn sáng tạo nó cho phát hiện chiều sâu, chiều rộng của tư tưỏng Hồ Chí Minh cũng như các giới hạn của tư tưởng ấy bằng thực tiễn hoạt động của dân tộc, của những nhóm xã hội và các nhóm xã hội ưu tiên. Thông qua việc kiểm chứng bằng thực tiễn có thể làm rõ hơn tính hiện thực, tính chân lý và sức mạnh của tư tưởng Hồ Chí Minh.
Hồ Chí Minh thường đề cao lao động xem nó là nguồn sống, nguồn hạnh phúc và là nghĩa vụ vinh quang, nhiều lần Hồ Chí Minh nói rằng: “Văn hóa phải gắn liền với lao động sản xuất. Văn hóa xa đời sống, xa lao động là văn hóa suông” . Như vậy, với Hồ Chí Minh điều kiện vật chất giữ một vai trò quan trọng và ưu thế trong việc phát triển xã hội phát triển nhân cách của con người là một tư tưởng nhất quán.
Lý luận về con người và lý luận về lao động của Hồ Chí Minh đã hợp thành nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh. Quan niệm của Người về tổ chức lao động, tổ chức xã hội cùng với lý luận về đạo đức, pháp luật, tôn giáo, văn học nghệ thuật tạo nên nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh. Quan điểm thực tiễn khi xem xét tư tưởng Hồ Chí Minh về các quan hệ xã hội, về hệ thống kỹ thuật, về tổ chức lao động, về bản thân con người, về quá trình lao động và trách nhiệm công dân, trách nhiệm đạo đức trong lao động. Điều đó cho phép khẳng định rằng tư tưởng Hồ Chí Minh coi lực lượng sản xuất xã hội, hình thức tổ chức xã hội và hạnh phúc của con người là có liên quan với nhau.
Quan điểm thực tiễn khi xác lập mối quan hệ không thể phá vỡ giữa lý luận và thực tiễn để xem xét, nghiên cứu bản chất tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời nó cũng nêu rõ tính đồng đại và lịch đại trong tư tưởng của Người. Nó vừa xác lập năng lượng, các vùng tiềm ẩn, diện mạo đích thực sức sống và các giới hạn của tư tưởng Hồ Chí Minh. Vì thế, nhiều nhà nghiên cứu đi đến thống nhất rằng; cái cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam
3. Bản chất tư tưỏng nhân văn của Hồ Chí Minh vì con người và giải phóng con người được xem như là linh hồn của tư tưởng Hồ Chí Minh, nó không chỉ tác động chi phối các quan hệ chính trị, kinh tế, xã hội mà điều quan trọng hơn, nó thấm vào mọi mặt của đời sống xã hội, vào các quan hệ đạo đức, vào lý tưởng thẩm mỹ, vào quan niệm hạnh phuc, niềm tin, hy vọng. Nhiều tư tưởng của Người đã tạo thành linh hồn sống của rất nhiều cảm xúc đạo đức, chính trị và nghệ thuật xác lập các yếu tố cơ bản của đời sống tinh thần xã hội Việt Nam. Do vậy, Đảng ta xác định Chủ nghĩa Mác – Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tinh thần của xã hội là một tất yếu lịch sử.















RÈN LUYỆN ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG THEO QUAN ĐIỂM CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
                                         Báo cáo viên: GS, TS. Mạch Quang Thắng
Bàn về cái gốc để phát triển, hay triết lý phát triển trong hành động của Hồ Chí Minh, có ba vấn đề đáng chú ý nhất trong việc rèn luyện đạo đức.
1. Quá trình rèn luyện đạo đức phải được diễn ra suốt cả cuộc đời con người
Đạo đức tốt của một con người không phải cứ tự nhiên mà có, nói như Hồ Chí Minh là nó không phải từ trên trời rơi xuống, mà do tu dưỡng bền bỉ hằng ngày để phát triển, củng cố, như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong. Ở trong tù, ngày rộng tháng dài, “một ngày tù bằng nghìn thu ở ngoài”, mất tự do, chịu nhiều khổ ải, Hồ Chí Minh làm thơ (Ngục trung nhật ký), trong đó có một bài vận vào cái chí khí của Người trong việc tự rèn luyện:
Văn trung mễ thanh
Mễ bị thung thi, hẩn thống khổ,
Chí thung khi hậu, bạch như miên;
Nhân sinh tại thế dã giá dạng,
Khốn nạn  thị nhĩ ngọc thành thiên.
Văn Ngọc – Văn Phụng dịch là:
Nghe tiếng giã gạo
Gạo đem vào giã bao đau đớn,
Gạo giã xong rồi trắng tựa bông;
Sống ở trên đời người cũng vậy,
Gian nan rèn luyện mới thành công.
Cuộc sống của con người không phải lúc nào cũng suôn sẻ. Cả một cuộc đời lãnh tụ như Hồ Chí Minh trước làm sao sau y như vậy. Trong những sự biến chính trị ở Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu những năm 80 và 90 của thế kỷ trước, thì ra, có nhiều điều buộc chúng ta phải nghĩ suy về đạo đức của con người khi người ta ở vào vị trí quyền lực cao chót vót. Khi đã có chức, có quyền mà ở vị trí thật cao, thật trọng, lại được một “cơ chế” bao che, nâng đỡ, thì nếu không “giữ mình” thì sẽ hư hỏng lúc nào không biết. Bảo rằng, luật pháp chưa đầy đủ, không đúng. Bảo rằng, những quy định về kỷ luật chưa nghiêm, chưa chặt chẽ, không đúng. Nhưng, những cái đó là cần mà chưa đủ. Cái thêm vào tổ hợp đó và là quan trọng không kém, và mới đủ, là tự giác, tự rèn luyện. Người đứng vị trí cao của quyền lực, nếu không như vậy, sẽ có lúc tự mình đứng trên luật pháp, tự mình tách khỏi cộng đồng, không trở thành đày tớ thật trung thành của nhân dân.
Hành động của không ít người hư hỏng về mặt đạo đức không những có hại cho địa bàn nơi họ sống, không những làm hỏng tập thể nơi họ công tác mà còn, và quan trọng hơn cả, là nó làm thui chột và đổ vỡ cả chế độ chính trị.
Hồ Chí Minh là một người trọn đời vì nước, vì dân, trọn đời có đạo đức trong sáng. Người ta hay hư hỏng ở cái đoạn cuối đời. Còn đối với Hồ Chí Minh? Cuộc đời của Người là trọn vẹn của cái chân, cái thiện, cái mỹ, không bị tha hoá, từ buổi thiếu niên cho đến phút cuối cùng, từ lúc hàn vi với thân phận của một người dân nô lệ, luôn luôn bị mật thám đế quốc theo dõi, bị tù, bị xử án tử hình vắng mặt đến lúc đứng ở đỉnh tháp của quyền lực mà không bị quyền lực làm cho mờ mắt. Mọi sự cám dỗ thường thấy của một con người đều tác động đến bản thân Hồ Chí Minh như quyền lực, của cải…nhưng Hồ Chí Minh không hề bị suy xuyển.
Tỉnh dậy giữa hai cơn đau tim trên giường bệnh những ngày cuối tháng 8 năm 1969, Hồ Chí Minh hỏi về mực nước sông Hồng đến đâu rồi? Chả là cuối tháng 8 năm 1969, mực nước sông Hồng lên cao, đã có kế hoạch chuyển Hồ Chí Minh đến  huyện Ba Vì của tỉnh Sơn Tây (nay thuộc tỉnh Hà Tây), nơi có địa hình cao hơn để đề phòng lúc Hà Nội có thể lâm vào cảnh vỡ đê, lụt lội. Hồ Chí Minh kiên quyết không chịu dời đi nơi khác mà vẫn ở Nhà 67. Hồ Chí Minh nói với những người xung quanh rằng, mình ở lại với nhân dân thủ đô Hà Nội, không đi đâu cả, không thể bỏ nhân dân lúc có nguy cơ bị cảnh vỡ đê, chịu lụt. Những ngày cuối đời của năm 1969 mưa ngập đất đầy tiếng kêu của ễnh ương mùa lụt của đất trời Hà Nội và đồng bằng Bắc Bộ, Hồ Chí Minh đã nói như thế, hành động như thế là do Người thực hành cái đạo gắn bó tính mệnh của mình với tính mệnh của nhân dân. Người đã từng nói: “tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc như lạc”; hoặc “tiên thiên hạ ưu, hậu thiên hạ lạc” (nghĩa là khổ trước thiên hạ và sướng sau thiên hạ). Và, đã nói như thế thì Người thực hành đúng như thế.
Tỉnh dậy giữa hai cơn đau tim khác, có lúc Hồ Chí Minh muốn nghe một làn điệu dân ca xứ Nghệ quê nhà, muốn nghe một khúc dân ca xứ Huế, nơi Người từng gắn bó tuổi học trò xuống đường đi tranh đấu cùng bà con chống thuế, nơi kinh đô thơ mộng ấy Người có kỷ niệm buồn, một cú sốc lớn khi mẹ qua đời lúc mình mới lên 10 tuổi. Có lúc Hồ Chí Minh hỏi những người có mặt bên giường bệnh về việc chuẩn bị khai giảng năm học mới cho các cháu học sinh đến đâu rồi? Cũng như thế, ngày 30-8-1969, có lần tỉnh lại, Hồ Chí Minh hỏi các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước có mặt trong phòng về việc chuẩn bị kỷ niệm Ngày lễ Quốc khánh 2-9. Người đề đạt nguyện vọng bắn pháo hoa “cho nhân dân vui, để động viên tinh thần nhân dân” trong ngày lễ Quốc khánh 2-9-1969, và nếu được thì bố trí cho Người ra với đồng bào dăm mươi phút. Ngày đó, ngày 2-9-1969, lúc 9 giờ 47 phút, trái tim Hồ Chí Minh ngừng đập và Người thanh thản đi vào cõi vĩnh hằng. Hà Nội không thể nào bắn pháo hoa “cho dân vui” được theo như mong muốn của Hồ Chí Minh bởi đó chính là ngày tang.
Hồ Chí Minh hành đạo, cái đạo “làm người” cho đến trọn vẹn cuộc đời. Mà không chỉ thế, trong Tài liệu tuyệt đối bí mật (Di chúc), Người còn cố “can thiệp” để cho hậu thế xử lý những điều, những việc thuộc về “việc riêng” của mình. Hồ Chí Minh nói: “Tôi hiến cả đời tôi cho dân tộc tôi” khi trả lời nữ phóng viên báo Granma (Cuba) Mácta Rôhát ngày 14-7-1969. Hồ Chí Minh  nói: “Những lúc tôi phải ẩn nấp nơi núi non, ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo là vì độc lập cho Tổ quốc, tự do cho đồng bào”. Hồ Chí Minh nói: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những gì tôi muốn, đấy là tất cả những gì tôi cần”. Hồ Chí Minh nói: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Hồ Chí Minh viết: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết, phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”. Còn nhiều, còn nhiều lời nói, câu viết của Hồ Chí Minh về vấn đề đó. Hồ Chí Minh đã nói, đã viết, và tự bản thân mình “xắn tay áo” lên thực hành, kêu gọi, tổ chức những người xung quanh thực hành.
Sự rèn luyện đạo đức là tùy thuộc vào cái tâm, vào tinh thần tự giác của con người. Mà tinh thần tự giác đó đòi hỏi phải được thực hành liên tục. Nó là năng lượng của cuộc sống, thậm chí năng lượng đó có thể chuyển hoá sang người khác để bảo tồn và phát huy.
2. Nói đi đôi với làm, nêu gương đạo đức
Đã có người cho rằng, học tập đạo đức Hồ Chí Minh khó quá. Học không phải là bắt chước. Tư tưởng Hồ Chí Minh không những là nền tảng tư tưởng mà còn là kim chỉ nam cho hành động nữa. Học đạo đức Hồ Chí Minh là tìm hiểu bản chất của vấn đề để vận dụng phù hợp với hoàn cảnh cuộc sống. Chẳng hạn: học Hồ Chí Minh không có nghĩa là tất cả mọi người phải đi dép lốp mà học đức tính giản dị của Người.
Người dân có cảm tình với Đảng, với chế độ XHCN trước hết là qua gương sáng của cán bộ, đảng viên, những gương đó có sức mạnh cảm hoá, đưa đến cho người ta niềm tin. Trong lúc kêu gọi những người có ăn cứ 10 ngày nhịn một bữa, mỗi bữa một bơ để cứu giúp những người đang bị đói ngay sau Cách mạng Tháng Tám, thì Hồ Chí Minh đã làm gương. Kêu gọi mọi người ra sức chống hạn để cứu lúa, kể cả huy động mọi người ở nông thôn bất kể ngày đêm tát nước, thì Hồ Chí Minh đi tát nước, đi cấy lúa với máy cấy thí nghiệm, v.v. Hồ Chí Minh cho rằng, mỗi một người dân khoẻ mạnh thì cả dân tộc khoẻ mạnh và một trong những biện pháp để đạt được yêu cầu đó là mọi ng¬ười phải thường xuyên tập thể dục, do đó Người kêu gọi mọi người hằng ngày hăng hái tập thể dục. Người nói: “Tự tôi ngày nào cũng tập”. Nói chuyện với cán bộ ở một trường huấn luyện (11-1945), Hồ Chí Minh nói: “Phải làm gương cho đồng bào, phải siêng năng, hăng hái. Tôi lấy thí dụ như trong việc cứu nạn đói, mình bảo người ta 10 ngày nhịn ăn một bữa mà chính đến ngày nhịn, mình lại cứ chén tỳ tỳ thì nghe sao được. Đáng lý dân nhịn một bữa mình nhịn hai bữa mới phải. Về việc khuyến nông cũng vậy, bảo người ta đào đất trồng ngô, trồng khoai mà lúc người ta làm mình lại ngủ thì sao được?…Miệng nói tay phải làm mới được”.
Trông vào việc làm của Hồ Chí Minh, chúng ta thấy phản chiếu lai láng như hồn anh minh của một số vị vua sáng láng triều Lý thế kỷ XI, XII như vua Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông…năm nào cũng vậy, cứ đầu mùa thì đi cày ruộng tịch điền, khi đến vụ thu hoạch thì đi thăm người dân gặt lúa để khuyến nông. Hồ Chí Minh có lẽ cũng tựa như vua Trần Nhân Tông thời nhà Trần, năm 1313, khi nước sông Cái (sông Hồng) lên to có nguy cơ vỡ đê, lụt lội, thì đã thân hành đi hộ đê, ông gạt bỏ lời can của một quan ngự sử “Bệ hạ nên chăm lo sửa sang đức chính, đắp đê là việc nhỏ, đi xem làm gì”, mà cho rằng bản thân mình làm vua mà thân chinh đi hộ đê lúc dân gặp nạn lụt lội cũng là lo việc sửa sang đức chính vậy.
Hồ Chí Minh là người kỵ giáo điều, là một con người luôn luôn canh tân. Đã có nhiều lần Người đề cập vấn đề giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin. Nói chuyện với cán bộ của Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng năm 1968, Người nói: “Các chú dạy cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về chủ nghĩa Mác – Lênin, chắc có nhiều người thuộc, nhưng các chú có làm cho mọi người hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin là thế nào không? Theo Bác, hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin tức là cách mạng phân công cho việc gì, làm Chủ tịch nước hay nấu ăn, đều phải làm tròn nhiệm vụ. Không nên đào tạo ra những con người thuộc sách làu làu, cụ Mác nói thế này, cụ Lênin nói thế kia, nhưng nhiệm vụ của mình được giao quét nhà lại để cho nhà đầy rác”. Hồ Chí Minh cho rằng: “Lấy gương người tốt, việc tốt có thật trong nhân dân và cán bộ, đảng viên ta mà giáo dục lẫn nhau, đó chính là một cách tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin thiết thực nhất”. Cũng như vậy, Người nói: “Lấy gương người tốt, việc tốt để hằng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới”.
Làm gương sáng cho người khác soi, đó là một phương cách xử thế ở đời của Hồ Chí Minh. Nhiều cái phản văn hoá hay là đạo đức giả thường là có “4 N”: a) Nói thì nhiều nhưng làm thì ít; b) Nói thì hay nhưng làm thì dở; c) Nói để đấy rồi không làm gì cả; d) Nói một đằng làm một nẻo.
Hồ Chí Minh cho rằng: ở phương Đông và ở Việt Nam, một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền. Cán bộ, đảng viên, những người có chức có quyền, nhất là những cán bộ chủ chốt, nếu nêu một tấm gương sáng thì sẽ tạo ra một đời sống văn hoá lành mạnh cho xã hội, còn ngược lại thì hậu quả sẽ khôn lường.
Hồ Chí Minh không dùng lối “thị phạm”, tức là làm mẫu để dạy người khác. Hồ Chí Minh không “lên lớp”, không “dạy” ai cả, mặc dù những câu, những bài Người viết, những lời Người nói, những việc Người làm đều toát lên toàn bộ tính sư phạm của Người. Tự lời ăn, tiếng nói, tự cái hành xử hằng ngày của Người chính là thân giáo, là có ngôn, mà những ai có lòng cầu thị có thể soi vào đấy. Hồ Chí Minh soạn bài giảng cho các lớp huấn luyện những người yêu nước Việt Nam những năm 1925-1927 ở Quảng Châu (Trung Quốc), sau này tập hợp in thành sách Đường cách mệnh, đầu tiên Người quan tâm là giáo dục cho học viên về Tư cách của một người cách mệnh gồm có 23 điều. Và, điều 10 trong 23 điều tư cách đó được ghi trong cuốn Đường cách mệnh là: “Nói thì phải làm”.
Hồ Chí Minh cũng như bao con người khác, nghĩa là cũng có những sở thích riêng. Xã hội có bao nhiêu con người thì có bấy nhiêu sở thích. Mỗi người đều có những sở thích riêng hợp lại, thống nhất lại trong một xã hội. Đó là sự thống nhất của cái đa dạng. Mà như thế mới có một xã hội năng động và phát triển. Không biết từ bao giờ, Hồ Chí Minh nghiện thuốc lá. Đến năm 1965, Hồ Chí Minh chấp hành quyết định của bác sĩ là bỏ thuốc lá. Đến tháng 3 năm 1968, Hồ Chí Minh viết một bài thơ bằng chữ Hán:
Vô đề
Tam niên bất ngật tửu xuy yên
Nhân sinh vô bệnh thị chân tiên
Hỷ kiến nam phương liên đại thắng
Nhất niên tứ quý đổ xuân thiên
Nhà thơ Khương Hữu Dụng dịch:
Không đề
Thuốc kiêng rượu cữ đã ba năm
Không bệnh là tiên sướng tuyệt trần
Mừng thấy miền Nam luôn thắng lớn
Một năm là cả bốn mùa xuân.
3. Xây dựng môi trường văn hoá đạo đức trong sạch
Môi trường đạo đức hiện đang bị ô nhiễm ở lĩnh vực này, lĩnh vực nọ. Ô nhiễm đến mức độ nào? Môi trường tự nhiên bị ô nhiễm, người ta có thể dùng máy để đo, cũng có thể cơ thể con người chúng ta cảm nhận được. Nhưng, môi trường đạo đức nếu bị ô nhiễm thì đo thế nào? Có thể thấy:
Một, “tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong một bộ phận cán bộ, công chức diễn ra nghiêm trọng…”. Đây chính là nhận định của Đại hội X (4-2006) của Đảng. Cơ chế mới đã khơi dậy sự năng động của xã hội trong các lĩnh vực nhưng cũng phần nào chưa kiểm soát được một cách chắc chắn những cái ác, cái xấu. Những tệ nạn xã hội vẫn đang phát triển. Đồng tiền có sức mạnh ma quái đang làm hỏng nhiều cán bộ, đảng viên và làm hỏng các chuẩn mực quan hệ ứng xử của con người.
Cũng tại Đại hội X, phần Báo cáo về công tác xây dựng Đảng, còn viết: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán bộ chủ chốt các cấp, yếu kém cả về phẩm chất và năng lực; thiếu tính chiến đấu và tinh thần bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, giảm sút lòng tin, phai nhạt lý tưởng; một số ít có biểu hiện bất mãn, mất lòng tin, nói và làm trái với quan điểm, đường lối của Đảng, vi phạm nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, vi phạm pháp luật của Nhà nước. Bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân trong một bộ phận cán bộ, đảng viên có chiều hướng gia tăng”. Đáng chú ý là lần đầu tiên trong một văn kiện của Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, có ghi: “Vẫn còn tình trạng “chạy chức”, “chạy quyền”, “chạy tội”, “chạy bằng cấp”. Thoái hoá về chính trị, tư tưởng, về đạo đức, lối sống, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sách nhiễu dân trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên diễn ra nghiêm trọng, kéo dài chưa được ngăn chặn, đẩy lùi, nhất là trong các cơ quan công quyền, các lĩnh vực xây dựng cơ bản, quản lý đất đai, quản lý doanh nghiệp nhà nước và quản lý tài chính, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng”[5]. Quá trình này chưa khắc phục được nhiều, nhất là các kiểu “chạy”, nhưng khắc phục ra sao thì vẫn đang ở phía trước. Đó là sự nhức nhối về môi trường đạo đức “có vấn đề”.
Hai, tệ nghiện hút ma tuý diễn ra nghiêm trọng và có chiều hướng phát triển mạnh trong xã hội Việt Nam. Nghiện hút ma túy đi liền và tạo ra hệ lụy với bao tệ nạn khác. Xã hội sẽ bị băng hoại về tất cả các lĩnh vực của đời sống tinh thần, nhất là đạo đức, lối sống, trong số đó đáng lo ngại là tầng lớp thanh niên, lực lượng chủ công xây dựng một đất nước phát triển. Đây là một chỉ số đo mà đáng báo động về môi trường đạo đức của xã hội Việt Nam hiện đại.
Ba, vấn đề trật tự, an toàn xã hội cũng ở vào tình trạng “có vấn đề”. Làm sao thật yên tâm khi đi ra đường, nhất là chỗ vắng. Và, đặc biệt là tai nạn giao thông. Nhìn ở góc độ văn hoá đạo đức, thì vấn nạn giao thông là một biểu hiện rõ nét của sự suy thoái đạo đức.
Đó là ba điều “thấy” của chúng ta khi đề cập vấn đề này. Có thể còn nhiều biểu hiện khác nữa. Chúng ta không nhìn môi trường đạo đức ở Việt Nam qua lăng kính màu đen. Đương nhiên, những mảng sáng vẫn có nhiều. Nhưng, thực sự chưa yên tâm.
Xây dựng đạo đức trong môi trường như  thế khó khăn hơn rất nhiều. Trách nhiệm làm cho môi trường đạo đức trong sạch không phải của riêng ai mà là của tất cả mọi người, của cả hệ thống chính trị, nhưng trước hết và cơ bản nhất là của từng gia đình. Trong xây dựng môi trường đạo đức, theo Hồ Chí Minh, rõ nhất là chú trọng những vấn đề sau đây:
- Sống, làm việc theo Hiến pháp và pháp luật.
- Tôn trọng và phát huy những truyền thống tốt đẹp, những thuần phong mỹ tục.
- Tạo ra một cách thường xuyên tinh thần đề cao cái đẹp, cái tốt; lên án cái xấu, cái ác và khuyến khích mọi người làm việc thiện, nhà nhà làm việc thiện.
- Kết hợp chặt chẽ hơn nữa giữa gia đình, nhà trường, xã hội trong việc xây dựng môi trường đạo đức mới.
- Giải quyết đồng bộ tất cả các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, làm cho đất nước Việt Nam phát triển nhanh và bền vững.
Hồ Chí Minh thường chú ý đến việc khơi dậy cái thánh thiện của con người. Hồ Chí Minh hoá giải để chuyển hoá từ cái xấu thành cái tốt của người khác một cách có hiệu quả. Hồ Chí Minh luôn luôn tìm chữ “đồng” trong sự khác biệt (Sự khác biệt thì ai, cộng đồng nào và lúc nào chả có). Người rất chú ý nhân lên cái tốt, cái đẹp mà những cái tốt, cái đẹp đó ở ngay trong mỗi người, trong mỗi cộng đồng dân cư, ở ngay bên cạnh, ở chung quanh chúng ta trong cuộc sống hằng ngày. Cho nên, Người đã có ý kiến biên soạn và xuất bản sách “Người tốt việc tốt”. Người còn có ý kiến đối với loại sách này giá bán rẻ thôi để nhiều người mua, khổ sách vừa thôi để người ta dễ bỏ túi. Đầu tháng 6 năm 1968, trước khi qua đời hơn 1 năm, Hồ Chí Minh làm việc với một số cán bộ của Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng về việc biên soạn và xuất bản loại sách này. Người quan niệm: từng giọt nước nhỏ thấm vào lòng đất, chảy về một hướng mới thành suối, thành sông. Biết bao nhiêu giọt nước nhỏ hợp lại mới thành biển cả. Một pho tượng hay một lâu đài cũng phải có cái nền rất vững chắc mới đứng vững được. Nhưng người ta dễ nhìn thấy pho tượng và lâu đài mà không chú ý đến cái nền. Như thế là chỉ thấy cái ngọn mà quên mất cái gốc. Người tốt việc tốt nhiều lắm, ở đâu cũng có. Lấy gương tốt trong quần chúng nhân dân và cán bộ, đảng viên để giáo dục lẫn nhau còn là một phương pháp lấy quần chúng giáo dục quần chúng rất sinh động và có sức thuyết phục rất lớn.
Không hiểu sao bây giờ chúng ta chưa chú ý tiếp tục biên soạn và xuất bản loại sách này. Thấy trong các báo viết về vụ án nhiều quá. Thấy sách in lậu, xuất bản lậu về mê tín dị đoan nhiều quá.
Cuộc sống của mỗi người chính là một yếu tố cấu tạo nên cuộc sống của xã hội. Mà đứng về khía cạnh văn hoá mà nói thì mỗi cá nhân lại là kết quả của một quá trình giáo dục hàng ngày của tất cả các tổ chức trong xã hội. Chúng ta không chờ có một môi trờng tốt rồi mới xây dựng đạo đức mà đó là cả một quá trình vừa xây, vừa chống, không thụ động. Và chỉ số phát triển của mỗi một dân tộc, phải chăng cần nhìn vào môi trường đạo đức nữa, nơi mà ở đó mỗi một con người, mỗi một cộng đồng, mỗi một dân tộc đều có cơ hội, điều kiện để tự do phát triển vươn tới cái chân, cái thiện, cái mỹ chứ không chỉ là nhìn vào chỉ số tăng trưởng kinh tế. . Đó là tất yếu của cuộc sống. Nhưng, có những giá trị bền lâu, chúng như những viên ngọc mà chúng ta phải giữ gìn, luôn mài sáng nó lên. Hồ Chí Minh chính là người đưa ra thông điệp đó, thông điệp khuyến khích mọi người vươn tới những điều thiện, mỹ.














TÍCH HỢP VĂN HÓA CHÍNH TRỊ, NÉT ĐẶC SẮC TRONG QUÁ TRÌNH TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC CỦA HCM
Báo cáo viên: Đại tá, PGS, TS Văn Đức Thanh
Kể từ khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam năm 1858, phong trào Cần vương và các cuộc khởi nghĩa kháng Pháp của nhân dân ta diễn ra ác liệt nhưng đều dẫn đến thất bại. Nước ta rơi vào ách đô hộ kéo dài hơn tám mươi năm của chủ nghĩa thực dân Pháp. Một chế độ xã hội đặc biệt được thiết lập - xã hội thuộc địa nửa phong kiến; trong đó, sự suy tàn của chế độ phong kiến và sự xâm thực của chủ nghĩa thực dân diễn ra đồng thời. Thái độ của các tầng lớp nhân dân trong xã hội không phải hoàn toàn cam chịu, song những đề xuất của các nhà yêu nước đương thời đều rơi vào tình trạng bế tắc
Đối với các nhà yêu nước theo lập trường phong kiến, do thái độ chính trị xã hội của giai cấp phong kiến Việt Nam là bạc nhược, cùng với quá trình phân hoá ngay trong giai cấp phong kiến tất yếu diễn ra, nên cách thức tìm đường cứu nước không tránh khỏi lập trường hèn yếu về chính trị. Những sĩ phu yêu nước nổi tiếng như: Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh… tuy mang nặng trách nhiệm trước dân tộc, song giải pháp cơ bản của các vị vẫn là cải lương. Rõ ràng là, dựa trên nền tảng hệ tư tưởng của giai cấp phong kiến lỗi thời thì chắc chắn không thể đối phó thắng lợi với sức mạnh của thực dân Pháp dựa trên nền tảng một hình thái kinh tế - xã hội đã vượt xa. Những lãnh tụ của phong trào nông dân tuy có nhiệt tình hăng hái nhưng không có hệ tư tưởng độc lập. Người nông dân có nguyện vọng và sẵn sàng hy sinh để đấu tranh giải phóng dân tộc, song họ chỉ trở nên có quyết tâm cao và có sức mạnh to lớn khi được lãnh đạo bởi đường lối cách mạng đúng đắn, khoa học.
Giai cấp tư sản dân tộc là con đẻ của chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, phát triển què quặt, mất cân đối, còn bị tư sản Pháp và tư sản mại bản chèn ép, hầu như không có quyền lực chính trị. Trong bối cảnh ấy, giai cấp tư sản Việt Nam không thể định ra đường lối chính trị đúng đắn. Điển hình là tổ chức chống Pháp của Nguyễn Thái Học với khởi nghĩa Thái Nguyên, dù gây tiếng vang lớn, nhưng chỉ thành nhân chứ không thể thành công.
Đỉnh điểm của sự phân hoá xã hội - giai cấp nước ta trong điều kiện xâm thực của chủ nghĩa thực dân là sự ra đời của giai cấp công nhân. Sự ra đời và lớn mạnh của giai cấp công nhân dứt khoát dẫn đến những điều kiện và tạo ra nhân tố cơ bản để chặn đứng sự xâm thực của chủ nghĩa thực dân. Hơn thế, đây còn là nhân tố quyết định sự cáo chung của cả chế độ thuộc địa nửa phong kiến đã tồn tại ở Việt Nam gần một thế kỷ.
Với hoàn cảnh lịch sử đặc biệt trên, thì con đường cứu nước của dân tộc Việt Nam, xét theo lôgich của nó, chắc chắn phải là cuộc cách mạng có thể kết hợp được giữa nhiệm vụ giải phóng nhân dân lao động khỏi ách áp bức bất công với nhiệm vụ giành độc lập tự chủ cho dân tộc, giữa quá trình đoạn tuyệt hoàn toàn với chế độ phong kiến với quá trình chống lại sự xâm thực của chủ nghĩa thực dân một cách triệt để. Đó chỉ có thể là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân do giai cấp công nhân và chính đảng của nó lãnh đạo. Tuy nhiên, không phải bất cứ ai, dù là rất lỗi lạc, cũng có thể tìm ra con đường ấy.
Do vậy, nét đặc sắc trước hết trong quá trình tìm đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh là định hình mục tiêu cần phải đến. Với Người, mục tiêu lúc đầu chắc chắn vẫn là tìm đường cứu nước, con đường giải phóng dân tộc. Song chính sự tích hợp văn hóa chính trị đã làm chuyển hóa trong nhận thức của Người để đi đến kết luận: Muốn cứu nước, giải phóng dân tộc, không còn con đường nào khác ngoài con đường cách mạng vô sản. Đi từ Đông sang Tây, ngẫm từ cổ chí kim, Người đã gắn mục tiêu cứu nước với mục tiêu cứu dân, không chỉ là dân tộc được độc lập, tự do mà còn là nhân dân được ấm no, hạnh phúc. Vì thế, con đường cứu nước không chỉ đơn thuần là một cương lĩnh chính trị mang tính bao quát “dân tộc độc lập”, mà còn trở thành một nhu cầu rất sát sườn với các lực lượng cách mạng “người cày có ruộng”. Ở đây rõ ràng có sự tích hợp văn hóa giữa “từ, bi, hỉ xả” của Đức Phật với “bác ái, cứu độ” của Giê su, “tự do, bình đẳng” của Linh Côn, “dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc” của Tôn Dật Tiên…
Nhờ định hình được mục tiêu cứu nước phải gắn chặt, không thể tách rời mục tiêu cứu dân mà khi Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp được Luận cương của V.I.Lênin đã hầu như ngay lập tức định hình con đường đi của cách mạng Việt Nam. Người khẳng định: Lúc này học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chắc chắn nhất là chủ nghĩa Lênin. Điều thú vị là ở chỗ tại thời điểm lịch sử ấy, không ít nhà nghiên cứu, nhà lý luận đương thời rất tâm đắc với lý luận đấu tranh giai cấp, đến mức tuyệt đối hóa nó, khước từ các khẩu hiệu chính đáng của đấu tranh dân tộc. Song, Người thì không phải như vậy, mà đấu tranh giành lợi quyền cho giai cấp luôn phải gắn liền với đấu tranh giành lợi quyền cho dân tộc; nước được hưởng tự do, độc lập mà dân không được hưởng ấm no, hạnh phúc thì không có nghĩa lý gì.
Không chỉ vượt hẳn lên các nhà yêu nước đương thời trong xác định mục tiêu cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn vượt hẳn lên trong xác định đúng đắn lực lượng, con đường, biện pháp cách mạng. Và ở góc độ này, có thể thấy sự tích hợp văn hóa chính trị trong quá trình tìm đường cứu nước của Người lại ngời lên sức sáng tạo vĩ đại.
Một trong những bài toán mà bất cứ nhà chiến lược cách mạng nào cũng buộc phải giải đáp là cuộc cách mạng ấy do ai tiến hành, ai là lực lượng căn bản, ai là đồng minh, ai là lực lượng cần trung lập hóa, và đặc biệt, ai là người nắm ngọn cờ lãnh đạo. Trên thực tế, phong trào Cần vương lúc đó kêu gọi toàn dân kháng Pháp (mà chủ yếu là nông dân), do giai cấp quý tộc phong kiến đứng lên nắm ngọn cờ lãnh đạo. Các phong trào kháng Pháp của giai cấp nông dân tự dựng ngọn cờ đã được thực hiện như khởi nghĩa Yên Thế, song cũng không thoát khỏi ý thức hệ phong kiến. Vào khoảng đầu thế kỷ XX, nhiều luồng gió mới của phong trào yêu nước xuất hiện, nhưng việc xác định lực lượng vẫn bế tắc. Việt Nam Quốc dân Đảng chủ trương dựa vào lực lượng binh lính để tiến hành ám sát, bạo động. Các nhà chí sĩ như cụ Phan Bội Châu chủ trương dựa vào viện trợ từ bên ngoài để mong tìm cải cách, khi thì tìm đến Trung Hoa dân quốc, lúc thì trông chờ vào Nhật, thậm chí tính đến việc liên lạc với các nước châu Âu. Còn cụ Phan Chu Trinh thì lại chủ trương dựa luôn vào Pháp, tiến hành đấu tranh nghị trường theo phương châm “Pháp - Việt đề huề” để cải thiện dân sinh, đòi lại tự chủ… Đương nhiên, không thể phủ nhận vai trò của các lực lượng ấy, nhưng như thế chưa đủ để thực thi một chiến lược thực sự nhằm giải phóng dân tộc.
Khác hẳn với các vị tiền bối cũng như những nhân vật lịch sử đương thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh ngay từ đầu đã chủ trương dựa hẳn vào nhân dân. Người khẳng định trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân; nhân dân là người cần được giải phóng, và nhân dân Việt Nam cũng chính là lực lượng căn bản đứng lên tự giải phóng. Và điểm đặc biệt nổi trội của Người, đồng thời thể hiện sự tích hợp văn hóa sâu sắc trong quá trình tìm đường cứu nước của Người, chính là xác định được vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân, cùng hệ tư tưởng cách mạng của giai cấp ấy và chính đảng của nó. Cũng như giai cấp công nhân thế giới, giai cấp công nhân Việt Nam là giai cấp duy nhất có đầy đủ khả năng tập hợp và lãnh đạo cách mạng. Điều đó được quy định một cách tất yếu từ bản chất chính trị của giai cấp công nhân. Song, trong bối cảnh giai cấp công nhân Việt Nam lúc đó mới đang từng bước hình thành, số lượng chưa lớn, “thâm niên” chưa nhiều, thì không phải bất cứ ai cũng “đọc” ra vai trò lịch sử của nó. Chỉ với một tầm nhìn vĩ đại như Chủ tịch Hồ Chí Minh, cùng sự tích hợp văn hóa giữa truyền thống thân dân trong lịch sử dân tộc với lý luận cách mạng tiên tiến của thời đại là chủ nghĩa Mác - Lênin, thì giai cấp công nhân Việt Nam mới được nhìn nhận đúng với tư cách của mình.
Vấn đề lực lượng cách mạng không dừng lại ở sự khẳng định vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân, mà còn là sự nhấn mạnh vai trò động lực cách mạng của các tầng lớp nhân dân lao động khác, trong đó khối liên minh công nông làm nền tảng. Tuy nhiên, lực lượng cách mạng Việt Nam, theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, còn được mở ra rất rộng: công - nông - binh - trí - thương, tức là bao gồm tất cả những người Việt Nam yêu nước. Vai trò của phong trào yêu nước Việt Nam cũng mang tính quyết định không kém so với vai trò của phong trào công nhân, đồng thời tạo nền tảng xã hội rộng lớn của phong trào công nhân, cùng thể hiện tính nguyên tắc bất di bất dịch của nhu cầu giải phóng dân tộc với nhu cầu giải phóng giai cấp. Chính nhờ quan điểm đúng đắn này của Người nên phong trào công nhân Việt Nam gắn liền với phong trào yêu nước Việt Nam, khi tiếp nhận được lý luận cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin tất yếu hình thành nên chính đảng cộng sản. Đồng thời, đường lối cứu nước do Người tìm ra trở thành đường lối cách mạng đúng đắn duy nhất phù hợp với điều kiện nước ta.
Xác định con đường, biện pháp cách mạng là biểu hiện tập trung nhất, đồng thời là tiêu chí quan trọng nhất thử thách tính đúng đắn của một học thuyết cách mạng, của cả một phương lược cứu nước. Bởi lẽ, cách mạng không chỉ là khẩu hiệu, mà chính là phương châm hành động. Trước và cùng thời với Chủ tịch Hồ Chí Minh, các nhà yêu nước khác cũng đã dự lập nhiều con đường, cách thức hành động khác nhau. Khi tiếng súng kháng Pháp của phong trào Cần vương và khởi nghĩa nông dân thưa dần, nhiều cách thức mới đã được thử nghiệm: tổ chức đầu độc binh lính Pháp như vụ Hà Thành đầu độc, tổ chức đánh úp quân Pháp như vụ bạo động của nghĩa quân Vương Quốc Chính, tổ chức ám sát những tên thực dân đầu sỏ như vụ ném bom Sa Điện, vụ ném tạc đạn khách sạn Con Gà Vàng, vụ ám sát trùm mộ phu Ba-danh… Nhưng đó đều không phải là giải pháp cơ bản. Và thất bại của cuộc khởi nghĩa Yên Bái do Việt Nam Quốc dân Đảng tiến hành chính là dấu chấm hết cho những nỗ lực kiểu cũ của phong trào yêu nước. Điều đó đòi hỏi có sự tìm tòi mới, và một trong những hướng đi mới chính là vận động thanh niên xuất dương tìm đường cứu nước.
Tuy nhiên, đi tới đâu mà học hỏi - đó lại là vấn đề cực kỳ quan trọng. Sự trỗi dậy đương thời của Nhật Bản dưới triều đại Minh Trị Thiên Hoàng cùng với tiếng vang của cách mạng Tân Hợi (Trung Hoa Dân Quốc) đang có sức hút lớn. Theo đó, phong trào Đông Du cùng các tổ chức Đông Kinh nghĩa thục, Việt Nam Quang phục hội do cụ Phan Bội Châu chủ xướng không phải là những xu hướng không có lý. Tuy nhiên, với sự nhìn nhận của người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành, thì như vậy vẫn chưa đủ sức thuyết phục. Người cho rằng cần phải đến thẳng nước Pháp cùng các nước đế quốc thực dân, phải tham khảo rất nhiều cuộc cách mạng ở nhiều nước khác nữa - những đất tự do, những trời nô lệ - thì mới mong tìm ra những câu trả lời thỏa đáng. Đây là một nét đặc sắc khác trong quá trình tìm đường cứu nước của Người, đồng thời là tiền đề để Người thực hiện một quá trình tích hợp văn hóa chính trị vĩ đại.
Và chính từ quá trình tích hợp văn hóa chính trị vĩ đại ấy của Người, chính đảng của giai cấp công nhân Việt Nam do Người sáng lập đã tìm ra, tìm đúng con đường, biện pháp cách mạng: đó là đường lối đấu tranh giành độc lập dân tộc gắn với giải quyết các vấn đề xã hội và dân chủ, dân sinh, bước đầu là "chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản"[1][1]. Trải qua thực tiễn đấu tranh, Lãnh tụ Hồ Chí Minh đã giải quyết thành công việc xác định con đường kết hợp giữa giải phóng giai cấp với giải phóng dân tộc, giữa cứu dân, cứu nước với cách mạng vô sản và đã chấm dứt tình trạng khủng hoảng đường lối trong lịch sử dân tộc Việt Nam.














TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH VỚI VẤN ĐỀ XÂY DỰNG VĂN HOÁ TRONG ĐẢNG HIỆN NAY

Báo cáo viên:  Hà Đăng
1 - Vị trí của vấn đề đạo đức trong văn hóa nói chung
Văn hóa, theo định nghĩa chung nhất, là những giá trị vật chất và tinh thần mà loài người sáng tạo nên trong tiến trình lịch sử. Còn theo cách hiểu thông thường nhất, đó là toàn bộ đời sống tinh thần của xã hội, bao gồm cả tư tưởng xã hội, tri thức xã hội, đạo đức xã hội, đời sống và lối sống xã hội...

          Không phải đến bây giờ, mà ngay từ lâu, khi Đảng ta mới thành lập và khi nhà nước cách mạng mới ra đời, Bác Hồ đã khẳng định rằng văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, "văn hóa soi đường cho quốc dân đi". Có nghĩa, đạo đức chỉ là một bộ phận của văn hóa chứ không phải là toàn bộ nền văn hóa. Tuy nhiên, đó là bộ phận có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Bởi lẽ, khi xem xét trình độ văn hóa của một xã hội, người ta không thể không nói đến con người trong xã hội, mà nói đến con người thì không thể không nói đến đạo đức. Tư tưởng xã hội và đạo đức xã hội đều có vai trò quyết định đối với hành vi của con người trong xã hội. Đạo đức là những tiêu chuẩn, nguyên tắc sống và hành động được dư luận xã hội thừa nhận. Những tiêu chuẩn, nguyên tắc đó quy định, điều chỉnh hành vi, quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội. Như vậy, đạo đức cũng chính là phẩm chất tốt đẹp của con người do tu dưỡng theo những tiêu chuẩn đó mà có. Trong các quan hệ xã hội, những vấn đề thuộc về dân tâm, dân ý, dân trí, dân quyền, và dân sinh ..., đều thuộc về và là sự biểu hiện của văn hóa một xã hội, mà mức độ biểu hiện cao hay thấp tùy thuộc một phần quan trọng vào đạo đức.



2 - Vị trí của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh trong tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh
          Đại hội IX của Đảng ta đã đưa ra một mệnh đề cấu thành định nghĩa rất chuẩn xác về tư tưởng Hồ Chí Minh, rằng "Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam". Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh cần được nghiên cứu không phải dưới góc độ những ý kiến, những suy nghĩ riêng lẻ, cụ thể, mà trong sự tổng hợp có tính hệ thống, tức là nghiên cứu dưới góc độ một học thuyết chính trị - cách mạng. Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là một bộ phận của tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh. Nói cách khác, tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức là một bộ phận của tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, và tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa lại là một bộ phận của tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương tiêu biểu, một mẫu mực tuyệt vời về đạo đức, không chỉ đạo đức của con người xã hội mà còn là đạo đức của một lãnh tụ cách mạng, suốt đời hy sinh, phấn đấu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân. Tuy nhiên, nghiên cứu tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh không chỉ là nghiên cứu những phẩm chất cao quý thể hiện trong cuộc sống của Người, mà còn là nghiên cứu những quan điểm của Người về đạo đức, những quan điểm đó đã, đang và sẽ còn chỉ đạo dài lâu cho sự nghiệp của Đảng ta xây dựng văn hóa dân tộc nói chung và xây dựng văn hóa trong Đảng nói riêng.

          Xuyên suốt các tác phẩm của Người, từ "Đường Cách mệnh" (1927), "Sửa đổi lối làm việc" (1947), "Cần, kiệm, liêm, chính" (1949) cho đến "Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân" (1969) và bản Di chúc của Người (1969), ta thấy toát lên tinh thần và những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức.
Khái niệm đạo đức, được Hồ Chí Minh tập trung đề cập trong các tác phẩm của Người là đạo đức của xã hội mới, cao hơn nữa là đạo đức cách mạng, đạo đức của cán bộ, đảng viên. Những phẩm chất đạo đức cao quý chung nhất, cơ bản nhất mà Người nêu lên đối với cán bộ cách mạng:

          Một là: trung với nước, hiếu với dân, suốt đời phấn đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Không phải một lần mà rất nhiều lần, không phải đối với một số đối tượng nhất định mà đối với rất nhiều đối tượng khác nhau, Người luôn luôn nhắc nhở rằng, điều chủ chốt nhất của đạo đức cách mạng là quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng, là tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân, là trung với nước, hiếu với dân.
Hai là: nhân, nghĩa, trí, dũng. Nhân là thật thà yêu thương, giúp đỡ đồng chí và đồng bào. Vì thế mà kiên quyết chống lại những người, những việc có hại đến Đảng, đến nhân dân. Vì thế mà sẵn sàng chịu cực khổ trước mọi người, hưởng hạnh phúc sau thiên hạ. Vì thế mà không ham giàu sang, không ngại cực khổ, không sợ uy quyền. Nghĩa là ngay thẳng, không có tà tâm, không làm việc bậy, không có việc gì phải giấu Đảng. Trí là đầu óc trong sạch, sáng suốt, dễ hiểu lý luận, dễ tìm phương hướng, biết xem người, xét việc,... Dũng là dũng cảm, gan góc, gặp việc phải có gan làm, thấy khuyết điểm có gan sửa chữa; cực khổ khó khăn có gan chịu đựng; có gan chống lại vinh hoa phú quý không chính đáng; nếu cần, có gan hy sinh cả tính mạng mình...

          Ba là: cần, kiệm, liêm, chính. Cần là lao động cần cù, siêng năng; lao động có kế hoạch, sáng tạo, có năng suất cao; không lười biếng, không ỷ lại, không dựa dẫm; thấy rõ lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của chúng ta... Kiệm là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thời gian, tiết kiệm tiền của của nhân dân, của nước, của bản thân mình, không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi; không phô trương hình thức, không liên hoan chè chén lu bù... Liêm là luôn luôn tôn trọng, gìn giữ của công và của dân; phải trong sạch, không tham lam; không tham địa vị, không tham tiền tài, không tham sung sướng, không ham người tâng bốc mình... Chính "nghĩa là không tà, thẳng thắn, đứng đắn". Đối với mình thì không tự cao, tự đại, luôn luôn chịu khó học tập, cầu tiến bộ, luôn luôn tự kiểm điểm để phát triển điều hay, sửa chữa điều dở... Đối với người thì không nịnh hót cấp trên, không xem khinh người dưới; luôn luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết, thật thà, không dối trá, lừa lọc. Đối với việc thì để việc công lên trên, lên trước việc tư, việc nhà... Cần, kiệm, liêm, chính luôn luôn đi liền với chí công, vô tư, tức là hết lòng chăm lo công việc chung, không tơ hào, tư lợi.
Trung, hiếu, nhân, nghĩa, trí, dũng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư đều là những khái niệm vốn có từ Nho học và đạo đức từ lâu đời của ông cha ta, song đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đổi mới và phát triển, thậm chí có những khái niệm đổi mới hẳn về nội dung, như xưa kia là trung với vua, hiếu với cha mẹ, nay là trung với nước, hiếu với dân. Do đó, những phẩm chất đạo đức được Người nêu lên chính là những phẩm chất của đạo đức mới, của con người mới và nền văn hóa mới. Nó là sự kết hợp tinh thần cách mạng của giai cấp công nhân với truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc và những tinh hoa đạo đức của nhân loại.
Đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh còn có tầm sâu rộng hơn, vượt qua khuôn khổ quốc gia để tạo nên sự kết hợp hài hòa và nhuần nhuyễn giữa chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản, xem "bốn phương vô sản đều là anh em"...
3 - Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh với vấn đề xây dựng văn hóa trong Đảng hiện nay
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) của Đảng ta nêu rõ rằng, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một trong những nội dung cơ bản của việc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng yêu cầu: đưa các nhân tố văn hóa, tinh thần thấm sâu vào các lĩnh vực của đời sống xã hội. Nghị quyết Trung ương 5, khóa VIII, ghi rõ: "Để đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng về văn hóa, phải xây dựng văn hóa từ trong Đảng, trong bộ máy nhà nước..." và khẳng định rằng: "Từ nay đến năm 2000, đặt trọng tâm vào nhiệm vụ xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa lành mạnh trong xã hội, trước hết là trong các tổ chức đảng và nhà nước, trong các đoàn thể quần chúng và trong từng gia đình". Nghị quyết Đại hội IX của Đảng một lần nữa yêu cầu: "Nâng cao tính văn hóa trong mọi hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội và sinh hoạt của nhân dân". Kết luận của Hội nghị Trung ương 10, khóa IX, nhấn mạnh: Tiếp tục đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống lành mạnh trong xã hội, trước hết là trong các tổ chức đảng và nhà nước. Trong Diễn văn đọc tại Lễ kỷ niệm 75 năm Ngày thành lập Đảng vừa qua, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh cũng yêu cầu phải phấn đấu để mỗi tổ chức đảng và đoàn thể, mỗi cơ quan nhà nước đều là "một tấm gương văn hóa trong xã hội".
Nhắc lại các nghị quyết nói trên để thấy rõ tính bức bách của nhiệm vụ xây dựng văn hóa trong Đảng hiện nay; cũng là để thấy rõ rằng muốn xây dựng được tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa lành mạnh trong xã hội, trước hết phải xây dựng được các phẩm chất đó trong các tổ chức của Đảng và bộ máy của Nhà nước...
Đối chiếu với tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức mà chúng tôi vừa đề cập, ta càng thấy rõ vai trò quan trọng biết dường nào của đạo đức cách mạng trong việc xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc nói chung, và xây dựng văn hóa trong Đảng nói riêng. Không phải ngẫu nhiên trong Di chúc Người nói về Đảng và đặc biệt nhấn mạnh vấn đề đạo đức: "Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân".
Những lời dạy của Bác Hồ về đạo đức cách mạng, đối với Đảng ta, đối với mỗi cán bộ, đảng viên, ngày nay vẫn còn mang tính thời sự nóng hổi; nhất là những phẩm chất trung với Đảng, trung với nước, hiếu với dân, về cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, về nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, về đảng viên đi trước, làng nước theo sau... là không bao giờ cũ. Nếu có cái gì gọi là cũ thì đó chính là nhận thức của chúng ta về các lời dạy của Bác không đến nơi, đến chốn, không thật đầy đủ và nhuần nhuyễn, nhất là chúng ta nói mà không đi đôi với làm, hoặc nói nhiều làm ít, khiến cho đời sống văn hóa trong Đảng, nhất là đời sống về đạo đức, có những biểu hiện suy thoái nghiêm trọng. Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 (lần 2), khóa VIII, đòi hỏi phải khắc phục bằng được tình trạng suy thoái về tư tưởng, đạo đức và lối sống trong cán bộ, đảng viên, đặc biệt là tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, một căn bệnh nguy hiểm đang đục khoét cơ thể sống của Đảng ta. Trong cuộc chiến đấu sinh tử này, mỗi cán bộ, đảng viên chúng ta càng phải đề cao trách nhiệm tu dưỡng và thực hành tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh.


















TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CẦN, KIỆM, LIÊM, CHÍNH, CHÍ CÔNG VÔ TƯ
                          Báo cáo viên: Đình Trọng
Bản thân Bác cũng dẫn một câu nói ở phương Đông ''Một tấm gương sáng còn hơn 100 bài diễn văn tuyên truyền''. Có lẽ từ nhận thức như vậy mà cuộc đời của Bác là một tấm gương đạo đức vô cùng trong sáng, cao thượng và mẫu mực. Điều này có thể nhận thấy qua những hành vi trong cuộc sống đời thường của Bác. Năm 1945, sau khi nước nhà giành được độc lập thì xẩy ra nạn đói và vỡ đê làm khoảng 2 triệu người chết đói. Đau xót quá, Bác kêu gọi mọi người: ''Lúc chúng ta bưng bát cơm mà ăn nghĩ đến người nghèo đói chúng ta không khỏi động lòng, vì vậy tôi xin đề nghị với đồng bào cả nước và tôi xin thực hành trước cứ mười ngày nhịn ăn một bữa, một tháng nhịn ăn ba bữa, lấy gạo đó mỗi bữa một bơ để cứu giúp dân nghèo''. Nhìn thấy Bác gầy rộc, ăn uống không đều đặn, các đồng chí phục vụ rất lo cho sức khỏe của Bác và đã đề nghị Bác không nên nhịn ăn. Bác bảo: ''Bác kêu gọi đồng bào mười ngày nhịn ăn một bữa thì Bác cũng phải làm gương chứ, các chú cứ bảo Bác ăn thì làm gương cho ai được", Nghe tin nông dân bị mất mùa nấu cơm phải độn thêm ngô, khoai, Bác yêu cầu cơm của Bác cũng phải độn ngô, khoai. Ngôi nhà sàn Bác ở chỉ có giường đơn gối chiếc, chiếu mộc, không quạt máy, không điều hòa nhiệt độ. Một lần Bác đi họp về, đồng bào Sơn La tặng Bác một cái nệm, Bác nằm thử cũng thấy êm nhưng đến chiều Bác bảo với các đồng chí phục vụ là mang cái nệm này sang tặng các cụ lão thành cách mạng già hơn Bác và Bác nói một câu rất cảm động ''Trong lúc đồng bào chưa có chiếu mà nằm Bác nằm nệm sao yên lòng''.

Bác là một tấm gương lớn về tự học. Đồng chí Vũ Kỳ, Thư ký của Bác kể lại: khi dọn chỗ của Bác nằm điều trị trong bệnh viện năm 1969, lúc Bác đã đi xa, thấy một cuốn từ điển nước ngoài để ở đầu giường và khi mở cuốn từ điển đó ra thì Bác còn ghi là ngày nào học đến từ nào, như vậy là Bác cũng đã học đến hơi thở cuối cùng.

Qua những mẩu chuyện trên, chúng ta hiểu được tấm gương rèn luyện phi thường về đạo đức, lối sống của Bác. Bác luôn tự răn mình “Gạo đem vào giã bao đau đớn, gạo giã xong rồi trắng tựa bông, sống ở trên đời người cũng vậy, gian nan rèn luyện mới thành công”. Đó chính là đạo đức cách mạng hết sức bình dị nhưng vô cùng vĩ đại của Bác. Đạo đức đó không chỉ có tác dụng thuyết phục, lôi cuốn toàn thể nhân dân Việt Nam đi theo cách mạng và xây dựng đất nước mà còn được bạn bè khắp năm châu ngợi ca, học tập và chính kẻ thù cũng phải kính nể, tôn trọng. Từ đạo lý, truyền thống của nhân dân Việt Nam, từ sự từng trải và tu dưỡng của chính mình, từ niềm tin lớn lao và khát vọng vươn lên cái chân, thiện, mỹ của con người Việt Nam, Hồ Chí Minh đã dày công xây đắp nên những phẩm chất đạo đức cách mạng dựa trên bốn chuẩn mực sau:

Trung với nước, hiếu với dân. Đây là hai phạm trù thời phong kiến xuất phát từ đạo đức Nho giáo, chữ trung và chữ hiếu chỉ ở trong diện hẹp, nhưng Hồ Chí Minh đã sáng tạo dùng khái niệm này với nội dung cách mạng hoàn toàn mới. Đó là trung với nước, hiếu với dân, trong đó có cả cha mẹ và gia đình. Đây cũng chính là hai phạm trù đạo đức gắn bó chặt chẽ với nhau vì theo quan niệm của Người nước là của dân, dân là chủ nhân của đất nước. Điều này càng làm cho tư tưởng của Người vượt xa lên phía trước. Trung với nước, hiếu với dân thì phải suốt đời hy sinh, phấn đấu vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì CNXH. Câu nói đó của Bác vừa là lời kêu gọi hành động vừa là định hướng chính trị, đạo đức cho con người Việt Nam không chỉ trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc mà còn lâu dài về sau.

Về chuẩn mực yêu thương quý trọng con người, Bác khẳng định yêu thương quý trọng con người là một trong những phẩm chất cao đẹp nhất. Đó là tình cảm rộng, nhưng trước hết phải dành cho những người cùng khổ. Bác khóc thương những người da đen nô lệ bị áp bức bóc lột trên toàn thế giới. Còn đối với nhân dân Việt Nam, Bác hy sinh cả hạnh phúc cá nhân của mình ra đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc thoát khỏi cảnh áp bức, bóc lột. Chúng ta cũng đã thấy tình yêu thương con người của Bác bao la đến nhường nào. Bác nói: ''Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước nhà được hoàn toàn độc lập, dân ta hoàn toàn được tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành''. Đặc biệt tình yêu thương con người của Bác còn dành cho chính kẻ thù khi bị thua trận. Một lần, Bác đến thăm trại tù binh Pháp, Bác thấy một tù binh đang rét run cầm cập liền cởi áo bông trong người mà đồng bào Trung Quốc tặng Bác khoác lên người tù binh đó. Sang phòng bên, Bác thấy một tù binh khác đang ho sùng sục, không ngần ngại Bác cởi nốt chiếc khăn của mình quàng lên cổ cho tù binh đó. Sau này, chính những tù binh đó viết hồi ký đã rất xúc động và khâm phục trước tấm lòng yêu thương con người của Bác.

Về cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, Bác giải thích ngắn gọn, dễ hiểu. Cần có nghĩa là cần cù siêng năng, là tăng năng suất lao động, là làm việc có hiệu quả, cần với Bác không có nghĩa là phải làm hết sức, làm gắng làm gượng mà cần có nghĩa là kiên trì bền bỉ, dẻo dai. Kiệm là tiết kiệm, không xa hoa lãng phí của tư cũng như của công, kiệm theo Bác không có nghĩa là bủn xỉn mà kiệm phải đi đôi với cần, cần mà không kiệm thì như gió vào nhà trống, kiệm mà không cần thì không làm thêm của cải. Liêm là trong sáng không tham ô, tham lam. Bác nhấn mạnh chí công vô tư là chống chủ nghĩa cá nhân. Bác ví chủ nghĩa cá nhân như cái bệnh mẹ, nếu chúng ta không chống cái bệnh mẹ thì bệnh mẹ sẽ đẻ ra hàng loạt bệnh con, chí công vô tư là phải làm những việc ích nước lợi dân và luôn luôn nghĩ đến lợi ích Tổ quốc.

Bác thường nhắc người cán bộ muốn có đạo đức cách mạng thì nói phải đi đôi với làm, phải nêu gương về đạo đức, xây phải đi đôi với chống và phải tu dưỡng đạo đức suốt đời. Chúng ta có thể khẳng định rằng đạo đức và tư tưởng đạo đức của Người mãi mãi là tấm gương sáng và những nguyên tắc mẫu mực đó chính là những khuôn vàng thước ngọc để tu dưỡng đạo đức làm người cho các thế hệ Việt Nam.




  






















TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CON NGƯỜI
Báo cáo viên: Vũ Thị Kim Dung
                                         Khoa Giáo dục Chính trị
Trường ĐHSP Hà Nội

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một bước phát triển mới của chủ nghĩa Mác - Lênin, được vận dụng một cách sáng tạo vào thực tiễn giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Điều cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc gắn liền với giải quyết xã hội và giải phóng con người. Trong đó, vấn đề con người là vấn đề lớn, được đặt lên hàng đầu và là vấn đề trung tâm, xuyên suốt trong toàn bộ nội dung tư tưởng của Người. Tin ở dân, dựa vào dân, tổ chức và phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân, bồi dưỡng, đào tạo và phát huy mọi năng lực của dân (ở từng cá nhân riêng lẻ và của cả cộng đồng), đó là tư tưởng được Hồ Chí Minh vận dụng và phát triển trong toàn bộ sự nghiệp đấu tranh cách mạng giành độc lập dân tộc cũng như xây dựng đất nước. Tư tưởng đó cũng chính là nội dung cơ bản ủa toàn bộ tư tưởng về con người của Hồ Chí Minh.
Đối với Hồ Chí Minh, con người vừa tồn tại vừa tư cách cá nhân, vừa là thành viên của gia đình và của cộng đồng, có cuộc sống tập thể và cuộc sống cá nhân hài hòa, phong phú. Người đã nêu một định nghĩa về con người: "Chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn. Nghĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộng nữa là cả loài người". Quan điểm đó thể hiện ở chỗ Người chưa bao giờ nhìn nhận con người một cách chung chung, trừu tượng. Khi bàn về chính sách xã hội, cũng như ở mọi nơi, mọi lúc, trong mọi hoàn cảnh, Người luôn quan tâm đến nhu cầu, lợi ích của con người với tư cách nhu cầu chính đáng. Đem lại lợi ích cho con người chính là tạo ra động lực vô cùng lớn lao cho sự nghiệp chung, vì nếu như những nhu cầu, lợi ích của mỗi cá nhân không được quan tâm thỏa đáng thì tính tích cực của họ sẽ không thể phát huy được. Trong khi phê phán một cách nghiêm khắc chủ nghĩa cá nhân, Người viết: "Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là "giày xéo lên lợi ích cá nhân". Mỗi người đều có tính cách riêng, sở trường riêng, đời sống riêng của bản thân và của gia đình mình". Trong quan điểm về thực hiện một nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, theo Người, phải là một nền dân chủ chân chính, không hình thức, không cực đoan, trong đó mỗi con người cụ thể phải được đảm bảo những quyền lợi và nghĩa vụ của mình theo hiến pháp và pháp luật. Con người, với tư cách là những cá nhân, không tồn tại biệt lập mà tồn tại trong mối quan hệ biện chứng với cộng đồng dân tộc và với các loài người trên toàn thế giới.
Con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh không tồn tại như một phạm trù bản thể luận có tính trừu tượng hóa và khái quát hóa, mà được đề cập đến một cách cụ thể, đó là nhân dân Việt Nam, những con người lao động nghèo khổ bị áp bức cùng cực dưới ách thống trị của phong kiến, đế quốc; là dân tộc Việt Nam đang bị đô hộ bởi chủ nghĩa thực dân; và mở rộng hơn nữa là những "người nô lệ mất nước" và "người cùng khổ". Lôgíc phát triển tư tưởng của Người là xuất phát từ chủ nghĩa yêu nước để đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, đến với chủ nghĩa quốc tế chân chính. Theo lôgíc phát triển tư tưởng ấy, khái niệm "con người" của Hồ Chí Minh tiếp cận với khái niệm "giai cấp vô sản cách mạng". Người đề cập đến giai cấp vô sản cách mạng và sự thống nhất về lợi ích căn bản của giai cấp đó với các tầng lớp nhân dân lao động khác (đặc biệt là nông dân). Người nhận thức một cách sâu sắc rằng, chỉ có cuộc cách mạng duy nhất và tất yếu đạt tới được mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và toàn thể nhân loại khỏi mọi sự nô dịch, áp bức. Toàn bộ các tư tưởng, lý luận (chiếm một khối lượng lớn trong các tác phẩm của Người) bàn về cách mạng (chiến lược giải pháp; bàn về người cách mạng và đạo đức cách mạng, về hoạch định và thực hiện các chính sách xã hội; về rèn luyện và giáo dục con người v.v...) về thực chất chỉ là sự cụ thể hóa bằng thực tiễn tư tưởng về con người của Hồ Chí Minh.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con người được khái niệm vừa là mục tiêu của sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, vừa là động lực của chính sự nghiệp đó. Tư tưởng đó được thể hiện rất triệt để và cụ thể trong lý luận chỉ đạo cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Trong lý luận về xây dựng chế độ mới, Hồ Chủ tịch đã khẳng định xây dựng chế độ dân chủ nhân dân gắn liền với việc thực hiện bước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Trong kháng chiến giải phóng dân tộc cần xây dựng chế độ dân chủ nhân dân để đẩy mạnh công cuộc kháng chiến, đồng thời tạo ra những tiền đề cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội; trong xây dựng chủ nghĩa xã hội cần phải thực hiện chế độ dân chủ nhân dân, vì như Người nói: "Đây là cuộc chiến đấu khổng lồ chống lại những cái gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi". Cuộc chiến đấu ấy sẽ không đi đến thắng lợi, nếu không "dựa vào lực lượng của toàn dân". Về chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh không bao giờ quan niệm hình thái xã hội đó như một mô hình hoàn chỉnh, một công thức bất biến. Bao giờ Người cũng coi trọng những điều kiện kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa khách quan. Người chỉ đề ra những mục tiêu của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội với những bước đi thiết thực và những nội dung cơ bản nhất. Theo Người: "Nói một cách tóm tắt, mộc mạc, chủ nghĩa xã hội trước hết là làm cho nhân dân lao động thoát khỏi bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và được sống đời hạnh phúc"; "Chủ nghĩa xã hội là nhằm nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân" xây dựng chủ nghĩa xã hội tức là làm cho nhân dân ta có một đời sống thật sung sướng, tốt đẹp. Người dạy xây dựng chủ nghĩa xã hội phải thiết thực, phù hợp với điều kiện khách quan, phải nắm được quy luật và phải biết vận dụng quy luật một cách sáng tạo trên cơ sở nắm vững tính đặc thù, tránh giáo điều, rập khuôn máy móc. Sự sáng tạo đó gần gũi, tương đồng, nhất quán với luận điểm của Ăngghen: "Đối với chúng ta, chủ nghĩa cộng sản không phải là trạng thái cần phải sáng tạo ra, không phải là một lý tưởng mà hiện thực phải khuôn theo. Chúng ta gọi chủ nghĩa cộng sản là một phong trào hiện thực, nó xóa bỏ trạng thái hiện nay". Vì vậy, không chỉ trong lý luận về đấu tranh giành độc lập dân tộc mà cả trong lý luận xây dựng chủ nghĩa xã hội khi định ra những mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, trước hết, "cần có con người xã hội chủ nghĩa", Hồ Chí Minh đã thể hiện nhất quán quan điểm về con người: con người là mục tiêu, đồng thời vừa là động lực của sự nghiệp giải phóng xã hội và giải phóng chính bản thân con người.
Tấm lòng Hồ Chí Minh luôn hướng về con người. Người yêu thương con người, tin tưởng con người, tin và thương yêu nhân dân, trước hết là người lao động, nhân dân mình và nhân dân các nước. Với Hồ Chí Minh, "lòng thương yêu nhân dân, thương yêu nhân loại" là "không bao giờ thay đổi". Người có một niềm tin lớn ở sức mạnh sáng tạo của con người. Lòng tin mãnh liệt và vô tận của Hồ Chí Minh vào nhân dân, vào những con người bình thường đã được hình thành rất sớm. Từ những năm tháng Người bôn ba tìm đường cứu nước, thâm nhập, lăn lộn, tìm hiểu thực tế cuộc sống và tâm tư của những người dân lao động trong nước và nước ngoài. Người đã khẳng định: "Đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương ẩn giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét, và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm khi thời cơ đến"1. Tin vào quần chúng, theo quan điểm của Hồ Chí Minh, đó là một trong những phẩm chất cơ bản của người cộng sản. Và đây cũng chính là chỗ khác căn bản, khác về chất, giữa quan điểm của Hồ Chí Minh với quan điểm của các nhà Nho yêu nước xưa kia (kể cả các bậc sĩ phu tiền bối gần thời với Hồ Chí Minh) về con người. Nếu như quan điểm của Hồ Chí Minh: "Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết toàn dân", thì các nhà Nho phong kiến xưa kia mặc dù có những tư tưởng tích cực "lấy dân làm gốc", mặc dù cũng chủ trương khoan thư sức dân", nhưng quan điểm của họ mới chỉ dừng lại ở chỗ coi việc dựa vào dân cũng như một "kế sách", một phương tiện để thực hiện mục đích "trị nước", "bình thiên hạ". Ngay cả những bậc sĩ phu tiền bối của Hồ Chí Minh, tuy là những người yêu nước một cách nhiệt thành, nhưng họ chưa có một quan điểm đúng đắn và đầy đủ về nhân dân, chưa có đủ niềm tin vào sức mạnh của quần chúng nhân dân. Quan điểm tin vào dân, vào nhân tố con người của Người thống nhất với quan điểm của Mác, Ăngghen, Lênin: "Quần chúng nhân dân là người sáng tạo chân chính ra lịch sử".
Tin dân, đồng thời lại hết lòng thương dân, tình thương yêu nhân dân của Hồ Chí Minh có nguồn gốc sâu xa từ trong truyền thống dân tộc, truyền thống nhân ái ngàn đời của người Việt Nam. Cũng như bao nhà Nho yêu nước khác có cùng quan điểm "ái quốc là ái dân", nhưng điểm khác cơ bản trong tư tưởng "ái dân" của Người là tình thương ấy không bao giờ dừng lại ở ý thức, tư tưởng mà đã trở thành ý chí, quyết tâm thực hiện đến cùng sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng nhân loại cần lao, xóa bỏ đau khổ, áp bức bất công giành lại tự do, nhân phẩm và giá trị làm người cho con người. ở Hồ Chí Minh, chủ nghĩa yêu nước gắn bó không tách rời với chủ nghĩa quốc tế chân chính. Tình thương yêu cũng như toàn bộ tư tưởng về nhân dân của Người không bị giới hạn trong chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi mà nó tồn tại trong mối quan hệ khăng khít giữa các vấn đề dân tộc và giai cấp, quốc gia với quốc tế. Yêu thương nhân dân Việt Nam, Người đồng thời yêu thương nhân dân các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Trong sự nghiệp lãnh đạo cách mạng, Hồ Chí Minh luôn coi trọng sức mạnh đoàn kết toàn dân và sự đồng tình ủng hộ to lớn của bè bạn khắp năm châu, của cả nhân loại tiến bộ. Người cũng xác định sự nghiệp cách mạng của nước ta là một bộ phận không thể tách rời trong toàn bộ sự nghiệp đấu tranh giải phóng nhân loại trên phạm vi toàn thế giới.
Tóm lại: Quan niệm về con người, coi con người là một thực thể thống nhất của "cái cá nhân" và "cái xã hội", con người tồn tại trong mối quan hệ biện chứng giữa cá nhân với cộng đồng, dân tộc, giai cấp, nhân loại; yêu thương con người, tin tưởng tuyệt đối ở con người, coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp giải phóng xã hội và giải phóng chính bản thân con người, đó chính là những luận điểm cơ bản trong tư tưởng về con người của Hồ Chí Minh. Xuất phát từ những luận điểm đúng đắn đó, trong khi lãnh đạo nhân dân cả nước tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước, Hồ Chí Minh luôn tin ở dân, hết lòng thương yêu, quý trọng nhân dân, biết tổ chức và phát huy sức mạnh của nhân dân. Tư tưởng về con người của Người thông qua thực tiễn cách mạng của Người thông qua thực tiễn cách mạng đã trở thành một sức mạnh vật chất to lớn và là nhân tố quyết định thắng lợi của chính sự nghiệp cách mạng ấy.
Tư tưởng về con người của Hồ Chí Minh dựa trên thế giới quan duy vật triệt để của chủ nghĩa Mác - Lênin. Chính vì xuất phát từ thế giới quan duy vật triệt để ấy, nên khi nhìn nhận và đánh giá vai trò của bản thân mình (với tư cách là lãnh tụ), Người không bao giờ cho mình là người giải phóng nhân dân. Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, người cán bộ (kể cả lãnh tụ) chỉ là "đầy tớ trung thành" có sứ mệnh phục vụ nhân dân, lãnh tụ chỉ là người góp phần vào sự nghiệp cách mạng của quần chúng. Tư tưởng này đã vượt xa và khác về chất so với tư tưởng "chăn dân" của những người cầm đầu nhà nước phong kiến có tư tưởng yêu nước xưa kia. Và đây, cũng chính là điều đã làm nên chủ nghĩa nhân văn cao cả ở Hồ Chí Minh, một chủ nghĩa nhân văn cộng sản trong cốt cách của một nhà hiền triết phương Đông.
Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Tư tưởng về con người của Đảng Cộng sản Việt Nam nhất quán với tư tưởng về con người của Hồ Chí Minh. Sự nhất quán ấy được thể hiện qua đường lối lãnh đạo cách mạng và qua các chủ trương chính sách của Đảng trong suốt quá trình Đảng lãnh đạo công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Trong sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay, tư tưởng đó tiếp tục được Đảng ta quán triệt vận dụng và phát triển. Con người Việt Nam đang là trung tâm trong "chiến lược phát triển toàn diện"; đang là động lực của công cuộc xây dựng xã hội mới với mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội".
                                               




TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐỨC VÀ TÀI CỦA NGƯỜI CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN
Báo cáo viên: TS Võ Văn Hải
Học viện Chính trị

 Người cán bộ, đảng viên mà Hồ Chí Minh chú trọng xây dựng là người có tài, đức, hồng thắm, chuyên sâu. Người chỉ rõ: “Có tài phải có đức, có tài không có đức, tham ô hủ hoá có hại cho nhà nước. Có đức không có tài, như ông Bụt ngồi trong chùa, không giúp ích gì được ai”. Đức của người cán bộ, đảng viên là đạo đức cách mạng. Người coi đạo đức cách mạng là “nền tảng”, là “cái gốc” của người cán bộ. Đức của người cán bộ cách mạng thể hiện ở phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, là lòng trung thành vô hạn đối với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân, với chế độ XHCN; là trình độ giác ngộ mục tiêu, lý tưởng XHCN, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì mục tiêu, lý tưởng cao đẹp đó. Đức được thể hiện ở sự trong sáng, thành thật, trung thực, không cơ hội, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, biết hy sinh lợi ích cá nhân để phục tùng lợi ích tập thể, lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân. Có lối sống trong sạch, lành mạnh, gần gũi với quần chúng, gương mẫu gắn bó với nhân dân, khiêm tốn học hỏi, thực sự cầu thị. Có tinh thần đoàn kết, thương yêu, tương thân, tương ái lẫn nhau. Đức là cái gốc giúp người cán bộ cách mạng vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hy sinh để hoàn thành tốt nhiệm vụ của Đảng và nhân dân giao phó. Người nói: “cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”. Đạo đức cách mạng tạo nên uy tín của cán bộ, đảng viên. Đó là cơ sở để giáo dục, thuyết phục và lãnh đạo quần chúng nhân dân, là tấm gương sáng cho mọi người noi theo.

Tài của người cán bộ là trình độ, năng lực để hoàn thành nhiệm vụ một cách tốt nhất, có hiệu quả nhất. Tài được thể hiện ở trình độ, năng lực chuyên môn nghiệp vụ, khả năng nhận thức đúng các quy luật, sáng tạo trong giải quyết công việc; luôn làm chủ được tri thức khoa học và có khả năng hiểu biết sâu rộng về các lĩnh vực, nhất là lĩnh vực chuyên môn của mình. Bác nói: “Phải có chính trị trước rồi có chuyên môn; chính trị là đức, chuyên môn là tài”. “Tài” còn là khả năng hoạt động thực tiễn, kỹ năng và hiệu quả thực hành các công việc được giao. Người cán bộ cách mạng phải có năng lực trí tuệ và năng lực hoạt động thực tiễn, có trình độ kiến thức, kinh nghiệm và kỹ năng hoạt động tương xứng với yêu cầu, nhiệm vụ được giao. Dù hoạt động trên bất kỳ lĩnh vực nào thì người có “Tài” phải là người có sự hiểu biết thấu đáo và thực hành thành thạo các công việc mà mình đảm nhiệm. Người chỉ rõ: “Ngày nay, Đảng yêu cầu cán bộ và đảng viên chẳng những thành thạo về chính trị mà còn phải giỏi về chuyên môn, không thể lãnh đạo chung chung”. "Tài” của người cán bộ phải được nhìn nhận, đánh giá theo từng loại công việc và vì thế phải tìm chọn cán bộ có tài và bố trí phù hợp với yêu cầu sử dụng của từng nhiệm vụ. Người căn dặn: “không có ai cái gì cũng tốt, cái gì cũng hay. Vì vậy, chúng ta phải khéo dùng người, sửa chữa những khuyết điểm cho họ, giúp đỡ ưu điểm của họ. Thường chúng ta không biết tuỳ tài mà dùng người”.
. Đức và tài của người cán bộ, đảng viên trong Tư tưởng Hồ Chí Minh phải luôn kết hợp chặt chẽ với nhau. Tài và đức của người cán bộ, đảng viên là hai mặt không tách rời mà hoà quyện với nhau, là cơ sở, điều kiện, tiền đề của nhau, thúc đẩy lẫn nhau để hoàn thiện hình thành nhân cách người cán bộ cách mạng. Tài năng của người cán bộ có vai trò đặc biệt quan trọng để họ hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao, đạt chất lượng và hiệu quả cao trong công việc. Người cán bộ có tài sẽ đem lại kết quả hoạt động tích cực, tự giác, sáng tạo cho họ trên cơ sở hành động theo quy luật khách quan. Nhưng tài năng đó phải được hiện diện trong hệ thống phẩm chất, năng lực và trong tính hiệu quả hoạt động thực tiễn của người cán bộ, đảng viên. Người cán bộ cách mạng phải là người có năng lực trí tuệ cao, tức là có trình độ hiểu biết toàn diện, sâu sắc với một hệ thống tri thức tổng hợp bao quát được nhiều lĩnh vực, có phương pháp tư duy khoa học để nhận thức được bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng, có năng lực thực tiễn tốt để đạt hiệu quả cao trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ.

Hồ Chí Minh luôn coi đạo đức cách mạng là tiêu chí hàng đầu, là "gốc" của người cán bộ, nâng cao đạo đức cũng có nghĩa là củng cố vững chắc hơn cơ sở định hướng cho sự phát triển tài năng của người cán bộ, vì lợi ích chung của Đảng, của giai cấp và của dân tộc. Đạo đức của người cán bộ, đảng viên được nâng cao càng tăng thêm động lực tinh thần thôi thúc người cán bộ vượt lên mọi khó khăn thử thách để nâng cao trình độ trí tuệ của mình. Đạo đức là sự thể hiện quan hệ ứng xử và hành vi của con người, đem lại lợi ích cho người khác và cho xã hội. Đạo đức của người cán bộ cách mạng còn là nền tảng và là cơ sở để người cán bộ, đảng viên phát huy tài năng, trí tuệ và các phẩm chất khác, hướng năng lực của họ vào hoàn thành thắng lợi các nhiệm vụ của cách mạng. Vì vậy, theo Người, cán bộ, đảng viên phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng. Đạo đức luôn luôn là động lực của tình cảm và hành vi của người cán bộ, tài là cơ sở để làm cho đức của người cán bộ cách mạng càng cao, càng lớn hơn.
  Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đức - Tài của người cán bộ là di huấn vô giá Người để lại cho Đảng và nhân dân ta về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ trong tình hình mới. Nghị quyết Đại hội  XI của Đảng chỉ rõ: “Không bổ nhiệm cán bộ không đủ đức, đủ tài, cơ hội chủ nghĩa”. Đức của người cán bộ, đảng viên hiện nay phải là kiên trì Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, có niềm tin vào sự nghiệp đổi mới, CNH, HĐH đất nước, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đức của người cán bộ, đảng viên hiện nay là cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, giữ nghiêm kỷ cương, phép nước; không tham nhũng và cương quyết đấu tranh chống tham nhũng; có lối sống trong sạch, lành mạnh, gần gũi với nhân dân, gương mẫu và gắn bó với quần chúng. Đặc biệt, người cán bộ cách mạng phải biết trăn trở trước cuộc sống nghèo khổ của quần chúng nhân dân và nguy cơ tụt hậu ngày càng xa về kinh tế của đất nước so với thế giới; phải suy nghĩ và hành động, đem hết tài năng, tâm sức cống hiến cho sự nghiệp dân giàu, nước mạnh. Đức của người cán bộ, đảng viên hiện nay phải là nói đi đôi với làm, nói ít, làm nhiều; phải biết thể hiện bằng hành động, bằng những việc làm cụ thể, bằng nê gương để thuyết phục, quy tụ mọi người.
Tài là năng lực chuyên môn, khả năng công tác để bảo đảm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao; tài là tầm tư tưởng, trí tuệ của người cán bộ, đảng viên trong tiến hành công việc một cách độc lập, sáng tạo, mang lại hiệu quả tối ưu. Tài  phải được thể hiện ở trình độ, năng lực tư duy phát triển; có tư duy biện chứng, lôgíc, có tầm hiểu biết sâu rộng và phương pháp làm việc khoa học, hiệu quả, đủ sức cắt nghĩa và tìm được những câu trả lời thuyết phục trước những biến động phức tạp và mau lẹ của thực tiễn. Phải có năng lực trí tuệ phát triển cao, có trình độ ngoại ngữ và tin học để làm chủ công nghệ, nhất là công nghệ thông tin; có năng lực tổ chức thực tiễn, năng lực cạnh tranh khoa học và công nghệ, có khả năng tiếp nhận và quản lý được công nghệ kỹ thuật mới.
Đức và tài là một thể thống nhất, không thể tách rời. Vì vậy, không thể chỉ có đức mà không cần tài, càng không thể coi trọng tài mà xem nhẹ đức. Đức của người cán bộ, đảng viên hiện nay không chỉ như đạo đức công dân mà còn bao hàm cả đạo đức của người lãnh đạo, chỉ huy. Trung thành nhưng phải có bản lĩnh, có tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, không thụ động, bảo thủ trì trệ, né tránh khó khăn, gian khổ. Trung thành nhưng không phải là “gọi dạ, bảo vâng”, cơ hội, không có chủ kiến, không dám đấu tranh, tuỳ thời vì mục đích quyền lực và tiền tài. Tài của người cán bộ hiện nay cần phải được nhìn nhận, đánh giá theo từng loại công việc và vì thế phải tìm chọn cán bộ có tài phù hợp với yêu cầu sử dụng. Nghĩa là khi chọn người tài phải dựa vào thế mạnh và sở trường của họ, vào tài năng thực tế của người cán bộ, đảng viên, không hoàn toàn dựa vào bằng cấp để bố trí công việc, xác định cương vị; có vậy mới giúp cán bộ, đảng viên phát huy được ưu thế, sở trường, dốc tâm lực vào sự nghiệp cách mạng của Đảng, của nhân dân.
Hiện nay, vấn đề đào tạo, sử dụng, đánh giá cán bộ phải được gắn với đức - tài được hiểu một cách khoa học, đầy đủ. Đức và tài của người cán bộ hiện nay cần phải cụ thể hoá bằng tiêu chuẩn chức danh đối với mỗi chức vụ, cương vị công tác, nhất là các tiêu chí mới đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng. Đức và tài của người cán bộ đạt đến trình độ nào thì phải lựa chọn bố trí họ ở cấp và vị trí tương xứng. Nhưng vấn đề có tính nguyên tắc cần khẳng định là, đã là người cán bộ cách mạng thì phải có đủ đức, đủ tài tương xứng với yêu cầu, nhiệm vụ, không thể châm chước bất cứ một tiêu chuẩn nào. Nếu quan điểm đức-tài không rõ ràng, lẫn lộn, chỉ nhìn hình thức bề ngoài mà không thấy bản chất bên trong của con người thì kết quả là sẽ chọn ra những kẻ bất tài, vô dụng, làm hại đến sự nghiệp cách mạng. Thấm nhuần Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa đức và tài của người cán bộ, đảng viên vào xây dựng đội ngũ cán bộ cách mạng trong tình hình hiện nay là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.















TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ RÈN  LUYỆN NHÂN CÁCH ĐẢNG VIÊN CỘNG SẢN

     Báo cáo viên:  Đại tá, PGS.TS. Đinh Hùng Tuấn
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm đến việc giáo dục, rèn luyện phẩm chất đội ngũ đảng viên. Ngay từ năm 1925, bài giảng đầu tiên của Người cho những cán bộ cách mạng trẻ tuổi của Việt Nam là vấn đề “tư cách một người cách mệnh”.

Nghiên cứu những bài nói và viết của Người, chúng ta đều thấy mối quan tâm hàng đầu của Người là xây dựng một đội ngũ cán bộ đảng viên của Đảng thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Sự giác ngộ lý tưởng cộng sản, lòng trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của giai cấp công nhân, suốt đời hy sinh phấn đấu vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản là phẩm chất hàng đầu mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra cho mỗi đảng viên cộng sản.


Người căn dặn mỗi đảng viên "không một phút nào được quên lý tưởng cao cả của mình là phấn đấu cho Tổ quốc hoàn toàn độc lập cho chủ nghĩa xã hội hoàn toàn thắng lợi trên đất nước ta và trên toàn thế giới"; phải biết đặt lợi ích của giai cấp, của dân tộc lên trên lợi ích của cá nhân, luôn vững vàng trước mọi khó khăn, vô luận trong hoàn cảnh nào cũng phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết; nếu khi "lợi ích chung của Đảng mâu thuẫn với lợi ích riêng của cá nhân thì phải quyết hy sinh lợi ích của cá nhân cho lợi ích của Đảng". Người chỉ rõ: suốt đời phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân "là phẩm chất cao quý của người cách mạng. Đó là đạo đức cách mạng. Đó là tính Đảng, tính giai cấp, nó bảo đảm cho sự thắng lợi của đảng, của giai cấp, của nhân dân". Người đánh giá rất cao những đảng viên luôn luôn trung thành với sự nghiệp cách mạng của giai cấp và của dân tộc, suốt đời hy sinh phấn đấu vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, đồng thời phê phán nghiêm khắc những kẻ lợi dụng địa vị để mưu cầu lợi ích cá nhân làm tổn hại đến lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lạo động.

Chủ tịch Hồ chí Mình đòi hỏi mỗi đảng viên cộng sản cùng với phẩm chất cách mạng cao quý còn phải có năng lực, vì có năng lực mới hoàn thành tốt được nhiệm vụ của Đảng giao cho. Người dạy rằng, "Đảng yêu cầu cán bộ và đảng viên chẳng những thạo về chính trị, mà còn phải giỏi về chuyên môn, không thể lãnh đạo chung chung”. Muốn vừa thạo về chính trị, vừa giỏi về chuyên môn, mỗi đảng viên phải ra sức "học tập chủ nghĩa Mác - Lênin và đường lối, chính sách của Đảng, học tập văn hoá, kỹ thuật và nghiệp vụ; không ngừng nâng cao trình độ chính trị, tư tưởng và năng lực công tác của mình”. Bởi vì, có học tập lý luận Mác - Lênin mới củng cố được đạo đức cách mạng, giữ vững lập trường, nâng cao hiểu biết và trình độ chính trị, mới làm tốt được công tác Đảng giao cho mình; “có nắm vững đường lối cách mạng mới hiểu rõ mình phải làm gì và đi theo phương hướng nào để thực hiện mục đích của Đảng trong giai đoạn cách mạng hiện nay”. Người cũng chỉ rõ rằng, muốn học tập có kết quả tốt, phải có thái độ đúng và phương pháp đúng, lý luận phải liên hệ với thực tế, phải “biến những điều đã học thành hành động cách mạng thực tế. Học phải đi đôi với hành, chứ không phải học để nói suông”.

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, một yêu cầu quan trọng về phẩm chất đảng viên là liên hệ mật thiết với quần chúng, phát huy quyền làm chủ tập thể và sức mạnh sáng tạo to lớn của quần chúng. Bởi lẽ, Đảng là đội tiên phong của quần chúng, nhưng Đảng chỉ có sức mạnh nếu giữ vững được mối liên hệ chặt chẽ với quần chúng. Muốn làm cho quần chúng phấn khởi, tin tưởng, người đảng viên "phải nâng cao tinh thần phụ trách trước Đảng và trước quần chúng, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Phải yêu kính nhân dân. Phải thật sự tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân. Tuyệt đối không được lên mặt “quan cách mạng” ra lệnh, ra oai. Phải nắm vững quan điểm giai cấp, đi đúng đường lối quần chúng, thành tâm học hỏi quần chúng, kiên quyết dựa vào quần chúng, giáo dục và phát động quần chúng tiến hành mọi chủ trương, chính sách của Đảng và của Nhà nước. Phải thật thà, ngay thẳng, không được giấu dốt, giấu khuyết điểm, sai lầm. Phải khiêm tốn, gần gũi quần chúng, không được kiêu ngạo...Phải luôn chăm lo đến đời sống của quần chúng. Phải “chí công, vô tư” và có tinh thần “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”. “Người nghiêm khắc phê phán những đảng viên “xa rời quần chúng, không muốn học hỏi quần chúng...ngại làm việc tổ chức, tuyên truyền và giáo dục quần chúng...mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh. Kết quả là quần chúng không tin, không phục, không yêu...” và họ không làm nên trò trống gì.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân cách đảng viên cộng sản luôn nhấn mạnh vấn đề xây dựng ý thức tổ chức và kỷ luật, phục tùng nghiêm chỉnh kỷ luật của Đảng, giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng. Bởi lẽ, sức mạnh vô địch của Đảng là ở tinh thần kỷ luật tự giác, ý thức tổ chức nghiêm. Người chỉ rõ: “Đảng ta tuy nhiều người, nhưng khi tiến đánh thì chỉ như một người. Đó là nhờ có kỷ luật. Kỷ luật của ta là kỷ luật sắt, nghĩa là nghiêm túc và tự giác”. Người đòi hỏi mỗi đảng viên cần phải làm kiểu mẫu về phục tùng kỷ luật, chẳng những kỷ luật của Đảng mà cả kỷ luật của các đoàn thể nhân dân và của cơ quan chính quyền. Trong giáo dục ý thức tổ chức kỷ luật, người yêu cầu mọi đảng viên phải ra sức góp phần xây dựng và giữ vững sự đoàn kết nhất trí trong Đảng. Bởi lẽ, đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của thành công. "Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác". Do đó, tất cả cán bộ, đảng viên, dù ở cương vị khác nhau, làm công tác khác nhau, cũng đều phải đoàn kết nhất trí để làm tròn nhiệm vụ, "giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình"

Chủ tịch Hồ Chí Minh còn chỉ rõ những biện pháp thiết thực để mỗi đảng viên cộng sản phấn đấu, rèn luyện, tu dưỡng nhân cách của mình. Trước hết, mỗi đảng viên phải ra sức tu dưỡng, rèn luyện để nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Nếu để cho chủ nghĩa cá nhân ám ảnh, chi phối, người đảng viên sẽ mất dần tư cách, đi tới tự tước bỏ danh hiệu cao quý của mình. Vì vậy, muốn giữ được tư cách, đảng viên nhất thiết "phải ra sức học tập, tu dưỡng, tự cải tạo để tiến bộ mãi. Nếu không cố gắng để tiến bộ, thì tức là thoái bộ, là lạc hậu...sẽ bị xã hội tiến bộ sa thải".

Việc giữ gìn bản chất, tư cách đảng viên cộng sản cần gắn với xây dựng, củng cố các tổ chức của Đảng, nhất là chi bộ, vì chi bộ “là nền móng của Đảng, chi bộ tốt thì mọi việc sẽ tốt”. Thực tế đã chứng minh rất rõ: ở đâu chi bộ mạnh, cấp ủy mạnh thì đảng viên mạnh, ở đâu chi ủy, chi bộ rệu rã thì ở đó cán bộ, đảng viên tê liệt sức chiến đấu, dễ trở thành hư hỏng, thoái hoá. Cho nên, trong xây dựng tổ chức đảng, xây dựng chi bộ, các cấp ủy đảng phải thực hiện dân chủ nội bộ, quan tâm đến đời sống của cán bộ, đảng viên, kịp thời giúp họ giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong cuộc sống và công tác. Song, phải nghiêm khắc đối với những cán bộ, đảng viên phạm sai lầm, khuyết điểm; tẩy bỏ những phần tử hủ hoá nhằm giữ gìn nghiêm kỷ luật từ trên xuống dưới.

Cùng với việc giữ nghiêm kỷ luật, phải "mở rộng phong trào phê bình và tự phê bình ở trong Đảng, ở các cơ quan, các đoàn thể, trên các báo chí cho đến nhân dân. Phê bình và tự phê bình phải thường xuyên, thiết thực, dân chủ, từ trên xuống và từ dưới lên". Người còn vạch rõ: “Chúng ta không sợ sai lầm, chỉ sợ phạm sai lầm mà không quyết tâm sửa chữa. Muốn sửa chữa cho tốt thì phải sẵn sàng nghe quần chúng phê bình và thật thà tự phê bình". Đồng thời, Người yêu cầu phải tăng cường công tác kiểm tra trong Đảng nhằm "thúc đẩy và giáo dục đảng viên làm trọn nhiệm vụ...,làm gương mẫu cho nhân dân" và xây dựng Đảng vững mạnh, nâng cao sức chiến đấu của Đảng.

Trong giai đoạn hiện nay, khi cả nước đứng trước những vận hội mới và thách thức mới, tiếp tục sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hơn bao giờ hết chúng ta phải giương cao ngọn cờ lãnh đạo của Đảng, xây dựng các tổ chức chi bộ vững mạnh, rèn luyện tư cách đảng viên với phẩm chất, năng lực ngang tầm nhiệm vụ. Việc nghiên cứu, quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh trong công tác xây dựng Đảng nói chung, trong rèn luyện phẩm chất, tư cách đảng viên cộng sản nói riêng có ý nghĩa vô cùng quan trọng nhằm củng cố tổ chức đảng, xây dựng Đảng vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, thực sự xứng đáng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.
















TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VAI TRÒ CỦA
VĂN HOÁ
Báo cáo viên: Th.s Ngô Thị Vân
 Khoa Xây dựng Đảng

Trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng về văn hóa chiếm một vị trí quan trọng. Nó là sự chắt lọc, tổng hợp và kết tinh những giá trị văn hóa của Việt Nam với văn hóa phương Đông và Phương Tây, là sự kết hợp của truyền thống và hiện đại, của dân tộc và quốc tế mà cốt lõi là sự kết hợp chủ nghĩa Mác – Lênin với tinh hoa, bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam. Theo Hồ Chí Minh thì văn hóa có vai trò to lớn trong đời sống của mỗi quốc gia dân tộc.
Trước hết, văn hóa là mục tiêu, động lực của cách mạng. Văn hóa là kiến trúc thượng tầng của xã hội, vì vậy việc lật đổ chế độ xã hội cũ, xã hội thực dân phong kiến và xây dựng xã hội mới – xã hội xã hội chủ nghĩa (XHCN) tốt đẹp là mục tiêu của văn hóa. Cách mạng XHCN ở nước ta, theo Hồ Chí Minh là phải “thay đổi triệt để những nếp sống, thói quen, ý nghĩ và thành kiến có gốc rễ sâu xa hàng ngàn năm… Chúng ta phải biến một nước dốt nát, cực khổ thành một nước văn hóa cao và đời sống tươi vui hạnh phúc”.
Khi chỉ rõ “văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”, Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh vai trò động lực của văn hóa. Theo Người: tiến lên CNXH phải có cả vật chất lẫn tinh thần, song con người là quyết định; để đưa đất nước đi lên, không thể không đặt trọng tâm vào kinh tế, nhưng chủ thể của hoạt động kinh tế lại chính là con người và thước đo trình độ con người lại chính là văn hóa. Thứ hai, Văn hóa là một mặt hợp thành toàn bộ đời sống xã hội. Người nhấn mạnh: “trong công cuộc kiến thiết nước nhà có bốn vấn đề chú ý đến; cùng phải coi trọng ngang nhau: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội”. Vì thế, văn hóa không thể đứng ngoài “mà phải ở trong kinh tế và chính trị” và ngược lại kinh tế, chính trị cũng nằm “trong văn hóa”.
Tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với phát triển văn hóa và giải quyết những vấn đề xã hội; nếu chỉ coi tăng trưởng kinh tế là mục tiêu duy nhất thì chẳng những môi trường văn hóa – xã hội bị hủy hoại mà mục tiêu kinh tế cũng không đạt được.
Thứ ba, Văn hóa là linh hồn, bản sắc dân tộc. Hồ Chí Minh cho rằng, văn hóa không thể tách rời với quốc gia dân tộc, văn hóa trước hết là văn hóa của một dân tộc, nó mang tâm hồn, diện mạo dân tộc, đó chính là bản sắc dân tộc của văn hóa. Từ đó, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Lấy kinh nghiệm tốt của văn hóa xưa và văn hóa nay trau dồi cho văn hóa Việt Nam thật có tinh thần thuần túy Việt Nam”, “cần phải mở rộng kiến thức của mình về văn hóa thế giới”, “Phương Đông hay Phương Tây có cái gì hay, cái gì tốt ta phải học lấy”; song điều cốt yếu là “đừng biến ta thành kẻ bắt chước”, và “đừng chịu vay mà không trả” – “cái gốc của văn hóa mới là dân tộc”. Học tập văn hóa hiện đại của các nước phải phù hợp với điều kiện Việt Nam, kết hợp với văn hóa Việt Nam tạo ra những giá trị mới đóng góp vào việc phát triển văn hóa nhân loại.
Ngày nay, toàn cầu hóa là một xu thế khách quan mà mọi dân tộc, dù muốn hay không cũng đều chịu sự tác động của nó.
Toàn cầu hóa đang đưa lối sống của nhiều nước trên thế giới mà điên hình nhất là lối sống của các nước Phương Tây vào nước ta. Lối sống ấy, tác động tích cực đến việc làm thay đổi lối sống khép kín, cam chịu, phụ thuộc, ỷ lại vốn có của người Việt Nam sang một lối sống cởi mở, năng động, tự lập, dám chịu trách nhiệm, phù hợp với xu thế thời đại.
Nhưng bên cạnh đó, trong lúc chúng ta miệt mài tiếp thu lối sống đó một cách thiếu định hướng mà dẫn đến việc xa rời lối sống theo chuẩn mực đạo đức dân tộc. Các công nghệ thông tin hiện đại đang truyền bá những lối sống sùng bái vật chất, cá nhân, vị kỷ, thực dụng, đua đòi, ăn chơi xa hoa, lãng phí, sống trụy lạc, thác loạn, ưa dùng bạo lực… Lối sống đó đang tác động mạnh mẽ đến một bộ phận nhân dân, trong đó có cả tầng lớp cán bộ, đảng viên và nhất là lớp trẻ - những người đang xây và những người sẽ xây dựng đất nước. Nhiều cán bộ đảng viên nịnh trên, mắng dưới, đánh trống bỏ dùi, chỉ biết bo bo giữ lấy những lợi ích của mình, vơ vét cho đầy túi, thỏa mãn cuộc sống cá nhân. Trong đó có rất nhiều những người cán bộ mất hết cả nhân tính để thỏa mãn dục vọng, và nấc thang danh vọng của mình đã đưa cả học sinh của mình làm “vật hiến tế” cấp trên, cặp bồ, chơi gái và coi đó là chuyện đương thời… Đặc biệt giới trẻ hiện nay, nhiều học sinh, sinh viên bỏ học ký nợ để “sống chung” với games, net; theo số liệu thống kê có 30,9% sinh viên đã vào các trang websex, và hiện tượng “sống thử” cũng đang tồn tại khá phổ biến trong đời sống sinh viên… Đó chính là biểu hiện của sự xuống cấp về lối sống của một bộ phận thanh, thiếu niên Việt Nam, là biểu hiện của quan niệm “lệch chuẩn”, đối lập với quan niệm văn hóa truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa từ lâu đã trở thành kim chỉ nam của Đảng trong sự nghiệp xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Trong tình trạng “báo động đỏ” về lối sống của một số cán bộ, đảng viên và thanh niên hiện nay, chúng ta cần tăng cường vận dụng tư tưởng của Người vào việc giáo dục nhân cách cho họ. Tóm lại: Lối sống là tiêu chí đầu tiên, tiêu chí tổng hợp nhất, thể hiện chất lượng văn hoá và trí tuệ của một con người. Thực hiện tốt lời dạy của Người, chắc chắn chúng ta sẽ tạo dựng được một lối sống lành mạnh, xây dựng được môi trường văn hóa tiến bộ; góp phần vào sự phát triển chung của đất nước. Trong xu thế đối thoại giữa các nền văn hóa trên thế giới hiện nay, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa mãi mãi là ánh sáng soi đường cho dân tộc ta trong quá trình xây dựng “nền tảng tinh thần của xã hội”.






VẤN ĐỀ VĂN HOÁ TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHÁ TRIỂN ĐẤT NƯỚC

Báo cáo viên: Tạ Ngọc Tấn
GS, TS, Ủy viên Trung ương Đảng
Hơn nửa thế kỷ trước, trong một số ghi chép ở trang cuối cùng của tập thơ “Nhật ký trong tù” lãnh tụ Hồ Chí Minh viết “ý nghĩa của văn hóa: Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn hóa, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng, toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”. Từ nhận thức ấy, Hồ Chí Minh đưa ra khái niệm về văn hóa: “Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với những nhu cầu của đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”(1). Có thể nói, đây là một cách tiếp cận văn hóa từ ý nghĩa khái quát, đặc trưng nhất của nó, một định nghĩa cô đọng và chính xác về văn hóa.
Quan niệm của Hồ Chí Minh về văn hóa là xuất phát từ cách tiếp cận mác-xít và rất gần gũi với nhận thức hiện đại, khi coi văn hóa không chỉ đơn thuần là đời sống tinh thần của con người - xã hội (theo cách phân khúc rời rạc), mà từ trong bản chất của mình, nó chính là linh hồn, là hệ thần kinh của một xã hội, là sức mạnh trường tồn của cả dân tộc, là sức sống vươn lên của thời đại. Văn hóa không phải là toàn bộ đời sống con người xã hội, mà là phần cốt tử, là tinh hoa được chưng cất, kết tụ nên cái bản chất, bản sắc, tính cách của dân tộc, của thời đại. Nó được thăng hoa từ hơi thở cuộc sống, từ năng lực, trình độ và phương thức sống của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng. Và đến lượt mình, văn hóa hiện diện trong mọi hoạt động từ suy tư đến hành động thực tế, từ hoạt động cá nhân đến những vận động xã hội, từ hoạt động vật chất đến những sáng tạo tinh thần những phát minh, sáng chế, tạo ra những giá trị mới của sản xuất vật chất, khoa học - kỹ thuật - công nghệ, văn học - nghệ thuật.
Năm 1970, nghĩa là gần 30 năm sau thời điểm Hồ Chí Minh viết những lời này, tại Hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hóa họp ở Vơ-ni-dơ (I-ta-li-a), UNESCO đã thừa nhận khái niệm do Ph.Mây-ơ (F. Mayor) - nguyên Tổng Giám đốc của tổ chức này đưa ra là khái niệm chung, chính thức của cộng đồng quốc tế về văn hóa: “Văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối sống và lao động”. Nếu so sánh, có thể thấy, khái niệm này của UNESCO về văn hóa có nội dung cơ bản như nội dung khái niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cái khác nhau của hai khái niệm này là ở chỗ, khái niệm của ông Ph.Mây-ơ chỉ nhấn mạnh đến tính đặc thù của các giá trị văn hóa, tức là “cái làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác”. Còn trong khái niệm của Hồ Chí Minh về văn hóa, văn hóa không chỉ là cái tạo nên tính đặc thù của dân tộc, mà còn là những giá trị nhằm thích ứng với những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”. “Nhu cầu đời sống” của con người luôn phát triển cũng như “đòi hỏi của sự sinh tồn” của xã hội loài người luôn luôn nâng cao, hoàn thiện. Cũng có nghĩa, nói đến văn hóa là nói đến giá trị, nhưng là những giá trị kết tinh lao động sáng tạo của con người trên các bình diện hoạt động nhằm cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội và cải tạo chính bản thân mình, hướng tới chân, thiện, mỹ, tức là hướng tới sự tốt đẹp, nhân văn và không ngừng hoàn thiện của nhân loại. Nói đến văn hóa không chỉ là nói đến những giá trị tĩnh, kết tinh ngưng đọng, mà còn là sự vận động, phát triển và hoàn thiện những giá trị ấy trong thời gian và không gian.
Từ nhận thức khái quát về văn hóa, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra một cách cụ thể về nội dung, yêu cầu xây dựng nền văn hóa dân tộc. Người viết tiếp: “Năm điểm lớn xây dựng nền văn hóa dân tộc.
1. Xây dựng tâm lý: tinh thần độc lập tự cường.
2. Xây dựng luận lý: biết hy sinh mình, làm lợi cho quần chúng.
3. Xây dựng xã hội: mọi sự nghiệp có liên quan đến phúc lợi của nhân dân trong xã hội.
4. Xây dựng chính trị: dân quyền.
5. Xây dựng kinh tế”
Việc chỉ ra những điểm lớn trên chứng tỏ rằng, khi phân định nội hàm khái niệm văn hóa, Hồ Chí Minh nhận thức rất rõ rằng, xây dựng nền văn hóa dân tộc phải đặt trong mối quan hệ qua lại với các mặt khác của đời sống dân tộc như: “tâm lý”, “luận lý”, “xã hội”, “chính trị”, “kinh tế”. Xây dựng văn hóa phải gắn liền với từng bình diện ấy, làm cho văn hóa trở thành phẩm chất tốt đẹp, đặc trưng riêng có và ý nghĩa tích cực của những lĩnh vực đời sống đó.
Tóm lại, có thể nói rằng, ngay từ năm 1943, quan điểm về văn hóa và nền văn hóa dân tộc của Hồ Chí Minh đã tỏ rõ tính hiện đại. Quan điểm này thể hiện tầm chiến lược thiên tài của Người trong việc xác định vai trò, vị trí và những tiêu chí cơ bản nhằm định hướng phát triển nền văn hóa Việt Nam làm cơ sở cho sự phát triển toàn diện của xã hội Việt Nam tương lai.
Hồ Chí Minh quan niệm, xây dựng về “tâm lý” là xây dựng “Tinh thần độc lập tự cường”, cũng có nghĩa là sự giáo dục, định hướng để hun đúc nên tình yêu đất nước, niềm tự hào dân tộc, ý chí tự chủ, tự cường. Đó chính là cơ sở nền tảng bảo đảm cho sự đoàn kết, đồng thuận dân tộc, điều kiện để tạo nên sức mạnh bảo vệ độc lập dân tộc, chống lại mọi sự xâm lược, phá hoại từ bên ngoài. Lịch sử tồn tại, phát triển của dân tộc Việt Nam đã là minh chứng hiển nhiên về bài học xương máu đó. Đối với các dân tộc khác trên thế giới, muốn tồn tại, vượt qua những nguy cơ xâm lược, đồng hóa hay chèn ép, xung đột để phát triển đều phải khẳng định một sức mạnh tinh thần to lớn từ độc lập tự cường. Chỉ có điều, biểu hiện của tinh thần độc lập tự cường ấy ở mỗi nước, tùy theo những điều kiện đặc điểm khác nhau mà thể hiện một cách sinh động, đa dạng. Đó cũng chính là một đặc tính văn hóa, một “cái làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác”.
Có thể nói, quan điểm xây dựng văn hóa về “tâm lý” với nội dung là “tinh thần độc lập tự cường” là xuyên suốt và nhất quán trong nhận thức của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trên hành trình tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã tìm đến chủ nghĩa Mác - Lê-nin và Người nhận ra rằng, đó chính là con đường giải phóng dân tộc khỏi áp bức, lầm than. Sau này, cho dù trong những thời điểm thử thách khắc nghiệt nhất đối với quan điểm chính trị của mình hay trong thực tiễn cuộc chiến đấu chống kẻ thù xâm lược bảo vệ Tổ quốc cũng như trong công cuộc xây dựng đất nước, Hồ Chí Minh luôn kiên định quan điểm về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Người khẳng định: Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”. Và chân lý nổi tiếng mà Hồ Chí Minh đã tổng kết từ thực tiễn lịch sử của thế giới và từ chính những bài học xương máu của lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam là “không có gì quý hơn độc lập tự do”.
Càng nhận thức sâu sắc về ý nghĩa của vấn đề dân tộc trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, Hồ Chí Minh càng thấu hiểu hơn ý nghĩa của chủ nghĩa quốc tế vô sản. Chính vì thế, Người đã khẳng định, một trong số bài học lớn của Cách mạng Tháng Mười Nga là: “Kết hợp chặt chẽ lòng yêu nước với tinh thần quốc tế vô sản trong cách mạng giải phóng dân tộc cũng như trong cách mạng xã hội chủ nghĩa. Trong thời đại ngày nay, cách mạng giải phóng dân tộc là một bộ phận khăng khít của cách mạng vô sản trong phạm vi toàn thế giới; cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn”.
Cuộc đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu hiện sinh động, là tấm gương sáng rõ nhất về sự kết hợp hài hòa giữa những giá trị dân tộc và chủ nghĩa xã hội, giữa lòng yêu nước nồng nàn và chủ nghĩa quốc tế trong sáng. Người đã đi khắp năm châu, bốn biển, hoạt động như một chiến sỹ quốc tế nhưng tình yêu nước, thương nòi cùng những bản sắc con người Việt Nam của Người không những không phai nhạt đi mà càng sâu sắc, đậm đà hơn lên. Trong khi tận tâm, tận lực vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, Người cũng ý thức rất sâu sắc về chủ nghĩa quốc tế vô sản, về sự đoàn kết của phong trào công nhân, cộng sản thế giới và đã xử lý vô cùng khéo léo, có trách nhiệm mối quan hệ giữa các đảng cộng sản, các quốc gia và dân tộc khác trên thế giới.
Từ nhận thức về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và thực tiễn cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam đã rút ra bài học sâu sắc về quan hệ gắn bó giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, coi đó như một trong những điều kiện hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Nhưng trở lại yêu cầu về xây dựng văn hóa theo tư tưởng Hồ Chí Minh thì vấn đề đặt ra là phải giáo dục, quán triệt nhận thức đó, bài học đó thành tư tưởng, tình cảm, thành hành vi, lối sống của mỗi con người, thành một giá trị xã hội của Việt Nam. Đó cũng chính là một kết quả, hướng tới của sự phát triển con người Việt Nam, đồng thời là một điều kiện sống còn bảo đảm cho sự thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Xây dựng văn hóa về mặt “luận lý”, theo cách hiểu của Hồ Chí Minh, chính là sự hình thành và không ngừng hoàn thiện về tư tưởng, lối sống mà nội dung trung tâm, quan trọng nhất của nó là “biết hy sinh làm lợi cho quần chúng”. Đó cũng chính là nội dung quan trọng nhất của những chuẩn mực đạo đức xã hội mà con người chúng ta nói chung hay mỗi cán bộ cách mạng nói riêng cần hướng tới. Tiêu chuẩn con người cán bộ “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” chính là sự phát triển đầy đủ hơn từ tiêu chí xây dựng văn hóa này. Đây cũng chính là yêu cầu sống còn về xây dựng chủ nghĩa xã hội, bởi vì như sau này Hồ Chí Minh đã nhắc lại rất nhiều lần rằng, “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa” mà yêu cầu đầu tiên, quyết định của con người xã hội chủ nghĩa phải “đi đến hoàn toàn không có chủ nghĩa cá nhân". Trong bài viết “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, nhân dịp kỷ niệm 39 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, ngày 3-2-1969, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa... Cũng do cá nhân chủ nghĩa mà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật... Tóm lại, do cá nhân chủ nghĩa mà phạm nhiều sai lầm”. Chính vì thế, Người yêu cầu: “Mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết. Phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và tính kỷ luật” .
Nói cách khác, xây dựng văn hóa về “luận lý” chính là xây dựng văn hóa sống của con người. Trong các chế độ xã hội dựa trên nền tảng của chế độ tư hữu thì chính quan hệ bóc lột, bất công bằng giữa người với người tạo thành những yếu tố, điều kiện một cách tự nhiên, thúc đẩy con người đi tới chủ nghĩa cá nhân, hình thành lối sống vụ lợi, ích kỷ. Sự thắng thế của quan hệ nhân đạo, của chủ nghĩa nhân văn, của sự hy sinh, xả thân cho lợi ích cộng đồng, đồng loại chỉ có ý nghĩa nhất thời, gắn với các giá trị yêu nước, dân tộc và về tổng thể, luôn chỉ giữ thế yếu so với sự vụ lợi, với chủ nghĩa cá nhân.
Nếu chủ nghĩa xã hội là một cuộc cách mạng thì ý nghĩa cách mạng sâu sắc nhất, cũng là gay gắt nhất chính là sự biến đổi trong văn hóa sống của con người, là sự giải thoát con người khỏi chủ nghĩa cá nhân để hình thành và dần dần hoàn thiện văn hóa sống nhân văn cao cả, đặt lợi ích của dân tộc, đất nước và của chế độ lên trên hết, đặt lợi ích cá nhân trong sự hài hòa với lợi ích của tập thể. Nói như Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, phải có con người xã hội chủ nghĩa và có tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Phải đánh bạt những tư tưởng công thần, địa vị, danh lợi của chủ nghĩa cá nhân, làm cho tư tưởng của chủ nghĩa tập thể thắng lợi, tức là phát huy tinh thần cần kiệm xây dựng của nghĩa xã hội, bảo vệ của công, chống tham ô, lãng phí”. Đó cũng chính là cốt lõi văn hóa của con người mà chủ nghĩa xã hội hướng tới, là điều kiện, cơ sở cho sự phát triển của chế độ xã hội chủ nghĩa. ý nghĩa cách mạng vô cùng sâu sắc của sự biến đổi này chính là do sự phức tạp, gay cấn trong cuộc đấu tranh tư tưởng của mỗi cá nhân con người cũng như cả xã hội để vượt qua những tập quán sống đã hình thành, khắc sâu vào lối sống xã hội con người trong suốt chiều dài lịch sử đã qua, để hình thành và dần hoàn thiện một thang giá trị mới mẻ trong mỗi con người và trong cả cộng đồng xã hội. Đến lượt nó, chính sự hình thành văn hóa sống trở thành tiêu chí để đánh giá những kết quả của cách mạng, thành điều kiện của sự phát triển của chế độ xã hội chủ nghĩa.
Bàn đến nội dung xây dựng văn hóa về “xã hội”, Hồ Chí Minh coi đó là Một sự nghiệp có liên quan đến phúc lợi của nhân dân trong xã hội”. Ở bình diện này, Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến cả “một sự nghiệp”. Điều ấy có thể hiểu là việc phấn đấu cho phúc lợi của nhân dân là yêu cầu quyết định, thể hiện tính bản chất của chế độ. Nó phải được phản ánh trong mục tiêu, trong mô thức xây dựng, trong cơ chế vận hành của cả chế độ. Nó đồng thời phải trở thành một thể hiện tất yếu xã hội trong mỗi thành viên, mỗi bộ phận hợp thành của chế độ xã hội. Đây cũng chính là một nhận thức nhất quán, chỉ đạo hành động trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Năm 1946, ngay sau Cách mạng Tháng Tám, Người khẳng định: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Khi nói về chủ nghĩa xã hội, nhiều lần Hồ Chí Minh đã đặt “phúc lợi của nhân dân” như là ý nghĩa quan trọng nhất của khái niệm này. “Chủ nghĩa xã hội là mọi người dân được áo ấm cơm no, nhà ở tử tế, được học hành”; “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho nhân dân đủ ăn, đủ mặc, ngày càng sung sướng, ai nấy được đi học, ốm đau có thuốc, già không lao động được thì nghỉ”... Chủ tịch Hồ Chí Minh nhìn nhận “phúc lợi” không đơn thuần là những giá trị vất chất, đương nhiên đó là những giá trị đầu tiên không thể thiếu. Đó còn là những yêu cầu về “tư do”, “dân chủ”, “học hành”, “nghỉ ngơi”, những điều kiện cần và đủ cho con người phát triển một cách toàn diện.
Từ nhận thức về văn hóa trong nội dung xây dựng về xã hội, càng thấy rõ ý nghĩa nhân văn như là cốt cách, là bản chất, quán xuyến trong tất cả các bình diện tư tưởng của Hồ Chí Minh. Xây dựng văn hóa về nội dung xã hội cũng có nghĩa là mang lại cho xã hội ý nghĩa nhân văn cao cả ấy. Điều ấy cũng có nghĩa không đơn thuần là đạt được những kết quả về phúc lợi xã hội, mà hơn thế, bao gồm cả cách thức đạt được những phúc lợi ấy như thế nào, sử dụng những phúc lợi ấy ra sao, những phúc lợi ấy mang lại gì cho sự phát triển tốt đẹp của con người. Sinh thời, khi nói đến vấn đề phân phối hàng hóa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng”. Ở đây, phương thức phân phối “công bằng” được đánh giá về tầm quan trọng cao hơn số lượng nhiều hay ít sản phẩm phân phối. Đương nhiên, nói như thế không có nghĩa là số lượng sản phẩm không quan trọng. Nhưng trong hoàn cảnh cụ thể, rõ ràng cách phân phối sẽ quyết định mối quan hệ và thái độ của những người được tham gia phân phối. Đó cũng chính là một biểu hiện cụ thể của ý nghĩa văn hóa.
Đất nước ta còn không ít khó khăn, nền kinh tế chưa phát triển đến mức đáp ứng đầy đủ mọi nhu cầu phúc lợi phong phú của nhân dân. Chính vì thế, việc thúc đẩy phát triển kinh tế, làm giàu, không ngừng tăng thêm phúc lợi cho nhân dân là một đòi hỏi khách quan, cấp thiết. Nhưng điều đó không cho phép chúng ta quên đi việc giáo dục về văn hóa trong phân phối, hưởng thụ các nguồn phúc lợi xã hội. Bởi chính văn hóa sẽ tạo nên chất kết dính các mối quan hệ xã hội, quy tụ và nhân lên những tiềm lực của xã hội. Việc tạo ra những của cải và mang lại những phúc lợi cho con người đã là khó khăn, đòi hỏi sự phát triển về lực lượng sản xuất, không ngừng nâng cao năng suất lao động, giảm thiểu tiêu hao nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu. Nhưng việc phân phối những của cải vật chất và phúc lợi ấy lại mang ý nghĩa văn hóa, mang triết lý xã hội đặc trưng, đòi hỏi một quá trình giáo dục, trải nghiệm và hoàn thiện thì càng phức tạp, khó khăn hơn. Điều ấy lý giải tại sao ngày nay, không phải cứ ở những nước giàu có nhất thì người dân cảm nhận cuộc sống hạnh phúc nhất và xã hội hòa hợp nhất.
Sự chia sẻ, tính tiết kiệm, sự công bằng, thái độ vô tư, ý thức cộng đồng, những điều ấy ở nghĩa sâu xa của nó, chính là sự biểu hiện sâu sắc của giá trị văn hóa, sự kết tinh văn hóa trong xã hội. Nó trở thành nền tảng cho việc sử dụng của cải, phúc lợi xã hội hợp lý nhất, mang lại nhiều hạnh phúc nhất cho con người. Ngày nay, đó cũng là một đòi hỏi của sự phát triển bền vững khi nguồn tài nguyên thiên nhiên của trái đất càng ngày càng cạn kiệt và môi trường sống của con người đang bị phá hoại nghiêm trọng. Từ nhận thức ấy càng thấy ý nghĩa thực tiễn to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề xây dựng nền tảng văn hóa xã hội liên quan đến phúc lợi của nhân dân.
Về nội dung xây dựng chính trị”, theo Hồ Chí Minh, đó chính là “dân quyền”. Văn hóa chính trị chính là mang lại và bảo đảm được dân quyền”. Ở đây, dân quyền không chỉ là những quyền trên các lĩnh vực đời sống mà người dân được hưởng ngày càng đầy đủ, càng có ý nghĩa tốt đẹp cho sự phát triển toàn diện, mà còn là những quyền lợi - lợi ích mà xã hội mang lại cho nhân dân ngày càng đầy đủ hơn, ngày càng giúp cho cuộc sống của người dân hạnh phúc hơn, tiến bộ hơn. Có thể nói, toàn bộ lịch sử phát triển của xã hội loài người cũng chính là lịch sử đấu tranh, phấn đấu để mang lại cho người dân nhiều dân quyền hơn, nhiều tự do hơn. Chủ nghĩa xã hội về bản chất của nó, là chế độ xã hội bảo đảm đầy đủ nhất dân quyền”, bởi vì đó là xã hội của dân, do dân và vì dân. Nhưng việc xây dựng một chế độ như thế không thể ngày một, ngày hai, mà là cả một quá trình phức tạp với không ít khó khăn. Bởi vì, dân quyền có được không chỉ do cơ chế quyền lực, chế độ chính trị, mà còn phụ thuộc vào sự tự giác, trình độ nhận thức của người dân và những điều kiện của môi trường xã hội.
Có nghĩa là, hiểu dân quyền theo nhận thức văn hóa không chỉ là những quyền và lợi mà nền chính trị mang lại cho người dân, đó còn là cách mà những quyền đó được mang lại như thế nào và ý nghĩa của những quyền và lợi ấy ra sao, có ý nghĩa tốt đẹp đến đâu đối với xã hội. Văn hóa chính là nền tảng để phát triển, mở rộng dân quyền, đồng thời dân quyền cũng tác động trở lại, thúc đẩy sự phát triển các giá trị văn hóa của xã hội.
Trong thiết chế xã hội nói chung, một mặt, vấn đề dân quyền gắn bó chặt chẽ hữu cơ với vấn đề nhà nước, là hệ quả của nhà nước, phản ánh tính chất, đặc điểm, trình độ phát triển của nhà nước; mặt khác, dân quyền không thể tách rời những điều kiện khách quan của tồn tại xã hội như: trình độ nhận thức của người dân, những tập quán và đặc điểm văn hóa của cộng đồng, các cơ sở kinh tế, kỹ thuật của xã hội. Trong mối quan hệ thứ hai, các yếu tố quy định hay ảnh hưởng đến dân quyền là những điều kiện lịch sử, cụ thể, gắn liền với tính chất, trình độ phát triển của từng quốc gia, dân tộc. Đối với mối quan hệ thứ nhất, vấn đề thực chất chính là nội dung, nhiệm vụ của việc xây dựng nhà nước. Khẳng định tính chất nhà nước ta là nhà nước xã hội chủ nghĩa, nhà nước của dân, do dân và vì dân thì đương nhiên nó phải thể hiện ý chí của dân, bảo vệ các quyền và lợi ích của dân, phục vụ cho các nhu cầu xã hội của dân.
Khi nói về tổ chức Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Để thực hiện tốt nhiệm vụ cách mạng, Nhà nước ta phải phát triển quyền dân chủ và sinh hoạt chính trị của toàn dân, để phát huy tính tích cực và sức sáng tạo của nhân dân, làm cho mọi người công dân Việt Nam thực sự tham gia quản lý công việc Nhà nước, ra sức xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà”. Ở đây, “quyền dân chủ” gắn với “sinh hoạt chính trị của toàn dân” là yêu cầu đặt ra với Nhà nước như một đòi hỏi khách quan về quyền công dân. Nhưng đến lượt nó, “quyền dân chủ” và “sinh hoạt chính trị của toàn dân” lại trở thành điều kiện cho Nhà nước hoàn thành nhiệm vụ của mình với việc làm cho nhân dân tham gia tích cực giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn của Nhà nước. Từ bình diện văn hóa, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, sự phát triển dân quyền vừa có ý nghĩa như đòi hỏi, điều kiện cho sự phát triển văn hóa, vừa thể hiện mục đích phục vụ cho con người công dân và sự phát triển toàn diện con người.
Hơn thế nữa, có thể nhận thấy rất rõ rằng, quán xuyến trong toàn bộ tư tưởng cũng như trong hoạt động thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh là chủ nghĩa trọng dân, ý thức tôn trọng, yêu thương, bảo vệ nhân dân. Đó cũng chính là lý tưởng, hoài bão, là mục đích sống của Hồ Chí Minh - Người đã cống hiến cả cuộc đời mình cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng nhân dân khỏi áp bức, bóc lột, mang lại hạnh phúc cho nhân dân. Đó cũng chính là cốt lõi văn hóa sống Hồ Chí Minh. Vấn đề dân quyền chỉ là một bình diện của tư tưởng ấy, một điều kiện để thực hiện mục đích phục vụ nhân dân, một thể hiện của văn hóa sống nhân văn cao cả của lãnh tụ Hồ Chí Minh.
Trở lại mối quan hệ thứ hai, tức là xem xét các yếu tố quy định hay ảnh hưởng đến dân quyền như: điều kiện lịch sử, cụ thể, gắn liền với tính chất, trình độ phát triển của từng quốc gia, dân tộc. Nói cách khác, nội dung, mức độ, hình thức và khả năng thực thi dân quyền không thể tách rời các điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa và truyền thống của các cộng đồng người, các dân tộc trong các thời đoạn lịch sử. Điều ấy cũng có nghĩa là, cùng với việc Nhà nước mang lại ngày càng nhiều quyền cho nhân dân thì cũng đồng thời phải tiến hành giáo dục, nâng cao nhận thức, không ngừng cải thiện môi trường xã hội cho nhân dân. Văn hóa chính là một yếu tố tạo nên môi trường xã hội. Vì thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định rằng, “trình độ văn hóa của cán bộ và nhân dân còn thấp, do đó, còn hạn chế nhiều kết quả trong công tác, trong sản xuất” và nhiệm vụ đặt ra là “nâng cao trình độ văn hóa của nhân dân”. Khi trình độ văn hóa của nhân dân được nâng lên thì những điều kiện cho dân quyền cũng được cải thiện. Việc này đồng nghĩa với việc không được áp đặt vô điều kiện những nội dung dân quyền mà không tính đến những dị biệt về trình độ, tính chất và năng lực của những chủ thể khác nhau.
Đối với nội dung xây dựng kinh tế”, Hồ Chí Minh không đặt ra tiêu chí định hướng như những lĩnh vực khác. Nhưng theo cách đặt vấn đề từ những điểm trước đó có thể thấy, văn hóa được Hồ Chí Minh coi là mục tiêu của xây dựng kinh tế, đồng thời văn hóa cũng là nội lực mạnh mẽ của việc xây dựng nền kinh tế đó. Truyền thống văn hóa, sức mạnh văn hóa trong nguồn nhân lực, trong trình độ tổ chức lao động sản xuất, quản lý kinh tế xã hội, văn hóa trong kinh doanh, trong quan hệ doanh nghiệp là động lực bên trong của quá trình kinh tế, của sự phát triển xã hội và con người. Một nền kinh tế phát triển tốt đẹp, bền vững chỉ khi nó gắn bó với những giá trị văn hóa, kết tinh trong nó những giá trị văn hóa, làm giàu có thêm và thúc đẩy sự phát triển của những giá trị văn hóa của dân tộc, của đất nước. ở một khía cạnh nào đó, có thể thấy tư tưởng phát triển các lĩnh vực văn hóa của Hồ Chí Minh rất gần gũi với quan điểm phát triển bền vững hiện đại.
Từ năm 1953, trong bài Thường thức chính trị”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Trong chế độ dân chủ mới, có năm loại kinh tế khác nhau:
A - Kinh tế quốc doanh (thuộc chủ nghĩa xã hội, vì nó là của chung của nhân dân).
B - Các hợp tác xã (nó là nửa chủ nghĩa xã hội, và sẽ tiến đến chủ nghĩa xã hội).
C - Kinh tế của cá nhân, nông dân và thủ công nghệ (có thể tiến dần vào hợp tác xã, tức là nửa chủ nghĩa xã hội).
D - Tư bản của tư nhân.
E - Tư bản của Nhà nước (như Nhà nước hùn vốn với tư bản tư nhân để kinh doanh)”(13).
Như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhìn nhận từ rất sớm mô hình nền kinh tế đa thành phần sở hữu trong chế độ của chúng ta. Sự đa thành phần trong nền kinh tế tất yếu kéo theo những yếu tố văn hóa vốn có, vốn đang tồn tại cùng những mối quan hệ xã hội giữa các thành phần kinh tế đó. Vậy thì cái gì làm nên sự phân biệt giữa chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa với một chế độ xã hội phát triển kinh tế đa thành phần khác? Phải chăng đó chính là yêu cầu, đòi hỏi về xây dựng văn hóa, hướng con người tới một đời sống văn hóa cao thượng, nhân văn, một lối sống theo chủ nghĩa tập thể ở ý nghĩa tích cực của khái niệm đó.
Mục tiêu lý tưởng của chủ nghĩa xã hội là giải phóng con người, mang lại cho con người cuộc sống tự do, sự phát triển toàn diện và vì thế mà mang lại cho con người nhiều hạnh phúc nhất. Đó là một mục tiêu cao cả, nhân văn nhất. Nhưng: “Muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải phát triển kinh tế và văn hóa. Vì sao không nói phát triển văn hóa và kinh tế? Tục ngữ ta có câu: Có thực mới vực được đạo; vì thế kinh tế phải đi trước. Nhưng phát triển để làm gì? Phát triển kinh tế và văn hóa để nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân ta”(14). Nói cách khác, cần phải phát triển kinh tế để bảo đảm “cơm ăn”, đời sống vật chất cho nhân dân. Nhưng nền kinh tế ấy không tách rời các nội dung, ý nghĩa của việc xây dựng văn hóa và nói cho cùng thì nó phải phục vụ cho mục đích phát triển văn hóa của nhân dân. Và để thực hiện mục tiêu xã hội chủ nghĩa, chúng ta phải đấu tranh, xây dựng, phát triển, phải tiến hành một cuộc cách mạng thật sự. Trong cuộc cách mạng đó, văn hóa luôn có ý nghĩa trọng yếu, quyết định. Đó vừa là điều kiện, nền móng cho sự xây dựng, phát triển của đời sống xã hội, vừa là mục tiêu hướng tới trong quan hệ hài hòa với đời sống vật chất.
 Tóm lại, có thể nói, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, văn hóa có ý nghĩa sâu xa, đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển của đất nước. Nó không chỉ là mục tiêu phấn đấu vươn tới những giá trị cao đẹp cho cuộc sống mà còn có vai trò nền tảng và sức mạnh động lực hết sức to lớn trong phát triển các bình diện đời sống xã hội. Văn hóa là sức sống của sự phát triển kinh tế - xã hội, là động lực thúc đẩy mọi hoạt động sống của con người. Những quan điểm về văn hóa trong chiến lược phát triển đất nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là “kết tinh của truyền thống văn hóa hàng ngàn năm của nhân dân Việt Nam”, mà còn có ý nghĩa thời sự, là chỗ dựa, sự chỉ dẫn cho chúng ta trong nhận thức và giải quyết những vấn đề đặt ra trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước hiện nay.















VĂN HOÁ LÀ MỤC TIÊU CỦA SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI – QUAN ĐIỂM NHẤT QUÁN CỦA ĐẢNG TA
Báo cáo viên: PGS, TS Đoàn Thế Hanh

Văn hóa, xét đến cùng bản chất của nó là “trình độ được vun trồng” ngày càng hoàn thiện, toàn diện của con người về cả thể lực, trí tuệ, đạo đức, thẩm mỹ, tinh thần…, và xã hội loài người với tất cả các mối quan hệ vốn có của nó theo thước đo tiên tiến nhất của thời đại.
Xét về mặt xã hội, mục tiêu giải phóng con người, vì hạnh phúc thật sự của con người, hướng tới một xã hội “trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người” với những chuẩn mực đạo đức đẹp, cao thượng, lành mạnh…; những hành vi nhân văn; sức lao động, sáng tạo của con người đạt hiệu quả cao... là lý tưởng cao cả, là mục tiêu cuối cùng của loài người tiến bộ. Những đặc trưng đó chỉ có thể hiện hữu trong một xã hội mà sự phát triển hướng vào lợi ích của tất cả nhân dân lao động và họ là chủ nhân chân chính của đất nước. Đó chính là xã hội Cộng sản chủ nghĩa mà các nhà sáng lập Chủ nghĩa cộng sản khoa học cho rằng đó là hình thái kinh tế – xã hội mà sự phát triển toàn diện, không hạn chế của mỗi người đang trở thành mục đích trực tiếp của sự phát triển của nó. Chủ nghĩa cộng sản là xã hội mà lực lượng sản xuất phát triển phi thường, có khả năng sản xuất dồi dào các vật phẩm tiêu dùng, khiến có thể thực hiện được nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa cộng sản: “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”. Nhưng chủ nghĩa cộng sản không chỉ đơn thuần tạo ra sản phẩm dồi dào đến mức mỗi người có thể thỏa mãn nhu cầu riêng của mình; đó là một xã hội đào tạo những con người có nhân cách, có khả năng sáng tạo hết sức đa dạng. Con người ở đây không phải là kẻ tiêu thụ, muốn chiếm lấy và sử dụng thật hết sức nhiều vật phẩm tiêu dùng; trong con người đó phát triển những nhu cầu thật là của con người, trước hết là nhu cầu hoạt động cải tạo, sáng tạo. Dưới chủ nghĩa cộng sản, một xã hội đặt mục đích cho mình là biến mỗi người thành một người sáng tạo, hoạt động của con người được thực hiện với tính cách là một hoạt động chủ động, sáng tạo. Được giải phóng khỏi lao động nặng nhọc, đơn điệu trong chính lĩnh vực sản xuất vật chất, mỗi thành viên trong xã hội cộng sản chủ nghĩa sẽ có khả năng phát triển năng lực của mình một cách toàn diện.
Các nhà sáng lập Chủ nghĩa cộng sản khoa học dựa vào thành tựu của các ngành khoa học đó dự báo một cách khoa học về một xã hội văn hóa tương lai là chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản. Xuất phát từ tư duy khoa học duy vật biện chứng, bằng tấm lòng nhân văn cao cả của mình, các ông đã khẳng định và tin tưởng rằng, với tất cả những phẩm chất và hành động tích cực của mình, loài người sẽ xây dựng thành công và là chủ nhân chân chính của một xã hội văn hóa. Vì vậy, với niềm tin vừa lý trí vừa tình cảm, C. Mác, Ph. Ăng ghen đã sớm nêu rõ bản chất đặc trưng của chủ nghĩa xã hội từ những kiến giải kinh tế – xã hội, chính trị – triết học. Các ông cho rằng, hình thái kinh tế – xã hội tư bản chủ nghĩa tất yếu sẽ được thay thế bằng một hình thái cao hơn, hình thái kinh tế – xã hội cộng sản chủ nghĩa mà giai giai đoạn đầu của nó là chủ nghĩa xã hội.
C. Mác và Ph. Ăng ghen đã từng bước xây dựng những luận điểm cơ bản về chủ nghĩa xã hội, chỉ ra những phương hướng phát triển chủ yếu và những đặc trưng bản chất của nó mà đặc trưng cơ bản nhất là xóa bỏ chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, giải phóng cho con người khỏi mọi tình trạng bị bóc lột về kinh tế, bị áp bức về chính trị, bị nô dịch về tinh thần, tạo điều kiện cho con người có thể tận lực phát triển mọi khả năng sẵn có của mình.
V.I. Lê-nin phát triển lý luận về chủ nghĩa xã hội trong điều kiện chủ nghĩa tư bản từ tự do cạnh tranh đã chuyển sang chủ nghĩa tư bản độc quyền, tức giai đoạn đế quốc chủ nghĩa với đầy rẫy tính chất phi văn hóa. Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, chủ nghĩa xã hội đã từ lý luận trở thành hiện thực xã hội. Chủ nghĩa xã hội với tư cách một chế độ xã hội, sau khi đã hoàn thiện sẽ là bước phát triển cao hơn và tốt đẹp hơn so với chủ nghĩa tư bản. Có thể nói, V.I. Lê-nin là người đầu tiên biến khát vọng về một xã hội văn hóa trở thành khả thi cho nước Nga nói riêng, loài người nói chung.
Sinh ra và lớn lên khi tổ quốc mình đang trong vòng nô lệ, dân lầm than cơ cực, anh thanh niên Nguyễn Tất Thành yêu nước, thương dân, chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao nước nhà được độc lập, nhân dân được tự do, ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Đó không gì khác hơn là một xã hội văn hóa. Vì vậy, Người quyết định ra ngoài xem các nước họ làm ăn thế nào để trở về giúp đồng bào giải phóng dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp cận chủ nghĩa xã hội khoa học từ quan điểm duy vật lịch sử của Mác, nghĩa là từ học thuyết hình thái kinh tế – xã hội và từ sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân – giai cấp trung tâm của thời đại mới. Nói cách khác, Người đã tiếp thu những quan điểm của các tác giả kinh điển về bản chất và mục tiêu của chủ nghĩa xã hội khoa học.
Từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác – Lê-nin, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn tiếp cận chủ nghĩa xã hội từ chủ nghĩa yêu nước và truyền thống văn hóa dân tộc, nên cũng bổ sung những nét riêng của mình về bản chất và mục tiêu của chủ nghĩa xã hội:
- Từ lập trường yêu nước và khát vọng giải phóng dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm thấy trong học thuyết của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, học thuyết khoa học và cách mạng con đường chân chính để giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng loài người. Người đã viết: “…chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và giai cấp công nhân toàn thế giới”.
Rõ ràng, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới cứu được nhân loại, mới thực sự đem lại độc lập, tự do, bình đẳng cho các dân tộc.
- Từ phương diện đạo đức, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng chủ nghĩa xã hội là một chế độ xã hội được xây dựng trên cơ sở chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, nó bảo đảm cho sự phát triển hài hòa giữa cá nhân và xã hội. Giai cấp công nhân chẳng những đấu tranh để tự giải phóng mà còn để giải phóng cho cả loài người khỏi áp bức, bóc lột. Lợi ích của giai cấp công nhân và lợi ích của nhân dân là thống nhất. Chủ nghĩa xã hội vì vậy xa lạ và đối lập với chủ nghĩa cá nhân. Người nói, chủ nghĩa cá nhân là một trở ngại lớn cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cho nên, thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân. Người lên án mạnh mẽ chủ nghĩa cá nhân, một kẻ địch hung ác của chủ nghĩa xã hội, và kêu gọi phải tiêu diệt nó, nhưng Người không hề phủ nhận cá nhân, trái lại, Người rất chăm lo đến nhu cầu và lợi ích của cá nhân, đề cao năng lực và phẩm chất của mỗi cá nhân. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, không có chế độ nào tôn trọng con người, chú ý xem xét lợi ích cá nhân đúng đắn và bảo đảm cho nó được thỏa mãn bằng chế độ xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, Người cổ vũ: Có gì sung sướng vẻ vang hơn là trau dồi đạo đức cách mạng để góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và giải phóng loài người. Như vậy, đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, đạo đức cao cả nhất là đạo đức cách mạng, đạo đức giải phóng dân tộc, giải phóng loài người. Chủ nghĩa xã hội, vì vậy cũng là giai đoạn phát triển mới của văn hóa đạo đức.
- Từ truyền thống lịch sử, văn hóa và con người Việt Nam, một quốc gia nông nghiệp lúa nước truyền thống với những đặc trưng: không trải qua chế độ chiếm hữu nô lệ với những dấu ấn hà khắc; là một quốc gia nhỏ luôn phải đứng lên chống lại các thế lực ngoại xâm to lớn hơn mình nhiều lần nhưng lại hung bạo và tàn ác, luôn có ý đồ đồng hóa dân tộc ta, muốn sáp nhập nước ta vào lãnh thổ của chúng… Do đó, để tồn tại và phát triển, dân tộc Việt Nam đã tạo cho mình truyền thống cố kết cộng đồng - nhân tố thuận lợi để đi vào chủ nghĩa xã hội. Đây là nét văn hóa đặc thù Việt Nam.
Văn hóa Việt Nam lấy nhân nghĩa làm gốc, có truyền thống trọng dân, khoan dung, hòa mục để hòa đồng. Văn hóa Việt Nam là văn hóa trọng trí thức, hiền tài.
Con người Việt Nam hiền hậu, có tâm hồn trong sáng, giàu lòng vị tha, yêu thương đồng loại, quý trọng con người, sống có tình, có nghĩa…kết hợp được cái chung với cái riêng, gia đình với Tổ quốc, dân tộc và nhân loại…
Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, xuất phát từ khát vọng nhân văn và văn hóa đã giúp người đến với tư tưởng chủ nghĩa xã hội và lựa chọn chủ nghĩa xã hội là chế độ để hướng dân tộc mình quyết tâm xây dựng và đi tới. Người nhận thức rằng, chủ nghĩa xã hội là giai đoạn phát triển cao hơn chủ nghĩa tư bản về mặt văn hóa và giải phóng con người ta. Nói văn hóa cũng tức là nói tới con người – chủ thể của văn hóa. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng xây dựng con người, tình người, mối quan hệ nhân văn giữa người với người, chú trọng nâng cao lý tưởng, đạo đức, văn hóa, khoa học cho con người, vì con người, khát khao chiến đấu cho lý tưởng xã hội chủ nghĩa thì mới có chủ nghĩa xã hội – xã hội văn hóa.
Như vậy, mục tiêu cuối cùng của một xã hội tiên tiến thống nhất với bản chất của một nền văn hóa tiến bộ, lấy việc phát triển con người là mục đích cao nhất. Đây không phải là sự gặp gỡ ngẫu nhiên mà là một xu hướng tất yếu nảy sinh trong quá trình tìm kiếm con đường phát triển đúng quy luật của nhân loại. Điều đó, một lần nữa góp thêm tiếng nói khách quan khẳng định chủ nghĩa Mác – Lê-nin là đỉnh cao trí tuệ của nhân loại, hàm chứa những giá trị văn hóa cao mà loài người hướng tới. Và qua đó cũng khẳng định rằng văn hóa là mục tiêu của loài người hướng tới.
 Văn hóa là mục tiêu của sự phát triển đã được chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh cụ thể hóa bằng những nhận thức về đặc trưng, bản chất của xã hội văn hóa – xã hội xã hội chủ nghĩa. Đây là giai đoạn đầu để tiến đến chủ nghĩa cộng sản, xã hội với đặc trưng bao trùm là văn hóa hoàn thiện nhất, xã hội tốt đẹp nhất thỏa mãn mọi nhu cầu chính đáng của con người. Xã hội văn hóa này được các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lê-nin nêu rõ một số đặc trưng sau:
- Xóa bỏ từng bước chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa, thiết lập chế độ sở hữu công cộng để giải phóng cho sức sản xuất xã hội phát triển.
- Có một nền công nghiệp đại cơ khí với trình độ khoa học và công nghệ hiện đại có khả năng cải tạo nông nghiệp, tạo ra năng suất lao động cao hơn chủ nghĩa tư bản.
- Thực hiện sản xuất có kế hoạch, tiến tới xóa bỏ sản xuất hàng hóa trao đổi tiền tệ (quan niệm này về sau đã được điều chỉnh với chính sách Kinh tế mới của Lê-nin).
- Thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động, thể hiện sự công bằng về lao động và hưởng thụ.
-  Khắc phục dần sự khác biệt giữa các giai cấp, giữa nông thôn và thành thị, giữa lao động trí óc và lao động chân tay, tiến tới một xã hội tương đối thuần nhất về giai cấp.
- Giải phóng con người khỏi mọi ách áp bức, bóc lột, nâng cao trình độ tư tưởng và văn hóa cho nhân dân, tạo điều kiện cho con người tận lực phát triển mọi khả năng sẵn có của mình.
- Sau khi đã đạt được những điều nói trên, khi giai cấp không còn nữa thì chức năng chính trị của nhà nước sẽ dần dần tiêu vong.
 Những phán đoán khoa học nói trên về một xã hội tương lai mà nhân loại hướng tới là những đặc trưng phản ánh tính văn hóa cao của một xã hội.
Là người học trò sáng tạo, Chủ tịch Hồ Chí Minh thống nhất với các bậc thầy Mác – Lê-nin về bản chất văn hóa của chủ nghĩa xã hội, đó là xã hội: do nhân dân lao động làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao; văn hóa đạo đức trong sáng, cao thượng; các quan hệ bình đẳng, công bằng và hợp lý; đó là công trình tập thể của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Như vậy, nhận thức của Chủ tịch Hồ chí Minh về chủ nghĩa xã hội là một xã hội phát triển, dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh và đạo đức, một chế độ xã hội ưu việt nhất trong lịch sử. Chế độ ấy đồng nhất với văn hóa và là mục tiêu của phát triển. Trong thực tế ta thấy, để có một sự phát triển lành mạnh cần một hệ điều chỉnh, một định hướng nhân văn xã hội. Nói cách khác, văn hóa phải trở thành mục tiêu của sự phát triển kinh tế – xã hội. Sự phát triển kinh tế phải đưa tới hiệu quả xã hội tốt. Lý thuyết về sự phát triển, do đó có sự thay đổi. Trước đây, nói đến phát triển, nhiều người chỉ nghĩ tới yếu tố kinh tế và kỹ thuật, và tiêu chí của sự phát triển chỉ là thu nhập bình quân theo đầu người, thì ngày nay nhân loại đã đi tới một quan niệm mới về phát triển: coi trọng các yếu tố nhân văn, xã hội. Sự phát triển là sự thay đổi, nhưng đó là sự thay đổi đem lại cuộc sống phồn vinh, có chất lượng được cộng đồng chấp nhận. Đằng sau chỉ tiêu kinh tế phải là hàng loạt các chỉ tiêu về đời sống cụ thể của con người: tuổi thọ bình quân, trình độ học vấn chung của xã hội, vấn đề an sinh xã hội, môi trường xã hội và môi trường tự nhiên… Nói văn hóa là mục tiêu của sự phát triển kinh tế là nói đến tính chất chính trị của nền kinh tế, là nói nền kinh tế đó thuộc về ai và phục vụ cho ai. Trong bản chất của nó, chủ nghĩa tư bản không hướng sự phát triển kinh tế vào việc cải thiện đời sống của nhân dân lao động. Mục tiêu của nó là mang lại lợi ích tối đa cho các nhà tư bản, các công ty và tập đoàn tư bản. Khi một nền kinh tế chỉ phục vụ cho thiểu số và đối lập với quyền lợi của đa số thì nền kinh tế đó không thể mang lại hiệu quả xã hội tốt. Việc xa rời mục tiêu văn hóa sẽ biến sự tăng trưởng kinh tế thành môi trường thuận lợi cho lối sống hưởng thụ và chủ nghĩa thực dụng. Nền kinh tế lấy văn hóa và con người làm động lực và mục tiêu đòi hỏi phải thường xuyên quan tâm đến hiệu quả xã hội của hoạt động kinh tế, coi phát triển kinh tế là điều kiện để phát triển và hoàn thiện con người, phát triển và hoàn thiện xã hội.
Thực tế phát triển của chủ nghĩa tư bản đã minh chứng rằng, giai cấp tư sản khôn ngoan sử dụng văn hóa như một phương tiện cho tăng trưởng kinh tế, nhưng họ không coi văn hóa là mục tiêu của sự phát triển.
Như đã khẳng định, chủ nghĩa xã hội, về bản chất là một hình thái kinh tế xã hội phát triển, một trạng thái văn hóa cao của lịch sử. Chủ nghĩa xã hội đích thực đòi hỏi phải sử dụng tối đa các thành tựu văn hóa của nhân loại, và phải vì lợi ích tối đa của con người. Chỉ có như vậy, chủ nghĩa xã hội mới thực sự đạt tới mục tiêu “sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của mọi người”. 
Trong đường lối đổi mới của mình vấn đề văn hóa ngày càng được Đảng ta quan tâm. Nhân tố văn hóa đã từng bước tham gia vào sự phát triển kinh tế – xã hội. Các Đại hội Đảng VII, VIII, IX, X, XI đều đặc biệt quan tâm đến việc phát huy nguồn nội lực, coi đó là cơ sở của sự phát triển kinh tế – xã hội. Nói phát huy nội lực là nói phát huy các tiềm năng của con người, của văn hóa dân tộc, coi đó là tài sản quý giá của quốc gia. Các Hội nghị Trung ương bốn khóa VII, Trung ương hai, Trung ương năm, Trung ương sáu (lần 2) khóa VIII; Trung ương năm, Trung ương mười (khóa IX), Trung ương năm khóa X đã ra các nghị quyết quan trọng về phát triển văn hóa và giáo dục - đào tạo, khoa học công nghệ, về tư tưởng – lý luận, về xây dựng và chỉnh đốn Đảng… Các văn kiện Đảng đã khẳng định: Văn hóa…vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội và sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; yêu cầu “ bảo đảm sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng chỉnh đốn Đảng là then chốt với không ngừng nâng cao văn hóa – nền tảng tinh thần của xã hội; tạo nên sự phát triển đồng bộ của ba lĩnh vực trên chính là điều kiện quyết định bảo đảm cho sự phát triển toàn diện và bền vững của đất nước” (Kết luận Hội nghị lần thứ mười Ban Chấp hành Trung ương khóa IX); coi phát triển giáo dục - đào tạo, khoa học – công nghệ là “quốc sách hàng đầu”; “đầu tư cho văn hóa, giáo dục - đào taọ, khoa học - công nghệ là đầu tư cho phát triển”; “ xây dựng và phát triển kinh tế phải nhằm mục tiêu văn hóa, vì xã hội công bằng, văn minh, con người phát triển toàn diện”; “gắn chặt nhiệm vụ xây dựng văn hóa với nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng thông qua cuộc vận động lớn về xây dựng đạo đức, lối sống theo tư tưởng Hồ Chí Minh” v.v..
 Quán triệt và thực hiện tốt định hướng trên đây sẽ góp phần sớm thực hiện tốt mục tiêu văn hóa của việc phát triển kinh tế – xã hội  một cách bền vững của nước ta hiện nay theo tinh thần Đại hội XI của Đảng.

Quá trình đổi mới văn hóa đã được những người “ưu thời mẫn thế” quan tâm trong suốt cả thế kỷ 20, nhưng tới những năm cuối thế kỷ, thì đòi hỏi đổi mới văn hóa, đổi mới tư duy và lối sống của con người trở thành sự thúc bách gay gắt.
Nhận định trách nhiệm trước lịch sử, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu cao trách nhiệm của mình trong định hướng đổi mới đất nước, đổi mới văn hóa dân tộc.
Bản thân đổi mới đất nước do Đảng lãnh đạo chính là văn hóa. Đồng chí Phạm Văn Đồng từng nói: Đổi mới là văn hóa, văn hóa là đổi mới. Không có khoảng cách giữa đổi mới tồn tại xã hội và đổi mới ý thức xã hội; mặt này là tiền đề và điều kiện của mặt kia và ngược lại.
Chính vì vậy, đổi mới trong văn hóa có một ý nghĩa đặc biệt, liên quan toàn bộ sự nghiệp đổi mới đất nước.
Đảng đã có nhiều văn kiện ảnh hưởng đổi mới sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa, trong đó quan trọng nhất là Nghị quyết Trung ương 5 về “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” (1998) và Kết luận của Hội nghị Trung ương 10 về công tác văn hóa (2003). Cùng với hai văn kiện trên, việc Nhà nước ta chấp nhận tham gia Chương trình Thập kỷ phát triển văn hóa của Tổ chức Giáo dục - Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) trong những năm cuối thế kỷ 20 đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình đổi mới văn hóa theo kịp bước phát triển của đất nước và thời đại.
Đại hội VI của Đảng (1986) - Đại hội đổi mới đất nước - đã đặt lên hàng đầu. Đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế, mà cụ thể là đổi mới cung cách làm ăn, xây dựng cuộc sống, một nội dung cơ bản, lâu đời của văn hóa Việt Nam. Bắt đầu từ Đại hội VI trong quan niệm của người cộng sản Việt Nam, văn hóa không tách rời với đổi mới kinh tế đã trở thành mục tiêu và động lực của đổi mới đất nước. Hiểu văn hóa không chỉ là nhân tố di dưỡng đạo đức, tinh thần xã hội mà còn là sức mạnh thúc đẩy kinh tế - xã hội, góp phần điều chỉnh các quan hệ xã hội là một bước phát triển mới trong tư duy của Đảng, Nhà nước ta về vai trò, vị trí của văn hóa. Giáo sư Nguyễn Hồng Phong qua nghiên cứu lịch sử dân tộc khẳng định: nguồn gốc của sự nghèo khó của dân tộc nằm trong văn hóa. Nhiều nhà văn hóa, nhà trí thức khoa học yêu cầu đặt lại vai trò của văn hóa, vai trò của con người trong ợư nghiệp phát triển, lần đầu tiên, các văn bản của Đảng, Nhà nước nói nhiều đến “nhân tố con người”. Nhân tố con người, gắn liền thế giới văn hóa tinh thần của nó, được coi là nhân tố chủ đạo sự phát triển. Đề cao nhân tố con người, đề cao văn hóa dân tộc đó là một thành công của tư duy đổi mới những năm qua.
Không dừng lại ở việc nhấn mạnh tầm quan trọng và vai trò to lớn của văn hóa đối với quá trình đổi mới đất nước. Kết luận của Hội nghị Trung ương 10 về công tác văn hóa (2003) còn xác lập vị trí của công tác văn hóa, hình thành một kết cấu chặt chẽ và đồng bộ giữa nhiệm vụ kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt với xây dựng văn hoá - nền tảng tinh thần của xã hội, tạo thế chân vạc vững chắc cho quá trình phát triển đất nước.
Gắn liền với nhận thức mới về vai trò, vị trí của văn hóa trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là quan niệm ngày càng sâu sắc, đầy đủ hơn về phương hướng xây dựng nền văn hóa Việt Nam hiện đại. Nói vắn tắt, đó là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Trong nền văn hóa đó, hai yếu tố cơ bản là tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc đã phản ánh mối liên hệ giữa tính phổ biến và tính đặc thù của văn hóa trong quá trình vận động, phát triển đã được thể hiện đầy đủ.
Để đáp ứng đòi hỏi chân - thiện - mỹ của dân tộc và yêu cầu của thời đại, nền văn hóa đó nhất thiết phải mang bản chất tiên tiến trong cả nội dung và hình thức, hiện thân của chủ nghĩa yêu nước và tiến bộ xã hội, phải thể hiện lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phải kết hợp được những giá trị lâu đời của dân tộc và tinh hoa của thời đại. Mặt khác, đó phải là nền văn hóa “đậm đà bản sắc dân tộc”, để có thể hội nhập, giao lưu với thế giới hiện đại mà không rời xa những giá trị bền vững của dân tộc đã hun đúc qua lịch sử làm nên cốt cách, vóc dáng tốt đẹp của văn hóa Việt Nam, con người Việt Nam. Cả hai yếu tố “tiên tiến” và “đậm đà bản sắc dân tộc” là hai mặt của một chỉnh thể, bổ sung cho nhau, làm điều kiện để thúc đẩy nhau cùng phát triển, làm cho văn hóa Việt Nam không ngừng đơm hoa, kết trái trong đời sống xã hội hiện đại.
Thực tế đổi mới 20 năm qua cho thấy phương hướng xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đã được thừa nhận trong chính cuộc sống, được sự nhất trí của nhân dân và đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, những người hoạt động văn hóa.
Ngày nay đứng trước quá trình toàn cầu hóa và bùng nổ thông tin, mở rộng giao lưu và hội nhập quốc tế mạnh mẽ, sâu sắc, phương hướng xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc càng tỏ rõ sức sống vững vàng của nó, mở đường cho nhân dân ta vượt qua thách thức, vươn tới những đỉnh cao của văn minh và tiến bộ.
Hướng tới một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc cũng chính là hướng đến một nền văn hóa của nhân dân, của các dân tộc trong một quốc gia đa dân tộc, thống nhất mà đa dạng, không ngừng dân chủ hóa và xã hội hóa phương thức hoạt động bảo đảm quá trình sáng tạo đến tay mội người, thành quả sáng tạo đối với mỗi người, làm cho xã hội nước ta đạt tới một đời sống văn hóa cao, dân trí phát triển, lối sống lành mạnh.
Đổi mới nội dung và phương thức hoạt động văn hóa là một thành tựu rõ nét của quá trình xây dựng văn hóa 20 năm qua. Từ chỗ quan niệm văn hóa có quan hệ chặt chẽ với lĩnh vực chính trị, tư tưởng do Nhà nước tổ chức để phục vụ nhân dân, chúng ta đã xây dựng các hoạt động văn hóa thông tin, khoa học, giáo dục,... thành sự nghiệp của toàn xã hội, đáp ứng nhu cầu lợi ích chính đáng của mọi người dân, đã thu hút tài năng, sáng kiến, công sức của nhân dân vào sự nghiệp xây dựng văn hóa. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, hoạt động văn hóa trong mỗi khu dân cư, trong các làng bản văn hóa, gia đình văn hóa... đã trở thành cuộc vận động văn hóa rộng rãi, đi dần vào nền nếp. Cho đến cuối năm 2004, cả nước đã có 13.162 làng văn hóa, 9,9 triệu gia đình văn hóa, 19.150 cơ quan văn hóa đã được công nhận; 5.128 nhà văn hóa, 6.750 điểm bưu điện - văn hóa được xây dựng; hơn 51 nghìn bản hương ước, quy ước văn hóa thôn xóm được phê duyệt; 2.792 di tích văn hóa được xếp hạng quốc gia. Đã có sáu di sản văn hóa và thiên nhiên nước ta được đưa vào danh mục di sản thế giới. Nhiều di tích văn hóa lịch sử đặc biệt quan trọng của nước ta đã được phát hiện và trùng tu tôn tạo như Hoàng thành Thăng Long, Cung đình Huế, Đền Hùng, các đền tháp Chăm Pa... Những thành tựu mới về văn hóa, về tuổi thọ đã góp phần nâng cao chỉ số phát triển con người (HDI) của nước ta. Năm 2005, chỉ số phát triển con người của Việt Nam được xếp vị trí 108 trong 177 nước nâng lên bốn bậc so với năm trước. Tuổi thọ của con người Việt Nam từ 63 tuổi (năm 1990) lên 71,3 tuổi (năm 2005)... Điều đó cho thấy, trong khi thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam còn thấp (630 USD/người) thì những tiến bộ về văn hóa, lối sống cũng đã đưa chỉ số phát triển con người của Việt Nam cao hơn những nước có mức thu nhập tương đương.
Trong văn hóa, hoạt động thông tin và văn học nghệ thuật luôn luôn là nhân tố năng động, có tác động thường xuyên lên nhận thức và tình cảm con người. Với sự tham gia của 15 nghìn nhà báo và 17 nghìn văn nghệ sĩ hoạt động trong lễ hội văn học nghệ thuật Trung ương, các hoạt động báo chí, xuất bản, văn học nghệ thuật nước ta đã trở nên sôi nổi, phong phú, lôi cuốn ngày càng rộng rãi sự hưởng ứng của toàn xã hội. Hệ thống phát thanh đã đáp ứng hơn 90% và truyền hình hơn 85% nhu cầu thông tin của nhân dân cả nước; hệ thống in-tơ-nét mở rộng nhanh chóng với gần 10% dân số truy cập; hệ thống xuất bản đã cung cấp được hơn 3,5 bản sách/đầu người. Chúng ta đã có những cuộc thi tìm hiểu truyền thống cách mạng, thu hút hơn một chục triệu người tham gia, nhũng tập nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc in trên 200 nghìn bản; những lễ hội dân tộc hàng vạn người tham dự những chương trình âm nhạc qua sóng truyền hình có hàng vạn người theo dõi, những nghệ sĩ trẻ được xã hội chào đón từ những tác phẩm đầu tiên... Quyết tâm và lòng tin vào sự nghiệp đổi mới văn học nghệ thuật, khoa học kỹ thuật, văn hóa thông tin ngày càng đậm nét trong tâm trí nhân dân và đội ngũ trí thức sáng tạo. Các tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp của giới trí thức, văn nghệ sĩ, báo chương mở rộng sức tập hợp và nâng cao chất lượng hoạt động. Tinh thần tự do sáng tạo và sự giúp đỡ vật chất của Nhà nước và xã hội cho hoạt động văn học nghệ thuật, báo chí, xuất bản ngày càng thiết thực, có hiệu quả. Phong trào văn hóa, văn nghệ quần chúng và các hình thức, sáng kiến xây dựng văn hóa trong nhân dân phong phú, sinh động hơn trước.
Trong thành tựu chung, những chuyển biến trong xây đựng văn hóa các dân tộc thiểu số là rất đáng kể. Ý thức về bình đẳng dân tộc, mối quan tâm về những giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số và quyết tầm nâng cao mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân các dân tộc anh em là những chuyển biến có ý nghĩa. Nhà nước đã có nhiều chính sách để đưa sản phẩm văn hóa, thông tin đến vùng sâu, vùng xa, vùng các dân tộc thiểu số. Công tác sưu tập bảo tồn văn hóa dân tộc được đẩy mạnh. Các chương trình phát thanh, truyền hình quốc gia và địa phương đã phát sóng hàng chục ngôn ngữ dân tộc. Các lễ hội văn hóa dân tộc được tổ chức. Con em các dân tộc thiểu số được tạo điều kiện đến trường. Nếp sống văn minh được hình thành trong nhiều thôn bản. Nếu nói một chính sách văn hóa đúng là khi chính sách đó được cộng đồng yếu thế nhất tiếp nhận và tham gia, thỉ sự phát triển văn hóa, tinh thần trong đồng bào dân tộc thiểu số vừa qua đã chứng minh thắng lợi của đường lối, chính sách đổi mới trong sự nghiệp văn hóa Việt Nam.
Những tiến bộ đạt được không tách rời quá trình đổi mới tư duy quản lý văn hóa của nước ta. Cùng với nhiều ngành quản lý khác, quản lý văn hóa đặt trọng tâm vào ban hành, hướng dẫn và thực thi luật pháp. Trong 20 năm qua, các cơ quan quản lý nhà nước đã ban hành hàng trăm văn bản luật pháp liên quan sự nghiệp văn hóa, trong đó đáng chú ý là các văn bản luật pháp trực tiếp quy định công tác báo chí, xuất bản, bản quyền, di sản văn hóa, thư viện, điện ảnh, quảng cáo, biểu diễn, nghệ thuật... Những quy định luật pháp đã mở đường cho sự tham gia của xã hội vào các hoạt động văn hóa, giữ vững định hướng xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đồng thời đẩy lùi những tiêu cực, sai trái trong hoạt động văn hóa. Bên cạnh luật pháp, nhiều chính sách phát triển văn hóa được ban hành, hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở được tăng cường. Nhiệm vụ xây dựng đời sống văn hoá trong Đảng gắn liền với Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao phẩm chất đảng viên đã góp phần thúc đẩy công cuộc đổi mới nói chung và đổi mới văn hóa nói riêng.
20 năm đổi mới không phải là dài nhưng đối với đời sống văn hóa dân tộc và sự phát triển tinh thần của con người, nhưng sự chuyển mình của văn hóa Việt Nam và thành tựu bước đầu của văn hóa dân tộc đã cho thấy đường lối đổi mới văn hóa của Đảng là đúng đắn, quy tụ được năng lực sáng tạo và tâm hồn nhân dân, xây dựng lòng tin, mở ra hướng phát triển tích cực và lành mạnh trong những thập kỷ đầu của thiên niên kỷ mới.
Tuy nhiên, những vấn nạn của một nước kém phát triển, đang trong quá trình chuyển đổi cơ chế kinh tế còn in dấu ấn không nhỏ lên đời sống văn hóa. Để khắc phục khó khăn và thách thức, quá trình đổi mới văn hóa trong chặng đường sắp tới cần quan tâm giải quyết những vấn đề sau:
Một là, sự hình thành bước đầu thị trường văn hóa và mở rộng xã hội hóa hoạt động văn hóa đang đặt chúng ta trước những trách nhiệm nặng nề và thách thức không nhỏ đối với năng lực quản lý và trình độ tổ chức hoạt động của đội ngũ cán bộ văn hóa. Bên cạnh những thành tựu không thể tranh cãi đạt được trong điều kiện cơ chế mới, hoạt động văn hóa hiện nay còn bộc lộ những xu hướng không lành mạnh, có mặt khá nghiêm trọng. Đó là xu hướng “thương mại hóa” - nói thẳng ra là xu hướng chạy theo lợi nhuận, coi thường chất lượng ăn hóa đã lan tràn trong nhiều sản phẩm, dịch vụ văn hóa. Hiện tượng “đạo văn, đạo nhạc”, vi phạm bản quyền, làm dối, làm ẩu, lén lút lưu hành văn nghệ đồi trụy, độc hại, kể cả mại dâm, ma túy... đang làm vẩn đục môi trường văn hóa một số thành phố lớn. Trong khi đó, công tác quản lý văn hóa không theo kịp tình hình, tỏ ra lúng túng, bị động. Một số nơi nhận thức không đúng tính đặc thù của thị trường văn hóa, đánh đồng sản phẩm, dịch vụ văn hóa với các hàng hóa thông thường khác, có xu hướng buông lỏng quản lý chất lượng tư tưởng, không chăm sóc, đầu tư nâng cao chất lưọng văn hóa. Rõ ràng yêu cầu đổi mới và nâng cao trình độ quản lý văn hóa là yêu cầu cực kỳ quan trọng nhằm đảm bảo trong điều kiện mới, văn hóa nước ta phát triển lành mạnh, đúng hướng.
Hai là, nhìn chung chất lượng báo chí, xuất bản, các hoạt động văn học nghệ thuật của ta chưa cao, chúng ta còn thiếu những tác phẩm có tính tư tưởng cao, hình thức nghệ thuật hấp dẫn, có sức cổ vũ rộng rãi công chúng. Điều đó đòi hỏi sự nỗ lực sáng tạo của đội ngũ văn nghệ sĩ và những người cầm bút, yêu cầu tăng cường công tác phê bình lý luận văn học - nghệ thuật và văn hóa, đồng thời phải có chính sách giúp đỡ cụ thể của nhà nước và xã hội đối với văn hóa, nhất là đối với các lĩnh vực nghệ thuật truyền thống, những loại hình văn hóa nghệ thuật thể nghiệm, những chính sách hỗ trợ tài năng... Đổi mới hoạt động của các hội nghề nghiệp trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật nhằm nâng cao chất lượng sáng tác cũng là một đòi hỏi cấp thiết.
Ba là, toàn cầu hoá về kinh tế và quá trình hội nhập quốc tế đang tạo ra cơ hội và thách thức không nhỏ đối với văn hóa nước ta. Tác động của văn hóa nước ngoài vào nước ta khá thường xuyên, với nhiều con đường, nhất là trên mạng in-tơ-nét, với cả mặt tích cực lẫn tiêu cực, tuy nhiên ứng phó của ta còn thiếu chủ động, thiếu một chiến lược vững chắc. Ngày nay không thể chủ trương đóng cửa về văn hóa, nhưng tiếp nhận văn hóa nước ngoài như thế nào, giới thiệu văn hoá Việt Nam ra nước ngoài ra sao, đấu tranh với âm mưu, thủ đoạn chống phá văn hóa - tư tưởng trong kịch bản “diễn biến hòa bình” của các thế lục thù địch như thế nào, là những vấn đề cần xử lý ở phạm vi quốc gia, cả trong từng địa phương, cơ sở trong một chiến lược cụ thể.
Bốn là, lý luận xây dựng một nền văn hoá mới dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh là vấn đề cần được bổ sung, hoàn chỉnh. Là người vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại di sản tư tưởng - văn hóa rất sâu sắc, độc đáo. Một phần cơ bản nội dung tư tưởng của Người đã được vận dụng trong sự nghiệp xây dựng và đổi mới văn hóa vừa qua. Tuy nhiên, việc nghiên cứu có hệ thống, soi sáng các luận điểm cơ bản của Người dưới ánh sáng của thời đại để phát triển toàn diện văn hoá nước nhà, nâng cao nhân tố con người Việt Nam, xây dựng nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội Việt Nam hiện đại còn là nhiệm vụ to lớn đặt ra ở phía trước. Tin chắc rằng quá trình nghiên cứu, vận dụng và phát triển tư tưởng của Người trên lĩnh vực văn hoá sẽ mở ra những tiềm năng phát triển mới cho văn hóa nước nhà.
Cách đây 60 năm, trong ngày đầu của chính quyền mới - nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”. Đó là một câu nói bất hủ trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, đổi mới đất nước, chấn hưng văn hóa.
Trong hành trình mới của dân tộc, chúng ta cần phải tiếp tục nâng cao hơn nữa ngọn đuốc sáng của nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc mà linh hồn của nó là tư tưởng Hồ Chí Minh vĩ đại, mở ra bước phát triển ngày càng cao hơn của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.




















VỀ CẢI CÁCH THỂ CHẾ VĂN HOÁ
Báo cáo viên: Mai Hải Oanh

1 - Cải cách thể chế văn hóa là tất yếu để giải phóng và phát triển sức sản xuất văn hóa
Thể chế văn hóa là một chỉnh thể có nội dung phong phú, là khái niệm chỉ hệ thống những luật định, quy chế, quy định pháp quy về sản xuất, kinh doanh và quản lý văn hóa. Thể chế văn hóa trước hết xuất phát từ yêu cầu của chính lĩnh vực văn hóa, nhưng nó chịu sự quy định và chi phối của thể chế kinh tế và thể chế chính trị. Trong thời kỳ kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, thể chế văn hóa tất nhiên phải phù hợp với mô hình kinh tế bao cấp, và trong điều kiện lịch sử bấy giờ, nó đã có những đóng góp tích cực không thể phủ nhận. Tuy nhiên, kể từ khi thực hiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì thể chế văn hóa trước đây tỏ ra không có hiệu quả. Biểu hiện rõ nhất của thể chế văn hóa cũ là quyền lực quản lý chỉ tập trung vào tay Nhà nước, chế độ sở hữu và phương thức kinh doanh đơn giản, bộ máy nhân sự xơ cứng, pháp chế văn hóa thiếu kiện toàn, chế độ phân phối không công bằng, không khuyến khích được sức sáng tạo văn hóa của đông đảo quần chúng nhân dân. Vì vậy, cùng với việc đổi mới thể chế kinh tế và thể chế chính trị, coi phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, chúng ta đã tạo ra động lực to lớn cho phát triển văn hóa. Kinh nghiệm của hơn hai mươi năm đổi mới càng cho thấy, phát triển văn hóa phải thích ứng với phát triển kinh tế - xã hội, thể chế văn hóa phải thích ứng với thể chế kinh tế, cải cách thể chế văn hóa phải thích ứng với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Thể chế văn hóa phản ánh quan hệ sản xuất văn hóa, quan hệ phân chia lợi ích văn hóa và quyền lợi văn hóa giữa các tầng lớp xã hội, giữa công dân và nhà nước. Quan hệ sản xuất văn hóa tất nhiên phản ánh văn hóa quan hệ kinh tế, có ý nghĩa giải phóng sức sản xuất văn hóa trong từng thời kỳ nhất định. Trước đây, trong nền kinh tế quan liêu bao cấp, kiểu quan hệ sản xuất văn hóa tự bao tự tiêu cũng đã phần nào thỏa mãn được nhu cầu văn hóa của nhân dân. Nhưng khi bước sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thể chế văn hóa cũ không còn thích hợp và tất nhiên, quan hệ sản xuất văn hóa trước đây không đáp ứng yêu cầu đổi mới về quan hệ văn hóa, không đủ khả năng giải phóng và phát triển sức sản xuất văn hóa như chúng ta mong muốn. Cải cách thể chế văn hóa, vì thế, trước hết là đổi mới quan hệ sản xuất văn hóa lạc hậu không còn thích ứng với sức sản xuất văn hóa xã hội tiên tiến, thông qua sự thay đổi của quan hệ này, giải phóng tới mức tối đa sức sản xuất văn hóa. Sức sản xuất văn hóa mới không phải là sức sản xuất văn hóa của một đơn vị hay cá nhân nào, mà là sức sản xuất văn hóa của toàn dân tộc. Chỉ có giải phóng sức sản xuất văn hóa, sức sáng tạo tiềm tàng trong quần chúng mới có cơ hội bùng nổ, thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp văn hóa, thỏa mãn nhu cầu văn hóa ngày càng cao của nhân dân.
2 - Phương châm cải cách thể chế văn hóa
- Nguyên tắc căn bản của cải cách thể chế văn hóa
Nền văn hóa tiên tiến của chúng ta lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm tư tưởng chỉ đạo, lấy việc đào tạo công dân có lý tưởng, có đạo đức, có văn hóa, có kỷ luật làm mục tiêu, hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Nền văn hóa ấy phản ánh đặc trưng kinh tế, chính trị xã hội chủ nghĩa nước ta, vì thế có tính chất xã hội chủ nghĩa rõ nét. Cải cách thể chế văn hóa là sự tự hoàn thiện và phát triển của chế độ văn hóa xã hội chủ nghĩa ở nước ta, theo yêu cầu của xã hội văn minh, nắm bắt quy luật phát triển văn hóa, học tập cách làm phát triển sự nghiệp văn hóa và công nghiệp văn hóa nước ngoài. Nhưng học tập kinh nghiệm của nước ngoài không có nghĩa là vọng ngoại một cách máy móc, dập khuôn. Việc học tập, tiếp thu phải đi đôi với việc chống lại các quan niệm văn hóa phản nhân văn, xa rời lợi ích dân tộc, bảo đảm an ninh văn hóa và ổn định xã hội của nước ta. Vì vậy, đổi mới thể chế văn hóa phải gắn liền với sự lãnh đạo của Đảng, coi chế độ công hữu là chủ thể bên cạnh việc xúc tiến đa dạng hóa chủ thể đầu tư văn hóa, tạo điều kiện cho nhiều loại chế độ sở hữu cùng phát triển, thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của văn hóa dân tộc. Về nguyên tắc, Nhà nước phải kiểm soát các doanh nghiệp văn hóa lớn để giữ cho sự phát triển lành mạnh và đúng hướng. Tuy nhiên, để tránh tình trạng nóng vội, duy ý chí trong cải cách thể chế văn hóa, cần căn cứ vào tình hình thực tế của từng vùng, từng ngành nghề cụ thể, thông qua biện pháp thí điểm, tích lũy kinh nghiệm, từ đó tiến hành phân loại, từng bước thúc đẩy cải cách toàn bộ thể chế văn hóa. Ngoài ra, cần làm tốt công tác chính trị tư tưởng, xử lý thỏa đáng các loại quan hệ lợi ích, giữ gìn xã hội ổn định. Chỉ có như vậy mới có thể thúc đẩy sự phát triển sức sản xuất văn hóa xã hội một cách mạnh mẽ.
- Cải cách thể chế văn hóa phải là tạo sự hài hòa giữa hiệu quả xã hội và hiệu quả kinh tế
Vấn đề cốt lõi trong cải cách thể chế văn hóa là cần xử lý chính xác thuộc tính hình thái ý thức và thuộc tính sản nghiệp của văn hóa để có chiến lược phát triển phù hợp. Phát triển văn hóa đúng đắn đòi hỏi phải đặt hiệu quả xã hội lên vị trí hàng đầu, thực hiện một cách hài hòa hiệu quả xã hội với hiệu quả kinh tế bằng cách sáng tạo nên nhiều tác phẩm sâu sắc, vừa chịu được thử thách của thời gian, vừa đáp ứng tốt yêu cầu ngày càng khó tính của thị trường văn hóa. Về điều này, Hội nghị Trung ương 9 khóa X nhấn mạnh: "Tăng đầu tư của Nhà nước cho văn hóa; đổi mới cơ chế tài chính, xã hội hóa, huy động các nguồn nhân lực cho phát triển các hoạt động văn hóa. Kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng Đảng với phát triển văn hóa, làm cho văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần của xã hội”. Việc phát triển văn hóa trong cơ chế thị trường đòi hỏi chúng ta phải vừa chú ý đến sự nghiệp văn hóa công ích, vừa phát triển công nghiệp văn hóa kinh doanh, nhằm tạo nên những nguồn lực mới cho văn hóa, bảo đảm quyền hưởng thụ văn hóa đa dạng của nhân dân. Cần tiến hành phân loại một cách khoa học các ngành nghề và đơn vị khác nhau trong lĩnh vực văn hóa, căn cứ vào đặc trưng của sự nghiệp văn hóa và công nghiệp văn hóa để đề ra thể chế sự nghiệp và thể chế doanh nghiệp, từ đó có biện pháp quản lý và xử lý thích hợp. Cần phát huy tính tích cực của các đơn vị văn hóa, làm cho các đơn vị này có khả năng tự chủ về kinh tế, tránh sự bao cấp quá mức của Nhà nước, làm cho văn hóa trở thành một lĩnh vực năng động về phương cách hoạt động, hiệu quả về kinh tế, đáp ứng tốt yêu cầu của xã hội.
3 - Tăng cường sức sống của các cơ sở văn hóa
Cải cách thể chế văn hóa liên quan đến rất nhiều phương diện. Một trong những vấn đề quan trọng nhất là tăng cường sức sống của các cơ sở sản xuất và tiêu dùng văn hóa. Muốn thế, không thể duy trì độc quyền quản lý và sản xuất văn hóa của Nhà nước mà cần cho phép nhiều chủ thể cùng tồn tại. Để cải cách thể chế văn hóa hiệu quả, dứt khoát phải tạo điều kiện mở rộng các kênh đầu tư và lưu thông vốn. Ở đây, có hai vấn đề cần quan tâm. Một là, khuyến khích và mở rộng biên độ cho nhiều thành phần kinh tế cùng tham gia hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, thông qua cạnh tranh công bằng giữa các loại hình sở hữu khác nhau mà loại bỏ các đơn vị văn hóa kém năng động, hiệu quả đầu tư thấp, làm ăn thua lỗ... Hai là, từng bước hoàn thiện tổ chức xử lý pháp nhân. Thực chất của tổ chức xử lý pháp nhân là tạo nên kỷ cương trong lĩnh vực văn hóa và kinh doanh văn hóa, xác định trách nhiệm của tổ chức và cá nhân tham gia hoạt động văn hóa. Có rất nhiều đơn vị văn hóa kém hiệu quả, làm ăn thua lỗ nhưng không ai chịu trách nhiệm theo kiểu "cha chung không ai khóc", trong khi đó, nhiều đơn vị làm ăn hiệu quả lại không được ghi nhận xứng đáng, thành ra “hòa cả làng”. Hơn nữa, thiếu tổ chức xử lý pháp nhân đủ mạnh, lĩnh vực văn hóa rất dễ bị một số người thao túng, biến văn hóa trở thành một lĩnh vực thu lợi thuần túy, trong khi mục đích tối thượng của văn hóa vẫn phải là mục đích và hiệu quả xã hội. Tổ chức xử lý pháp nhân hiện đại, khoa học sẽ góp phần làm cho thể chế văn hóa có đủ hiệu lực trong thực tiễn.
4 - Tăng cường lãnh đạo và thực thi đồng bộ
Cải cách thể chế văn hóa là một hoạt động có tính tổng hợp, có tính hệ thống cao, thể hiện mối liên hệ, gắn bó nhiều mặt như lao động, nhân sự, tài chính, thuế, phân phối, bảo đảm xã hội, quản lý hành chính... Do đó, phải tăng cường sự lãnh đạo nghiêm túc, thực thi đồng bộ nhiều biện pháp nhằm tạo ra chính sách đủ mạnh cho cải cách thể chế văn hóa. Trước hết, cải cách thể chế văn hóa phải tiến hành đồng thời với đổi mới phương thức lãnh đạo văn hóa. Cần nhanh chóng đổi mới tư duy quản lý văn hóa, tạo dựng quan điểm phát triển văn hóa khoa học: không bám lấy tính đặc thù của văn hóa với tư cách là một hình thái ý thức để phủ nhận tính sản nghiệp của nó, đồng thời không vì tính sản nghiệp của văn hóa mà phủ nhận tính hình thái ý thức của nó. Nói gọn hơn, chúng ta phải xử lý chính xác mối quan hệ này. Nhà nước cần có chính sách tạo điều kiện cho văn hóa về các mặt xét duyệt hành chính, sử dụng đất đai, mở rộng và quản lý thị trường, đầu tư lưu thông vốn, chính sách ưu đãi, nâng đỡ công nghiệp văn hóa phát triển, kiện toàn pháp chế văn hóa, tạo ra môi trường pháp luật tốt đẹp cho cải cách thể chế văn hóa. Thứ hai, cải cách thể chế phải song song với cải cách nghệ thuật. Quan niệm lạc hậu về văn hóa , phương cách biểu hiện già nua, hình thức đơn điệu, nhàm chán... đã làm người đọc, người xem thờ ơ, chán nản. Nghĩa là về một phương diện nào đó, nó không còn đáp ứng được yêu cầu nghệ thuật của nhân dân, hạn chế chiều sâu của cải cách thể chế. Thực tiễn đòi hỏi chúng ta phải cùng lúc đẩy mạnh cải cách thể chế văn hóa, tích cực đổi mới quan niệm, nội dung, hình thức, biện pháp phát triển văn hóa. Trước đây, chúng ta bắt mọi người hưởng thụ những sản phẩm do chúng ta nghĩ ra, sản xuất ra theo lối bao cấp. Trong nền kinh tế thị trường, chúng ta cần tính đến thị hiếu, nhu cầu của người tiêu dùng để sản xuất và quản lý sản phẩm văn hóa. Đây là một thay đổi rất căn bản trong quan niệm về phát triển văn hóa. Thứ ba, cải cách thể chế văn hóa phải song hành với xây dựng thị trường văn hóa. Thể chế văn hóa của chúng ta lâu nay thường bị chia cắt, manh mún, mỗi nghề, mỗi lĩnh vực có quy định một kiểu riêng mà chưa có sự chỉ đạo thống nhất ở tầm vĩ mô và chưa thấm sâu tinh thần đổi mới. Điều đó làm ảnh hưởng đến tính toàn cục của phát triển văn hóa và cải cách thể chế văn hóa. Việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống thị trường văn hóa, thành lập hệ thống công nghiệp văn hóa hợp lý sẽ phá bỏ sự nhũng nhiễu, cát cứ hành chính và độc quyền nghề nghiệp, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, công bằng, vừa chú ý đến sản xuất văn hóa đại chúng, vừa chú ý thích đáng đến văn hóa tinh hoa.
5 - Thiết lập cơ chế văn hóa thích ứng với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Dù thể chế văn hóa có tầm quan trọng, thậm chí có ý nghĩa quyết định đối với phát triển văn hóa nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc cải cách thể chế văn hóa có thể giải quyết các vấn đề đang tồn tại trong phát triển sự nghiệp văn hóa. Bởi lẽ, văn hóa là một hệ thống phức tạp, cải cách thể chế văn hóa phải phối hợp nhịp nhàng với cải cách cơ chế thì việc cải cách ấy mới đạt hiệu quả tối ưu. Vì vậy, trong thực tế, phải lấy cải cách chiều sâu làm động lực, thông qua cơ chế văn hóa hợp lý tạo môi trường có lợi cho phát triển sự nghiệp văn hóa.
- Thiết lập thể chế quản lý hiệu quả cao
Trước hết, phải nói đến vai trò điều hành và quản lý vĩ mô của nhà nước đối với văn hóa. Khi xã hội thay đổi, vai trò và chức năng nhà nước cũng có những biến đổi tương ứng (về tính chất, nội dung, phương hướng và biện pháp thực thi). Trong thể chế kinh tế kế hoạch, nhà nước có vai trò toàn năng, độc quyền chỉ đạo văn hóa, quản lý theo kiểu tập trung quyền lực cao độ. Trong thể chế kinh tế thị trường, về cơ bản, nhà nước vẫn điều hành, quản lý văn hóa nhưng không bao biện tất cả mà chủ yếu cung cấp tài chính hoặc đầu tư cho những công trình văn hóa công ích hoặc đảm nhiệm những việc mà thị trường khó lòng đáp ứng được. Công việc chính của nhà nước, của chính phủ là quản lý xã hội, trong đó, văn hóa chỉ là một lĩnh vực. Nhà nước chủ yếu đóng vai người hoạch định mục tiêu thành phần xã hội, nhà đầu tư nguồn vốn phát triển xã hội, người duy nhất bảo vệ ổn định và trật tự xã hội. Tuy nhiên, trong thực tiễn, không phải không có những lúc nhà nước nhầm "vị trí", can thiệp quá sâu và cứng nhắc, làm chậm nhịp độ phát triển văn hóa. Để thích ứng yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta phải xây dựng thể chế quản lý văn hóa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, ngành nghề tự chủ, đơn vị doanh nghiệp sự nghiệp vận hành theo pháp luật. Đây chính là phương hướng cải cách thể chế văn hóa thời kỳ mới. Chức năng của Chính phủ về lĩnh vực văn hóa cũng phải có những thay đổi quan trọng: từ làm văn hóa chuyển sang quản văn hóa, từ quản vi mô sang quản vĩ mô, từ quản lý trực tiếp chuyển sang quản lý gián tiếp, từ quản lý đơn vị trực thuộc chuyển sang quản lý xã hội.
Thứ nhất, Nhà nước cần mạnh dạn giao quyền cho các cấp quản lý văn hóa, giao quyền tự chủ cho các ngành cụ thể, phân công trách nhiệm cụ thể, có chế độ giám sát việc sử dụng tài sản văn hóa nhà nước và yêu cầu các đơn vị văn hóa phải chấp hành pháp luật, tuân theo quy luật kinh tế thị trường. Nhà nước không trực tiếp truyền đạt kế hoạch sản xuất sản phẩm văn hóa mà yêu cầu các đơn vị văn hóa phải căn cứ vào yêu cầu thị trường để hạch toán và cân đối chi thu. Nhà nước chỉ đặt hàng trực tiếp khi cần thiết đối với những công trình văn hóa công cộng, những sản phẩm văn hóa phục vụ công ích, chẳng hạn như những công trình văn hóa phục vụ Đại lễ 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội sắp tới.
Thứ hai, sự quản lý của Nhà nước phải được quy phạm hóa, phải đúng pháp luật. Những vấn đề nào mà cơ chế thị trường có khả năng giải quyết tốt thì Nhà nước không cần phải can dự vào. Chỉ những vấn đề cơ chế thị trường không giải quyết được thì Nhà nước mới tham gia và sự tham gia này phải công khai, dân chủ, phải phù hợp với yêu cầu kinh tế thị trường và văn minh tinh thần hiện đại.
Thứ ba, chức năng quản lý Nhà nước phải thay đổi về chế độ xét duyệt hành chính, coi chức năng chủ yếu là phục vụ sự nghiệp văn hóa và tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể sáng tạo văn hóa, không trực tiếp can dự vào hoạt động văn hóa vi mô và doanh nghiệp. Phải đặt trọng tâm quản lý là quản lý xã hội và giám sát thị trường, thực hiện tốt việc quản định hướng, quản nguyên tắc, quy hoạch, trật tự, cơ chế, chất lượng...
Thứ tư, đào tạo và phát triển hiệp hội ngành nghề văn hóa và tổ chức môi giới văn hóa có tính chuyên nghiệp cao. Đây là điều chúng ta đang rất thiếu và rất yếu, nhất là khi Việt Nam đã gia nhập WTO. Một mặt, chúng ta phải tăng cường xây dựng hiệp hội ngành nghề, giao chức năng và quyền hạn cụ thể để hiệp hội ngành nghề có tư cách pháp nhân, trở thành tổ chức quản lý ngành nghề hợp pháp, có vai trò cầu nối giữa chính phủ với doanh nghiệp. Mặc khác, khuyến khích phát triển các loại tổ chức môi giới văn hóa, lập những tổ chức môi giới văn hóa và tổ chức đại lý như công ty môi giới văn hóa tổng hợp, công ty môi giới trình diễn, công ty đấu giá nghệ thuật, công ty giới thiệu tài năng trẻ, hình thành cơ chế chính phủ giám sát chỉ đạo, hiệp hội ngành nghề giám sát quản lý, tổ chức môi giới tự xây dựng quy chế hoạt động tự chủ... Đây là những vấn đề cần được chú ý đúng mức để tạo nên sự chuyển biến trong chức năng quản lý và định hướng văn hóa của Nhà nước trong thời đại ngày nay.
- Xây dựng cơ chế phát triển mới
Văn hóa có quy luật phát triển tự thân, có cơ chế phát triển độc đáo phù hợp với tính đặc thù của nó. Trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế và văn hóa, để phát triển văn hóa dân tộc, chúng ta phải xây dựng cơ chế phát triển văn hóa mới.
Một là, văn hóa phải đi vào cơ chế thị trường có tính cạnh tranh. Hiện nay trở ngại lớn nhất là cơ chế văn hóa cũ không còn khả năng thích ứng với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Để phát triển sự nghiệp văn hóa và công nghiệp văn hóa, điều quan trọng nhất trong cải cách thể chế văn hóa là phải làm cho văn hóa hướng ra thị trường. Một khi giải quyết tốt vấn đề này, các vấn đề khác sẽ có thể giải quyết dễ dàng. Vấn đề đặt ra là hướng ra thị trường theo cách nào là hợp lý nhất. Để trả lời câu hỏi này, trước hết phải quán triệt tư tưởng: mọi lĩnh vực văn hóa đều có thể tham gia thị trường. Tính có hiệu quả của cơ chế thị trường là cơ sở để xác lập mối quan hệ nhà nước - thị trường - doanh nghiệp. Cơ chế cạnh tranh thị trường không những là cơ sở để bố trí tài nguyên công nghiệp văn hóa mà còn là cơ sở để xây dựng đơn vị sự nghiệp văn hóa, văn hóa công cộng cùng ngành nghề hữu quan khác. Đối với đơn vị sự nghiệp văn hóa, vấn đề đáng lo ngại nhất hiện nay là thiếu sức sống vì những đơn vị này chủ yếu hoạt động bằng nguồn tài chính hạn chế, kinh phí eo hẹp. Do đó, để hướng ra thị trường, có thể áp dụng nhiều phương thức, chẳng hạn kinh doanh - chuyển nhượng; xây dựng - cho thuê; xây dựng - chuyển nhượng - kinh doanh... nhằm nâng cao hiệu suất hoạt động của các hạng mục văn hóa, hạ thấp giá thành. Cũng cần phải nhận thức rõ hơn cái gọi là thị trường hóa văn hóa. Đặc trưng của một thị trường tốt đẹp là có quy mô lớn, đông đảo người tham gia, cạnh tranh công bằng, thông tin minh bạch, không có sự lũng đoạn... Quá trình thị trường hóa chính là quá trình sáng tạo môi trường cạnh tranh, thông qua cạnh tranh để thúc đẩy sự sáng tạo của hoạt động văn hóa. Cần khuyến khích thành lập các loại quỹ công nghiệp văn hóa, các công ty đầu tư văn hóa, đa dạng hóa chủ thể đầu tư nhằm tạo nên sự phát triển văn hóa từ nhiều nguồn lực khác nhau. Đưa văn hóa vào thị trường tự do, thông qua sự năng động sáng tạo các chủ thể sản xuất và kinh doanh văn hóa, sự giúp đỡ của chính sách hợp lý sẽ làm cho văn hóa có khả năng phát triển mau chóng.
Hai là, tìm cơ chế thực hiện hiệu quả xã hội của các ngành nghề văn hóa. Hiệu quả kinh tế là mục đích chính của doanh nghiệp, còn hiệu quả xã hội là nhiệm vụ cơ bản của Nhà nước. Trước đây và ngay cả hiện nay, sự quản lý và tham gia trực tiếp vào kinh doanh văn hóa của Nhà nước nhiều khi không đạt hiệu quả xã hội cao (tuy cũng có lúc, phương thức này phát huy được tác dụng tích cực). Nhưng trong điều kiện kinh tế thị trường, việc Nhà nước tham gia quá sâu vào quản lý và kinh doanh văn hóa làm tiêu chí đánh giá hiệu quả của các doanh nghiệp thiếu tính thống nhất, các doanh nghiệp thiếu động lực sáng tạo, giá thành sản xuất bị đẩy lên cao, tốc độ phát triển chậm lại. Vì thế, để bảo đảm hiệu quả xã hội cao của sản phẩm văn hóa, phương thức quản lý, giám sát của Nhà nước cần theo cách thức gián tiếp, mang tầm vĩ mô.
Ba là, kiện toàn cơ chế mậu dịch văn hóa đối ngoại. Đây là vấn đề hết sức quan trọng trong chiến lược quảng bá văn hóa Việt Nam ra nước ngoài và tiếp nhận các sản phẩm văn hóa nước ngoài vào Việt Nam. Tại Đại hội Đảng lần thứ VI, Đảng ta đã phát đi một thông điệp quan trọng: Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trên cơ sở hợp tác hữu nghị, cùng có lợi. Tuy nhiên, cơ chế mậu dịch đối ngoại của chúng ta chưa hoàn thiện và còn nhiều lúng túng. Điều này xuất phát từ thực tế: chúng ta vừa rời khỏi nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp để bước vào nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp và cơ sở văn hóa của chúng ta nhỏ và manh mún, thông tin kinh tế và văn hóa chậm, các doanh nghiệp văn hóa chưa có tầm nhìn dài hơn, thiếu sự liên kết giữa các doanh nghiệp văn hóa để tạo sự liên thông thị trường rộng lớn... Để phát triển văn hóa và trao đổi văn hóa với thế giới một cách bình đẳng, chúng ta phải coi kiện toàn cơ chế văn hóa đối ngoại là một nhiệm vụ cấp thiết vì bước vào “sân chơi” toàn cầu hóa, nếu không nhanh chóng thay đổi, chúng ta sẽ tụt hậu và luôn rơi vào tình trạng nhập siêu văn hóa.
- Tạo dựng cơ chế đầu tư đa phương
Phát triển sự nghiệp văn hóa và công nghiệp văn hóa đòi hỏi vốn đầu tư rất lớn. Làm thế nào để huy động vốn một cách hiệu quả là câu hỏi cần được trả lời. Thực tiễn phát triển văn hóa hiện nay ở nước ta có một số tồn tại trong huy động và lưu thông vốn như sau: tiến trình cải cách thể chế đầu tư lưu thông vốn ở nước ta còn lạc hậu, cơ chế đầu tư chuyển biến chậm, hiệu quả đầu tư kém; các doanh nghiệp văn hóa nhà nước thường bị động, trông chờ vào sự chỉ đạo của Chính phủ, chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước mà không quyết liệt đi tìm các nguồn vốn khác; việc cấp phép đầu tư còn nhiều trở ngại, chẳng hạn các tổ chức phi Chính phủ và tư nhân muốn bỏ vốn để kinh doanh văn hóa không phải lúc nào cũng được tạo điều kiện thuận lợi; bản thân các doanh nghiệp văn hóa chưa chủ động trong việc sử dụng vốn và lưu thông vốn để tiến hành điều chỉnh kết cấu và mở rộng quy mô sản xuất nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh cho đơn vị mình. Vì thế, một yêu cầu cấp thiết là phải nhanh chóng cải cách chế độ đầu tư lưu thông vốn, mở rộng kênh đầu tư, tạo động lực cho phát triển công nghiệp văn hóa.
Thứ nhất, cải cách cơ chế đầu tư của Chính phủ đối với sự nghiệp văn hóa, từ lấy việc "nuôi người" là chính chuyển sang "nuôi sự nghiệp là chính"; từ "nuôi đơn vị" là chính chuyển sang "nuôi hạng mục" là chính. Chính phủ phải đầu tư thích đáng cho các ngành nghề văn hóa có tính công ích, phi doanh lợi; các ngành nghề, đơn vị và cơ sở hạ tầng liên quan đến an ninh và bản sắc văn hóa quốc gia như báo chí xuất bản, phát thanh - truyền hình, các đoàn nghệ thuật truyền thống... Cần cải cách phương hướng đầu tư và phương thức đầu tư vốn cho thích hợp. Đối với đơn vị sự nghiệp văn hóa công ích, Nhà nước tiếp tục bảo đảm về kinh phí, mở rộng mức độ đầu tư, đồng thời khuyến khích những đơn vị ấy tăng cường sức sống phát triển tự thân. Đối với những đơn vị sự nghiệp văn hóa có thể tham gia hoạt động kinh doanh, Nhà nước dần dần ngừng đầu tư, thực hiện chế độ tự chủ kinh doanh, tự chịu lỗ lãi, từng bước chuyển sang chế độ công ty. Phương thức đầu tư của Chính phủ cần chuyển dần từ đầu tư chung đối với đơn vị sự nghiệp văn hóa sang đầu tư hạng mục văn hóa là chính.
Thứ hai, mở rộng chuẩn thị trường, cho phép nhiều loại nhiều văn hóa cùng phát triển, kể cả văn hóa trò chơi, giải trí, khuyến khích các nguồn đầu tư khác nhau cùng tham gia thị trường văn hóa. Ngoại trừ những tổ chức văn hóa là tiếng nói chính thống của Nhà nước, do Nhà nước trực tiếp quản lý thì về nguyên tắc, các lĩnh vực khác của công nghiệp văn hóa đều có thể cho phép vốn tư bản xã hội tham gia, hạn chế đầu tư vốn của nước ngoài về văn hóa. Phải nắm vững quy luật thị trường, nắm vững pháp luật, có chế độ kiểm soát hợp lý đối với các hành vi đầu tư để thị trường vốn tư bản công nghiệp văn hóa nước ta được vận hành một cách lành mạnh, hiệu quả.
Thứ ba, mở rộng tỷ lệ góp vốn trực tiếp, mở rộng mức độ nâng đỡ của thị trường vốn tư bản đối với sự phát triển công nghiệp văn hóa. Những năm gần đây, ở nước ta có khá nhiều doanh nghiệp văn hóa thông qua chế độ cổ phần thực hiện kinh doanh nhờ huy động vốn tư bản trong nước. Tuy nhiên, quy mô vốn đầu tư vào các xí nghiệp văn hóa này còn nhỏ, kết cấu của doanh nghiệp chưa thật hợp lý, trong khi đó, nhiều doanh nghiệp lớn của Nhà nước vẫn chưa thực sự năng động trong sử dụng vốn và chưa hiệu quả trong kinh doanh. Vì vậy, phải có kế hoạch và những bước đi cụ thể để sắp xếp, bố trí hợp lý, lấy doanh nghiệp văn hóa quy mô lớn của Nhà nước và kinh tế hỗn hợp có vốn tư bản nhà nước làm chủ thể, thông qua cải tạo và thực hiện chế độ cổ phần, phát hành cổ phiếu, trái phiếu, chuyển nhượng... đồng thời tích cực nâng đỡ các loại doanh nghiệp văn hóa vừa và nhỏ để kích thích phát triển.
Thứ tư, nhanh chóng thành lập quỹ công nghiệp văn hóa và quỹ đầu tư sự nghiệp, hướng dẫn chính xác xu hướng đầu tư của doanh nghiệp văn hóa. Hằng năm, Chính phủ trích ra một lượng tài chính nhất định để lập quỹ tuyên truyền phát triển sự nghiệp văn hóa, đồng thời huy động các nguồn vốn khác để xây dựng quỹ, tạo điều kiện cho các hoạt động phát triển văn hóa, nhất là văn hóa công cộng.
Thứ năm, tăng cường sự giúp đỡ của ngân hàng đối với công nghiệp văn hóa. Do tài sản cố định của doanh nghiệp văn hóa không nhiều nên việc vay tín dụng ngân hàng không phải lúc nào cũng dễ dàng vì tài sản thế chấp của các doanh nghiệp này không đủ so với quy định của ngân hàng. Bởi thế, cần có những điều chỉnh hợp lý về chế độ cho vay và kiểm soát rủi ro trong quá trình cung cấp tín dụng cho các hoạt động văn hóa. Bản thân các đơn vị kinh doanh văn hóa cũng phải tránh những rủi ro trong quá trình kinh doanh, hoàn thành hợp đồng tài chính đúng theo quy định của pháp luật.
Thứ sáu, khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước quyên góp tiền xây dựng các hạng mục văn hóa công ích phi doanh lợi. Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn phát triển văn hóa thời gian qua ở nước ta cho thấy, rất nhiều thân sĩ, trí thức, văn nghệ sĩ, các nhà hảo tâm đã tự nguyện quyên góp, hiến tặng, xây dựng nhiều công trình văn hóa có ý nghĩa. Đây cũng cần được coi là một loại văn hóa quan trọng mà chúng ta cần huy động.
Có thể nói, đa dạng hóa các loại hình đầu tư, tìm cách huy động nhiều nguồn vốn khác nhau để phát triển văn hóa, làm cho văn hóa thực sự là sự nghiệp của toàn dân là một chủ trương hoàn toàn đúng đắn trong cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.








Read more…