Báo cáo ngoại khóa chuyên đề Nhà nước của dân, do dân, vì dân

2:12 AM |
CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945 VÀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA CỦA DÂN, DO DÂN, VÌ DÂN
Nguyễn Trọng Phúc
Một trong những thắng lợi có ý nghĩa lịch sử và thời đại của dân tộc ta trong thế kỷ XX là thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và việc thành lập Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Cách mạng Tháng Tám đã xóa bỏ chế độ thuộc địa nửa phong kiến ở nước ta, mở ra kỷ nguyên mới của lịch sử dân tộc : kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là sự vùng dậy của cả một dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản với tinh thần "đem sức ta mà tự giải phóng cho ta". Đó là kết quả của phong trào cách mạng liên tục diễn ra suốt 15 năm kể từ ngày thành lập Đảng, với cao trào những năm 1930-1931 và Xô viết Nghệ - Tĩnh, cuộc vận động dân chủ 1936-1939 đến phong trào giải phóng dân tộc 1939-1945.
Viết về nguyên nhân thắng lợi và ý nghĩa của cuộc Cách mạng Tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh : "Vì chính sách của Đảng đúng và thi hành chính sách ấy kịp thời và linh động, cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám đã thành công". "Do sự lãnh đạo sáng suốt và kiên quyết của Đảng, do sức đoàn kết và hăng hái của toàn dân trong và ngoài Mặt trận Việt Minh, cuộc cách mạng Tháng Tám đã thắng lợi". Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám "chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng : "Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc". Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ : Cách mạng Tháng Tám đã lật đổ nền quân chủ mấy mươi thế kỷ, đã đánh tan xiềng xích thực dân gần 100 năm, đã đưa chính quyền lại cho nhân dân, đã xây nền tảng nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, độc lập, tự do, hạnh phúc. "Đó là một cuộc thay đổi cực kỳ to lớn trong lịch sử của nước ta".
Thành quả lớn nhất của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là đã xây dựng Nhà nước cách mạng kiểu mới ở Việt Nam.
Đặc trưng nổi bật của Nhà nước cách mạng kiểu mới đó là Nhà nước dân chủ, Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Ngay sau khi giành được chính quyền, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng toàn dân xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân. Ngay sau một tháng kể từ ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, trong bài Chính phủ là công bộc của dân Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ : "Các công việc của Chính phủ làm phải nhằm vào một mục đích duy nhất là mưu tự do hạnh phúc cho mọi người. Cho nên Chính phủ nhân dân bao giờ cũng phải đặt quyền lợi dân lên trên hết thảy. Việc gì có lợi cho dân thì làm. Việc gì có hại cho dân thì phải tránh".
Về chính quyền nhân dân ở các địa phương, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ yêu cầu : "Các Ủy ban nhân dân làng, phủ là hình thức Chính phủ địa phương phải chọn trong những người có công tâm, trung thành, sốt sắng với quyền lợi dân chúng, có năng lực làm việc, được đông đảo dân làng tín nhiệm. Không thể nhờ tiền tài hay một thế lực gì khác mà chui lọt vào các Ủy ban đó". Người nhấn mạnh : "Ủy ban nhân dân làng trái với các hội đồng kỳ mục cũ thối nát, sẽ làm những việc có lợi cho dân, không phạm vào công lý, vào tự do của dân chúng. Nó hết sức tránh những cuộc bắt bớ đánh đập độc đoán, những cuộc tịch thu tài sản không đúng lý. Ủy ban nhân dân thận trọng hết sức trong chỗ chi dùng công quỹ, không dám tuỳ ý tiêu tiền vào những việc xa phí như ăn uống" "Những nhân viên ủy ban sẽ không lợi dụng danh nghĩa Ủy ban để gây bè tìm cánh, đưa người "trong nhà trong họ" vào làm việc với mình" (...) "Ủy ban nhân dân là Ủy ban có nhiệm vụ thực hiện tự do dân chủ cho dân chúng. Nó phải hành động đúng tinh thần tự do dân chủ đó".
Một điều dễ nhận thấy là vai trò quan trọng của chính quyền ở địa phương và cơ sở trong việc thực thi dân chủ trực tiếp với nhân dân. Những ngày tháng sau Cách mạng Tháng Tám Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành nhiều thời gian viết nhiều bài về xây dựng các Ủy ban nhân dân. Ngày 11-9-1945, Người viết bài Cách thức tổ chức các Ủy ban nhân dân. Ngày 4-10-1945 Người viết bài : Thiếu óc tổ chức - một khuyết điểm lớn của các Ủy ban nhân dân. Và ngày 12-10-1945, Người lại viết bài Sao cho được lòng dân ? Người nhấn mạnh : "Phải chú ý giải quyết hết các vấn đề dẫu khó đến đâu mặc lòng, những vấn đề quan hệ tới đời sống của dân. Phải chấp đơn, phải xử kiện cho dân mỗi khi người ta đem tới. Phải chăm lo việc cứu tế nạn nhân cho chu đáo, phải chú ý trừ nạn mù chữ cho dân. Nói tóm lại, hết thảy những việc có thể nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của dân phải được đặc biệt chú ý" "muốn được dân yêu, muốn được lòng dân, trước hết phải yêu dân, phải đặt quyền lợi của dân lên trên hết thảy, phải có một tinh thần chí công vô tư".
Đặc biệt, trên báo Cứu quốc số 69 ra ngày 17-10-1945 đã đăng Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Một lần nữa Người nêu rõ bản chất cách mạng và dân chủ của chính quyền nhân dân, nguồn gốc sức mạnh của chính quyền là ở sự gắn bó với nhân dân, hết lòng, hết sức mưu cầu tự do, hạnh phúc cho nhân dân. "Nếu không có nhân dân thì Chính phủ không đủ lực lượng. Nếu không có Chính phủ, thì nhân dân không ai dẫn đường. Vậy nên Chính phủ với nhân dân phải đoàn kết thành một khối. Ngày nay, chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Nhưng nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì".
Trong xây dựng Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, Hồ Chí Minh coi trọng phát huy dân chủ để người dân tự lựa chọn bầu ra người đại biểu vào cơ quan chính quyền nhà nước. Ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời ngày 3-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai gái mười tám tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống v.v.. Viết về ý nghĩa của Tổng tuyển cử Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, "Tổng tuyển cử là một dịp cho toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài, có đức, để gánh vác công việc nước nhà. Tổng tuyển cử tức là tự do, bình đẳng ; tức là dân chủ, đoàn kết". "Do Tổng tuyển cử mà toàn dân bầu ra Quốc hội. Quốc hội sẽ cử ra Chính phủ. Chính phủ đó thật là Chính phủ của toàn dân".
Nhấn mạnh dân chủ, đồng thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng quản lý đất nước, xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, quan tâm xây dựng Nhà nước pháp quyền. Ngay từ khi còn đi tìm đường cứu nước, năm 1919, Nguyễn Ái Quốc thay mặt những người yêu nước Việt Nam trong yêu sách 8 điểm gửi tới Hội nghị Véc-xây đã yêu cầu cải cách pháp luật ở Đông Dương để người bản xứ được bảo đảm về luật pháp như người châu Âu. Nguyễn Ái Quốc đã nêu rõ tư tưởng xây dựng nhà nước pháp quyền, Người nhấn mạnh "Trăm điều phải có thần linh pháp quyền". Một ngày sau lễ tuyên bố độc lập, ngày 3-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ : "Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ".
Với tư cách là người đứng đầu Nhà nước và Chính phủ, Trưởng ban soạn thảo Hiến pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát huy trí tuệ của Đảng, toàn dân cùng với Quốc hội được bầu ra ngày 6-1-1946 soạn thảo bản Hiến pháp dân chủ, đó là bản Hiến pháp đầu tiên trong lịch sử nước nhà. Cách mạng Tháng Tám thành công, Nhà nước cách mạng mới được xây dựng qua 14 tháng, đã có được bản Hiến pháp do Quốc hội khóa I, kỳ họp thứ hai thông qua ngày 9-11-1946. Đó là hiện tượng đặc biệt của lịch sử các cuộc cách mạng trên thế giới. Và trong hoàn cảnh cách mạng nước ta "vừa kháng chiến, vừa kiến quốc" phải vượt qua bao khó khăn, thách thức, việc thông qua Hiến pháp càng có ý nghĩa quan trọng về thực tiễn và pháp lý. Đó còn là thành quả to lớn của quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Trong Lời nói đầu của Hiến pháp đầu tiên (1946) đã nêu rõ : Cuộc Cách mạng Tháng Tám đã giành lại chủ quyền cho đất nước, tự do cho nhân dân và lập ra nền dân chủ cộng hòa. Hiến pháp là thành quả vẻ vang của cách mạng và được xây dựng trên các nguyên tắc :
- Đoàn kết toàn dân không phân biệt giống nòi, trai gái, giai cấp, tôn giáo.
- Bảo đảm các quyền tự do dân chủ.
- Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân.
Bản chất cách mạng và nhân dân, tính chất dân chủ và pháp quyền hòa quyện và thống nhất với nhau khi Hiến pháp khẳng định : Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam. Điều khẳng định đó khiến ta nhớ lại tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh trong cuốn Đường cách mệnh (1927) khi Người cho rằng : Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh, thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc. Từ một ý tưởng, một tư tưởng lớn đến điều được ghi trong Hiến pháp là kết quả của cả một chặng đường đấu tranh cách mạng lâu dài, đầy hy sinh, gian khổ của dân tộc ta, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng và của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó là sự hiện thực hóa, pháp chế hóa mục tiêu đấu tranh cách mạng của Đảng và nhân dân ta.
Tính chất dân chủ, bản chất nhân dân của Hiến pháp năm 1946 thật sâu sắc và đến nay vẫn giữ nguyên giá trị. Sự xác định rõ nghĩa vụ và quyền lợi công dân đã thể hiện điều đó. Mỗi công dân Việt Nam phải có nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc, tôn trọng Hiến pháp và tuân theo pháp luật. Có tới 11 điều của Hiến pháp quy định về quyền lợi của công dân (từ điều thứ 6 đến điều thứ 16). Hiến pháp xác định tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện : chính trị, kinh tế, văn hóa. Công dân đều bình đẳng trước pháp luật, đều được tham gia chính quyền và công cuộc kiến quốc tuỳ theo tài năng và đức hạnh của mình. Ngoài sự bình đẳng về quyền lợi, những quốc dân thiểu số được giúp đỡ về mọi phương diện để chóng tiến kịp trình độ chung. Đàn bà được ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện. Công dân Việt Nam có quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài. Tư pháp chưa quyết định thì không được bắt bớ và giam cầm người công dân Việt Nam. Nhà ở và thư tín của công dân Việt Nam không ai được xâm phạm một cách trái pháp luật. Quyền tư hữu tài sản của công dân được bảo đảm. Quyền lợi của những người trí thức và lao động chân tay được bảo đảm. Người tàn tật, già cả được giúp đỡ. Trẻ con được săn sóc về mặt giáo dưỡng. Thực hiện chế độ phổ cập giáo dục bắt buộc v.v.. Đó là những nội dung dân chủ mang tính cách mạng sâu sắc. Từ đó đến nay những nội dung nền tảng đó tiếp tục được phát triển, bổ sung trong các bản Hiến pháp tiếp theo, đã và đang được thực hiện một cách sinh động trên đất nước ta.
Những quy định của Hiến pháp 1946 về tổ chức bộ máy nhà nước từ Nghị viện nhân dân, Chính phủ đến Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính các cấp, về cơ quan tư pháp đều chứa đựng sâu sắc bản chất của một nhà nước cách mạng - Nhà nước pháp quyền kiểu mới, của dân, do dân và vì dân.
Nhà nước của dân và do dân nghĩa là nhân dân xây dựng, củng cố, bảo vệ chính quyền nhà nước, coi chính quyền là ruột thịt của mình. Nhà nước vì dân nghĩa là nhà nước mưu cầu quyền lợi, hạnh phúc cho nhân dân. Vì dân không chỉ là mục tiêu hoạt động và tồn tại của chính quyền mà còn là phương thức, phong cách và phương pháp hành động của chính quyền. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc lại nhiều lần : "Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh vác việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật". Người nhấn mạnh : "Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì có hại đến dân, ta phải hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta".
Xây dựng Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức chú trọng rèn luyện đội ngũ cán bộ chính quyền. Chỉ hơn một tháng sau khi thành lập chính quyền cách mạng, trong thư gửi Ủy ban nhân dân các cấp Người đã chỉ rõ : "Tôi vẫn biết trong các bạn có nhiều người làm theo đúng chương trình của Chính phủ, và rất được lòng dân. Song cũng có nhiều người phạm những lầm lỗi nặng nề". Người đã thẳng thắn chỉ ra những lầm lỗi chính như : trái phép, cậy thế, hủ hóa, tư túi, chia rẽ, kiêu ngạo. Người đã chỉ rõ những biểu hiện cụ thể của từng lỗi lầm đó. Trong những lỗi lầm đó nổi bật lên là bệnh tham ô, xa hoa, lãng phí, quan liêu và hách dịch với dân. Người nghiêm khắc phê phán những biểu hiện như : "ngang tàng, phóng túng, muốn sao được vậy, coi khinh dư luận, không nghĩ đến dân. Quên rằng dân bầu mình ra là để làm việc cho dân, chứ không phải để cậy thế với dân". Trong khi đời sống của dân còn đói khổ mà cán bộ "Ăn muốn cho ngon, mặc muốn cho đẹp, càng ngày càng xa xỉ, càng ngày càng lãng mạn, thử hỏi tiền bạc ấy ở đâu ra ? Thậm chí lấy của công dùng vào việc tư, quên cả thanh liêm, đạo đức". Những biểu hiện kéo bè, kéo cánh, cá nhân, cục bộ, không vì việc chung v.v.. cũng rất nặng nề. Đặc biệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh phê phán gay gắt thái độ, cử chỉ lúc nào cũng vác mặt "quan cách mạng" hoặc là độc hành, độc đoán, hoặc là dĩ công, dinh tư (lấy của chung làm của riêng), thậm chí dùng pháp công để báo thù tư (dùng pháp luật nhà nước để trả thù riêng). Thái độ đó làm mất lòng tin cậy của dân và uy tín của Chính phủ.
Phê phán những khuyết điểm của cán bộ chính quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh mong muốn mọi người sửa chữa để chính quyền ngày càng hoàn thiện và làm việc tốt hơn. Người nêu rõ : "Chúng ta không sợ sai lầm, nhưng đã nhận biết sai lầm thì phải ra sức sửa chữa. Vậy nên, ai không phạm những lầm lỗi trên này, thì nên chú ý tránh đi, và gắng sức cho thêm tiến bộ. Ai đã phạm những lầm lỗi trên này, thì phải hết sức sửa chữa ; nếu không tự sửa chữa thì Chính phủ sẽ không khoan dung".
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đặt ra yêu cầu mọi cán bộ phải thường xuyên tự phê bình, tự giáo dục, tự chỉ trích để khắc phục khuyết điểm và cái hư hỏng trong mỗi người và trong bộ máy. Người đòi hỏi cán bộ phải nhận thức và tự giáo dục không ngừng, cần phải có sự thành thực vạch ra những khuyết điểm sai lầm mà sửa đổi đi. Sau khi làm xong một công tác gì, hay sau mỗi ngày làm việc, cần phải tự mình kiểm điểm xem có chỗ nào nhầm lẫn, chỗ nào chưa đầy đủ, có được ưu điểm gì nên nhớ, có được kinh nghiệm gì quý đáng ghi. Phải bỏ thái độ "xong việc thì thôi". "Không chịu tự phê bình, tự chỉ trích thì không bao giờ tấn tới được".
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng những khuyết điểm nhỏ của cán bộ thì làm cho dân chúng hoang mang, lớn thì ảnh hưởng đến khối đoàn kết toàn dân. Vì vậy, chúng ta phải lập tức sửa đổi ngay. Chúng ta không sợ có khuyết điểm mà chỉ sợ không có quyết tâm sửa đổi.
Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta mong muốn và đã làm hết sức mình để xây dựng, củng cố vững chắc Nhà nước kiểu mới - Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Nhà nước và bộ máy chính quyền các cấp thật sự là công bộc của nhân dân, gắn bó mật thiết với nhân dân, hết lòng vì nhân dân. Chăm lo xây dựng Hiến pháp và hệ thống luật pháp phản ánh ý chí, nguyện vọng, lợi ích và quyền lực của nhân dân, quyền làm chủ đất nước và xã hội của nhân dân. Hoạt động thực tiễn của chính quyền nhà nước và nội dung Hiến pháp, pháp luật cũng thể hiện đường lối, mục tiêu cách mạng của Đảng Cộng sản. Do hoàn cảnh lịch sử lúc đó mà Đảng phải rút vào bí mật (11-11-1945). Nhưng như Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, dù là bí mật, Đảng vẫn lãnh đạo chính quyền và nhân dân. Chính nhờ sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh mà bản chất cách mạng, bản chất nhân dân, tính chất dân chủ triệt để được giữ vững và tăng cường. Cũng nhờ sự lãnh đạo đó mà sức mạnh và thực lực của chính quyền nhân dân không ngừng được củng cố, bảo đảm cho Nhà nước non trẻ vượt qua được những khó khăn, thách thức, hiểm nghèo giữ vững và phát triển thành quả của cuộc Cách mạng Tháng Tám lịch sử.
Ý nghĩa lịch sử của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 về phương diện xây dựng Nhà nước kiểu mới mãi mãi là bài học lớn, là định hướng sáng rõ cho đến ngày nay và nhiệm vụ sắp tới trong việc xây dựng và không ngừng hoàn thiện Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đại hội IX Đảng Cộng sản Việt Nam nêu ra những quan điểm và biện pháp cơ bản về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đại hội chỉ rõ : "Nhà nước ta là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân". Đó là sự tiếp tục phát triển thành quả của Cách mạng Tháng Tám và sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân trong thời kỳ mới.















HIẾN PHÁP NĂM 1946 VƠI TƯ TƯỞNG PHÁP QUYỀN
TS Nguyễn Sĩ Dũng
Nếu pháp quyền là những nguyên tắc và phương thức tổ chức quyền lực sao cho lạm quyền không thể xảy ra và quyền tự do, dân chủ của nhân dân được bảo vệ thì Hiến pháp năm 1946 đã phản ánh đúng tinh thần đó.
60 năm đã trôi qua kể từ mùa thu năm ấy. Sống mãi với thời gian là các giá trị của Cách mạng tháng Tám: độc lập, tự do, dân chủ. Sống mãi với thời gian là tư tưởng pháp quyền kết tinh trong bản hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Bản hiến pháp đó còn được gọi là Hiến pháp 1946.
Hiến pháp 1946 là một bản hiến văn hết sức ngắn gọn, súc tích. Toàn bộ bản hiến văn chỉ gồm 70 điều. Trong đó có những điều chỉ vẻn vẹn một dòng. (Ví dụ Điều 12 được viết như sau: “Quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam được bảo đảm”). Một trong những lý do giải thích sự ngắn gọn này là: Hiến pháp 1946 đã được thiết kế theo tư tưởng pháp quyền.
Nếu pháp quyền là những nguyên tắc và phương thức tổ chức quyền lực sao cho lạm quyền không thể xảy ra và quyền tự do, dân chủ của nhân dân được bảo vệ thì Hiến pháp năm 1946 đã phản ánh đúng tinh thần đó.
Trước hết, để lạm quyền không thể xảy ra thì hiến pháp đã được đặt cao hơn nhà nước. Về mặt lý luận, điều này có thể đạt được bằng hai cách: 1- Hiến pháp phải do Quốc hội lập hiến thông qua; 2- Hoặc hiến pháp phải do toàn dân thông qua. Hiến pháp 1946 đã thực sự do một Quốc hội lập hiến thông qua. Theo quy định của Hiến pháp 1946, nước ta không có Quốc hội mà chỉ có Nghị viện nhân dân với nhiệm kỳ ba năm. Như vậy, nếu không có chiến tranh, sau khi thông qua hiến pháp, Quốc hội sẽ tự giải tán để tổ chức bầu Nghị viện nhân dân. Nghị viện nhân dân không thể tự mình sửa đổi Hiến pháp. Mọi sự sửa đổi, bổ sung đều phải đưa ra toàn dân phúc quyết (Điều 70 Hiến pháp 1946).
Hai là các quyền của người dân được Hiến pháp ghi nhận và bảo đảm. Hiến pháp ghi nhận và bảo đảm thì cao hơn là nhà nước ghi nhận và bảo đảm. Vì rằng nếu nhà nước ghi nhận và bảo đảm thì quyền chủ động là thuộc nhà nước, nhưng nếu hiến pháp ghi nhận và bảo đảm thì nhà nước không có quyền chủ động ở đây.
Ba là quyền năng giữa các cơ quan nhà nước được phân chia khá rõ và nhiều cơ chế kiểm tra và giám sát lẫn nhau đã được thiết kế. Ví dụ “quyền kiểm soát và phê bình Chính phủ” của Ban thường vụ Nghị viện (Điều 36 Hiến pháp1946); quyền của “nghị viên không bị truy tố vì lời nói hay biểu quyết trong Nghị viện” (Điều 40 Hiến pháp1946); Thủ tướng có quyền nêu vấn đề tín nhiệm để Nghị viện biểu quyết (Điều 54 Hiến pháp 1946)…
Bốn là quyền năng giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương cũng được phân chia rất rõ. Nghị viện nhân dân chỉ quyết định những vấn đề “chung cho toàn quốc” (Điều 23 Hiến pháp 1946). Hội đồng nhân dân được quyền quyết định “những vấn đề thuộc địa phương mình” (Điều 59 Hiến pháp 1946).
Cuối cùng, vai trò độc lập xét xử của toà án được bảo đảm. Điều này đạt được nhờ hai cách: một là các toà được thiết kế không theo cấp hành chính (Điều 63 Hiến pháp 1946); hai là khi xét xử, thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không được can thiệp” (Điều 69 Hiến pháp 1946).

QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA CỦA NHÂN DÂN, DO NHÂN DÂN VÀ VÌ NHÂN DÂN
Tô Huy Rứa

Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân là một hệ thống các quan điểm lý luận về bản chất, chức năng, cơ chế hoạt động, tổ chức bộ máy, xây dựng đội ngũ cán bộ công chức nhà nước; trong đó, quan niệm về nhà nước pháp quyền là một tư tưởng nhất quán, thể hiện tầm nhìn vượt thời đại và có giá trị lâu bền. Trong di sản lý luận của mình, Hồ Chí Minh đã có lần chính thức sử dụng thuật ngữ "chế độ pháp trị". Tiếp xúc với nền văn minh Âu - Mỹ, nhất là kinh nghiệm tổ chức, điều hành đời sống xã hội, Hồ Chí Minh cho rằng, quản lý xã hội bằng pháp luật là dân chủ, tiến bộ và có tính chất phổ biến đối với các xã hội hiện đại.
Nhận thức được tầm quan trọng của luật pháp, từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã đề cập đến vai trò của chúng trong điều hành và quản lý xã hội. Năm 1919, tám yêu sách của nhân dân An Nam gửi tới Hội nghị Véc- xây đã có 4 điểm liên quan đến vấn đề pháp quyền, còn lại liên quan đến công lý và quyền con người.
Sau này, bản Yêu sách của nhân dân An Nam được Hồ Chí Minh chuyển thành "Việt Nam yêu cầu ca", trong đó yêu cầu thứ bảy là:
"Bảy xin hiến pháp ban hành,
Trăm điều phải có thần linh pháp quyền"(1)
"Trăm điều" là một đại lượng được sử dụng theo cách ẩn dụ để đề cập một cái chung, bao quát. Còn "thần linh pháp quyền" là một cách nói theo ngôn ngữ ngày nay, là ý thức, tinh thần pháp luật phải chi phối, chỉ đạo mọi hành vi, hoạt động của bộ máy, cơ quan nhà nước; môi trường pháp lý phải bao trùm mọi mặt, mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Đây là tư tưởng rất đặc sắc của Hồ Chí Minh, phản ánh nội dung cốt lõi của Nhà nước dân chủ mới - Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật. Đồng thời, đây cũng là nguyên tắc xuyên suốt trong hoạt động quản lý nhà nước của Người.
Sau Cách mạng Tháng Tám, năm 1945, Hồ Chí Minh đề ra một trong sáu nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là: Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ. Cùng với chủ trương xây dựng Hiến pháp, ngày 10-10-1945, Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh SL/47 cho phép sử dụng một số điều khoản của pháp luật cũ để điều chỉnh các quan hệ dân sự. Trong nhận thức của Hồ Chí Minh, pháp luật của các chế độ xã hội có những giá trị nhân bản chung mà chúng ta có thể kế thừa, phát triển. Ở đây, Hồ Chí Minh đã nhìn nhận pháp luật trong chiều sâu văn hóa của nó.
Sau năm 1954, khi miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đất nước đạt được nhiều thành tựu quan trọng, nhiều quy định trong Hiến pháp năm 1946 không còn phù hợp, Hồ Chí Minh đã chủ trương sửa đổi và ban hành Hiến pháp mới - Hiến pháp năm 1959. Trong tư duy Hồ Chí Minh, một khi điều kiện kinh tế - xã hội thay đổi thì pháp luật, nhất là đạo luật "gốc" - Hiến pháp, cũng phải thay đổi để bảo đảm khả năng điều chỉnh hợp lý các quan hệ xã hội đã phát sinh và định hình.
Ngoài hai bản Hiến pháp, từ năm 1945 đến 1969, Hồ Chí Minh còn chỉ đạo soạn thảo, ký quyết định công bố 16 đạo luật và 1.300 văn bản dưới luật. Khối lượng văn bản luật đó luôn thể hiện rõ việc đề cao tính nhân đạo và nhân văn, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp của nhà nước mà nhân dân là chủ và do nhân dân làm chủ.
Hồ Chí Minh luôn khẳng định: Pháp luật của ta là pháp luật dân chủ, phải nghiêm minh và phát huy hiệu lực thực tế. Nhà nước ta cũng sử dụng pháp luật để quản lý xã hội. Song pháp luật của ta đã có sự thay đổi về chất, mang bản chất của giai cấp công nhân, là một loại hình pháp luật kiểu mới, pháp luật thật sự dân chủ, vì nó bảo vệ quyền tự do, dân chủ rộng rãi cho nhân dân lao động. Tuy nhiên, pháp luật dân chủ ở Hồ Chí Minh cũng được xem xét trong các mối quan hệ hết sức đặc trưng:
- Trong quan niệm về thực chất của dân chủ: "Không nên hiểu lầm dân chủ. Khi chưa quyết định thì tha hồ bàn cãi. Nhưng khi đã quyết định rồi thì không được bàn cãi nữa, có bàn cãi cũng chỉ là để bàn cách thi hành cho được, cho nhanh, không phải để đề nghị không thực hiện. Phải cấm chỉ những hành động tự do quá trớn ấy" (2).
- Trong việc xác định rõ giới hạn của các quyền tự do cá nhân, Người nói: Nhân dân ta hiện nay có tự do, tự do trong kỷ luật. Mỗi người có tự do của mình, nhưng phải tôn trọng tự do của người khác. Người nào sử dụng quyền tự do của mình quá mức là phạm đến tự do của người khác, là phạm pháp. Không thể có tự do cho bọn việt gian, bọn phản động, bọn phá hoại tự do của nhân dân.
- Trong việc xử lý mối quan hệ giữa quyền và nghĩa vụ công dân, pháp luật dân chủ vừa thể hiện các quyền, lợi ích của công dân, nhưng cũng quy định rõ các nghĩa vụ mà người dân phải thực hiện. Hưởng quyền và thực hiện nghĩa vụ là thuộc tính hai mặt của một người dân làm chủ nhà nước.
Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Pháp luật của ta là pháp luật dân chủ; mọi công dân của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đều bình đẳng trước pháp luật cả về quyền lợi và nghĩa vụ; ai vi phạm pháp luật đều phải xử lý nghiêm khắc, cho dù người đó ở vị trí nào trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của Đảng, Nhà nước. Theo Người, hiệu lực của pháp luật chỉ có được khi mọi người đều nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật; pháp chế chỉ bảo đảm khi các quy phạm pháp luật được thực thi trong các quan hệ xã hội; mọi hành vi vi phạm pháp luật phải bị xử lý. Như vậy, trong thực thi luật pháp, việc thưởng phạt phải nghiêm minh. Vì nếu thưởng phạt không nghiêm minh thì người cúc cung tận tụy lâu ngày cũng thấy chán nản, còn người hư hỏng, vi phạm pháp luật, kỷ luật sẽ ngày càng lún sâu vào tội lỗi, làm thiệt hại cho nhân dân. Trong một nước, thưởng phạt phải nghiêm minh thì nhân dân mới yên ổn, kháng chiến mới thắng lợi, kiến quốc mới thành công.
Muốn pháp luật nghiêm minh, phát huy hiệu lực, cần có các điều kiện:
Trước hết, pháp luật đó phải đúng và phải đủ. Pháp luật đúng là pháp luật phản ánh trung thành bản chất các quan hệ xã hội khách quan, tiếp cận đến chân lý, mà chân lý là tất cả những gì phù hợp với lợi ích của nhân dân. Còn pháp luật đủ là phải có tính đồng bộ, bao quát được các mặt, các loại quan hệ, các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Thứ hai, pháp luật phải đến được với dân, "đi vào giữa dân gian". Để pháp luật được thực thi trong đời sống xã hội phải chú trọng giáo dục, tuyên truyền pháp luật cho mọi đối tượng dân cư, làm cho họ biết, hiểu và thực hiện đúng. Trong điều kiện dân trí còn thấp, học vấn hạn chế, văn hóa dân chủ chưa cao, việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật càng trở nên cần thiết.
Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, tuyên truyền, giáo dục pháp luật là một "công đoạn" trong toàn bộ quy trình xây dựng - thông qua, ban hành - thực hiện, giám sát - sửa đổi, điều chỉnh pháp luật. Tại Hội nghị thảo luận Luật Hôn nhân và Gia đình, vấn đề này đã được Hồ Chí Minh chỉ rõ: "công bố đạo luật này chưa phải đã là mọi việc đều xong, mà còn phải tuyên truyền giáo dục lâu dài mới thực hiện được tốt". Muốn dân hiểu, dân nhớ để làm theo, trong tuyên truyền phải biết cách diễn đạt đơn giản, ngắn gọn, nhưng tuyệt đối chính xác, phù hợp với đặc điểm tâm lý, tính cách, văn hóa của các đối tượng dân cư từng khu vực, từng miền trên đất nước.
Thứ ba, cán bộ trực tiếp thực thi luật pháp phải thật sự công tâm và nghiêm minh. Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ, đảng viên có nhiệm vụ "gương mẫu chấp hành pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của các đoàn thể cách mạng của quần chúng mà mình tham gia". Người nhiều lần phê phán những cán bộ, đảng viên không chấp hành pháp luật của Nhà nước, cá nhân chủ nghĩa sinh ra tự do chủ nghĩa, không tôn trọng pháp luật và thể lệ nhà nước, làm gương xấu cho quần chúng nhân dân.
Trong việc giữ vững tính nghiêm minh và hiệu lực của pháp luật, cán bộ làm công tác tư pháp có vai trò quan trọng. Họ chính là người trực tiếp thực thi luật pháp, đại diện cụ thể cho "cán cân công lý". Vì thế, Hồ Chí Minh yêu cầu ở họ phải có phẩm chất đạo đức cần thiết: Trong công tác xử án phải công bằng, liêm khiết, trong sạch như thế cũng chưa đủ vì không thể chỉ hạn chế hoạt động của mình trong khung tòa án mà còn phải gần dân, giúp dân, học dân, hiểu dân để giúp mình thêm liêm khiết, thêm công bằng, trong sạch.
Đối với những người lợi dụng chức vụ, quyền hạn vi phạm pháp luật hoặc xử lý không đúng, không nghiêm các trường hợp vi phạm pháp luật, Hồ Chí Minh chỉ rõ: Có cán bộ, đảng viên lợi dụng quyền thế của Đảng và Nhà nước làm những việc trái với chính sách và pháp luật, xâm phạm đến lợi ích vật chất và quyền tự do dân chủ của nhân dân, nhưng cũng chưa bị xử lý kịp thời..., như vậy là kỷ luật chưa nghiêm. Người yêu cầu kiên quyết trừng trị những kẻ vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền lợi của công dân, làm cho nhân dân bất bình, oan ức.
Với Hồ Chí Minh, pháp luật không phải là để trừng trị con người mà là công cụ bảo vệ, thực hiện lợi ích của con người. Tư tưởng pháp quyền của Người không chỉ dừng lại ở các quyền con người được ghi trong các văn bản pháp luật mà còn thấm đượm một tấm lòng thương yêu nhân dân, chăm lo cho ấm no, hạnh phúc của nhân dân, thấm đượm lòng nhân ái, nghĩa đồng bào theo đạo lý truyền thống ngàn năm của dân tộc Việt Nam. Vì thế, pháp quyền Hồ Chí Minh là pháp quyền đặc biệt, pháp quyền nhân nghĩa - một thứ nhân nghĩa có nội hàm triết lý, mang đậm tính dân tộc và dân chủ sâu sắc.
Trên thế giới, từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây tồn tại hai phương thức trị nước chủ yếu: đức trị và pháp trị. Bản thân Hồ Chí Minh cũng đã có lần đề cập đến chế độ pháp trị: ... Tư pháp cần góp phần của mình là thực hiện chế độ pháp trị, giữ vững và bảo vệ quyền lợi nhân dân, bảo vệ chế độ dân chủ nhân dân. Nhưng trong thực tế, Người đã kết hợp chặt chẽ việc quản lý, điều hành xã hội bằng pháp luật với việc tuyên truyền, giáo dục đạo đức cách mạng, nâng cao bản lĩnh công dân, giác ngộ lý tưởng cách mạng cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Hồ Chí Minh nhận rõ cả pháp luật và đạo đức đều dùng để điều chỉnh hành vi của con người, nâng con người lên, hướng con người tới chân, thiện, mỹ. Pháp luật góp phần hoàn thiện nhân cách làm người, còn đạo đức làm cho người ta thực hiện luật pháp một cách tự giác. Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, đạo đức là cơ sở để xây dựng, thực hiện pháp luật. Nền pháp quyền của ta là một nền pháp quyền hợp đạo đức, có nhân tính. Hồ Chí Minh lý giải: nghĩ cho cùng, vấn đề tư pháp, cũng như mọi vấn đề khác, trong lúc này là vấn đề ở đời và làm người. Ở đời và làm người là phải thương nước, thương dân, thương nhân loại đau khổ bị áp bức. Phải làm sao đóng góp vào việc làm cho nước độc lập, dân được tự do, hạnh phúc, nhân loại khỏi đau khổ.
Sự thống nhất giữa đạo đức và pháp luật trong tư tưởng Hồ Chí Minh được thể hiện ở quan niệm xử lý các hành vi phạm pháp, nguyên tắc "có lý","có tình" chi phối mọi hành vi ứng xử của con người, tôn trọng cái lý, đề cao cái tình, tùy từng trường hợp, tình huống cụ thể mà Hồ Chí Minh nhấn mạnh mặt này hay mặt khác. Xử lý hành vi vi phạm pháp luật phải kịp thời, nghiêm minh. Pháp luật không loại trừ một ai, nhằm ngăn chặn, đẩy lùi cái xấu, cái ác, khuyến khích, nâng đỡ, phát huy cái tốt, cái thiện vốn có trong mỗi con người, chứ không đơn thuần trừng phạt, răn đe. Trong việc thực thi pháp luật cũng phải bảo đảm tính hài hòa giữa các mặt tưởng chừng như đối lập nhau. Phương châm của Hồ Chí Minh là: không xử phạt là không đúng; song, cái gì cũng trừng phạt cả cũng là không đúng, nên phải tránh lạm dụng pháp luật. Tính nghiêm minh và hiệu lực của luật pháp không chỉ phụ thuộc vào sự đúng đắn của pháp luật mà trong quan hệ thực tế còn phụ thuộc vào cả cái tâm của chính người đại diện cho pháp luật.
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, tiếp thu các giá trị tư tưởng hiện đại của loài người, trước nhu cầu thực tiễn phát triển đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương lãnh đạo xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta. Quan điểm về nhà nước pháp quyền của Đảng là một bộ phận hợp thành tổng thể lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.
Nhận thức của Đảng về nhà nước pháp quyền là một quá trình. Trước những năm 90 của thế kỷ XX, trên bình diện lý luận, chúng ta chỉ dùng các khái niệm "Nhà nước chuyên chính vô sản", "Nhà nước xã hội chủ nghĩa". Đến năm 1994, tại Hội nghị đại biểu toàn quốc của Đảng giữa nhiệm kỳ khóa VII, khái niệm "nhà nước pháp quyền" đã được nêu lên. Từ đó, Đảng ta nhận thức rất rõ rằng, nhà nước pháp quyền là một thành tựu vĩ đại của tư tưởng nhân loại; xét về bản chất, không chỉ có một loại nhà nước pháp quyền duy nhất; mà dựa trên cơ sở kinh tế - xã hội, bản chất chế độ xã hội khác nhau, vẫn tồn tại Nhà nước pháp quyền tư bản chủ nghĩa và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Nhận thức này ngày càng thống nhất trong toàn Đảng và được khẳng định rõ tại Đại hội IX của Đảng (4-2001): Nhà nước ta là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật. Mọi cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức, mọi công dân có nghĩa vụ chấp hành Hiến pháp và pháp luật. Quan điểm này đã được thể hiện trong việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 và cụ thể hóa trong Điều 2: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.
Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.
Trong Dự thảo Đề cương các Văn kiện trình Đại hội X của Đảng, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được khẳng định thành một vấn đề có tính nguyên tắc với các nội dung: nghiên cứu, thể chế hóa và xây dựng cơ chế vận hành cụ thể để bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân; nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; xây dựng cơ chế bảo vệ Hiến pháp, đồng thời định rõ cơ chế, cách thức bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp và luật trong đời sống kinh tế - xã hội của đất nước.
Thực hiện nguyên tắc này, trên thực tế là tiếp tục quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền trong những điều kiện và yêu cầu phát triển mới của đất nước. Cụ thể là:
- Cần phải nhận thức đúng đắn vai trò của pháp luật trong nhà nước pháp quyền, bảo đảm để pháp luật trở thành phương tiện cho người dân thực hiện quyền làm chủ của mình, sống và làm việc theo Hiến pháp, pháp luật.
- Xây dựng đồng bộ và hoàn thiện hệ thống pháp luật, đáp ứng tốt và kịp thời nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
- Kiện toàn, nâng cao chất lượng các cơ quan làm luật, xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp đủ phẩm chất và năng lực.
- Đẩy mạnh công tác giáo dục ý thức pháp luật cho nhân dân, coi trọng tuyên truyền, hướng dẫn, giải thích, hỗ trợ tư vấn pháp luật, nhất là ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa; giáo dục pháp luật phải gắn liền với giáo dục đạo đức cách mạng.
- Pháp luật phải được thực thi nghiêm chỉnh từ cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước đến các tổ chức xã hội và công dân; mọi hành động vi phạm pháp luật phải được xử lý đúng, kịp thời, không để sót người, sót tội, không gây oan ức cho người vô tội...
- Tăng cường vai trò và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền, nhất là nâng cao tầm trí tuệ và tư duy lý luận của Đảng trong chỉ đạo định hướng xây dựng hệ thống pháp luật.

QUAN ĐIỂM CỦA V.I LÊ –NIN VỀ NHÀ NƯỚC VÀ VẤN ĐỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Trần Ngọc Liêu
Những đóng góp to lớn của V.I.Lê-nin đối với lý luận về nhà nước không chỉ ở việc làm sáng tỏ những quan điểm căn bản của C.Mác và Ph.Ăng-ghen về nhà nước, đem lại vũ khí lý luận sắc bén cho cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân, giành lấy, tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước, cũng như đấu tranh chống lại mọi âm mưu hòng xuyên tạc, bẻ cong và nhằm bác bỏ lý luận mác-xít về nhà nước; mà còn thể hiện ở việc đi sâu, phát triển lý luận mác-xít về nhà nước trên một số phương diện, phù hợp với trình độ phát triển mới của thực tiễn. Nghiên cứu quan điểm của V.I.Lê-nin về nhà nước đặc biệt quan trọng đối với việc xây dựng mô hình nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay, bởi lẽ những quan điểm ấy đã được hiện thực hóa, trở thành một thực thể sống động trong thực tiễn đời sống.
Nhất quán với tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăng-ghen, V.I.Lê-nin tiếp tục khẳng định rằng, nhà nước là một hiện tượng lịch sử, sự tồn tại và tiêu vong của nó là tùy thuộc vào những điều kiện cụ thể; “nhà nước chỉ là một tổ chức thống trị của một giai cấp” và “bất cứ nhà nước nào cũng là một bộ máy để một giai cấp này trấn áp giai cấp khác”.
Đối với V.I.Lê-nin, khái niệm “nhà nước” là để chỉ bộ máy nhà nước trong xã hội có giai cấp. Ông viết: “đặc trưng của nhà nước là sự tồn tại của một giai cấp đặc biệt, tập trung quyền lực trong tay. Dĩ nhiên, không ai có thể dùng hai tiếng nhà nước để gọi một cộng đồng, trong đó tất cả mọi thành viên đều thay phiên nhau quản lý “tổ chức của trật tự’”. Chính sự tập trung quyền lực chính trị trong tay một giai cấp đặc biệt là đặc trưng để phân biệt nhà nước với mọi hình thức tổ chức xã hội khác. V.I.Lê-nin vạch rõ: “Nếu quyền lực chính trị trong nước nằm trong tay một giai cấp có quyền lợi phù hợp với quyền lợi của đa số, thì mới có thể thực hiện việc điều khiển công việc quốc gia thực sự theo đúng nguyện vọng của đa số. Nhưng nếu quyền lực chính trị nằm trong tay một giai cấp có quyền lợi khác với quyền lợi của đa số, thì việc điều khiển công việc quốc gia theo nguyện vọng của đa số không khỏi trở thành một sự lừa gạt, hoặc đưa đến chỗ đàn áp đa số ấy”. Ông giải thích: “Quyền chính trị là gì, nếu không phải là cách diễn đạt, là việc ghi nhận so sánh lực lượng?”. Đây chính là sự phát triển quan điểm: quyền lực chính trị, theo đúng nghĩa của nó, là bạo lực có tổ chức của một giai cấp để trấn áp một giai cấp khác của C.Mác và Ph.Ăng-ghen.
Về bản chất giai cấp của nhà nước, V.I.Lê-nin khẳng định: “Nhà nước là sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được. Bất cứ đâu, hễ lúc nào và chừng nào mà, về mặt khách quan, những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được, thì nhà nước xuất hiện. Và ngược lại: sự tồn tại của nhà nước chứng tỏ rằng những mâu thuẫn giai cấp là không thể điều hòa được”.
Nếu như xã hội đã từng tồn tại không cần có nhà nước, thì cùng với sự phát triển của sản xuất, xã hội loài người sớm muộn cũng sẽ đạt tới trình độ loại bỏ nhà nước. V.I.Lê-nin viết: “Mục đích cuối cùng mà chúng ta theo đuổi, là thủ tiêu nhà nước, nghĩa là thủ tiêu mọi bạo lực có tổ chức và có hệ thống, mọi bạo lực, nói chung, đối với con người. Chúng ta không mong có một chế độ xã hội mà trong đó nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số sẽ không được tuân theo. Nhưng khi hướng đến chủ nghĩa xã hội, chúng ta tin chắc rằng chủ nghĩa xã hội sẽ chuyển thành chủ nghĩa cộng sản, và do đó, nói chung sẽ không còn cần thiết phải dùng bạo lực đối với con người, không cần thiết phải buộc người này phục tùng người khác, bộ phận dân cư này phục tùng bộ phận dân cư khác, vì người ta sẽ quen tuân theo những điều kiện thông thường của đời sống tập thể, mà không cần có bạo lực không cần có phục tùng”. Nghĩa là, khi đó nhà nước sẽ tự tiêu vong.
Tuy nhiên, để nhà nước có thể tự tiêu vong, cần có nhiều điều kiện, trong đó, quan trọng nhất là, nhà nước phải trải qua một hình thức tồn tại đặc biệt của nó: Nhà nước chuyên chính vô sản. Nhưng để có được nhà nước chuyên chính vô sản, tất yếu phải dùng đến bạo lực cách mạng. V.I.Lê-nin chỉ rõ: “Không có cách mạng bạo lực thì không thể thay nhà nước tư sản bằng nhà nước vô sản được. Việc thủ tiêu nhà nước vô sản, nghĩa là việc thủ tiêu mọi nhà nước, chỉ có thể thực hiện được bằng con đường “tiêu vong” thôi”. Bạo lực cách mạng là phương thức duy nhất để một giai cấp mới, tiến bộ giành lấy quyền lực chính trị. Điều đó đúng đối với giai cấp vô sản và hơn thế, với giai cấp vô sản, bạo lực cách mạng còn phải thực hiện một nhiệm vụ quan trọng nữa, đó là đập tan bộ máy nhà nước cũ trước khi bắt tay xây dựng nhà nước kiểu mới.
Tính chất đặc biệt của nhà nước chuyên chính vô sản với tư cách hình thức chuyển tiếp trước khi đạt đến trạng thái tự tiêu vong của nhà nước được V.I.Lê-nin làm rõ trong việc phân tích mối quan hệ biện chứng giữa tính chuyên chính và tính dân chủ của nhà nước.
Trước hết, V.I.Lê-nin khẳng định, “trong thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản, sự trấn áp vẫn còn tất yếu, nhưng nó đã là sự trấn áp của đa số bị bóc lột đối với thiểu số bóc lột. Cơ quan đặc biệt, bộ máy trấn áp đặc biệt là “nhà nước” vẫn còn cần thiết, nhưng nó đã là nhà nước quá độ, mà không còn là nhà nước theo đúng nghĩa của nó nữa”  và nhà nước vô sản phải là một công cụ, một phương tiện; đồng thời, là một biểu hiện tập trung trình độ dân chủ của nhân dân lao động. Dân chủ trong xã hội xã hội chủ nghĩa chính là nhân dân tham gia vào mọi công việc của nhà nước. Người viết: “Điều cần thiết không phải chỉ là cơ quan đại biểu theo kiểu chế độ dân chủ, mà là toàn bộ việc quản lý nhà nước từ dưới lên phải do bản thân quần chúng tổ chức, quần chúng thực sự tham gia vào từng bước của cuộc sống và đóng vai trò tích cực trong việc quản lý”.
V.I.Lê-nin cho rằng, nếu tính giai cấp là bản chất của mọi nhà nước, thì dân chủ hay chuyên chính cũng chỉ là hai mặt của bản chất đó mà thôi. “Bất cứ một nhà nước nào cũng đều có nghĩa là dùng bạo lực; nhưng toàn bộ sự khác nhau là ở chỗ dùng bạo lực đối với những người bị bóc lột hay đối với kẻ đi bóc lột, ở chỗ có dùng bạo lực đối với giai cấp những người lao động và những người bị bóc lột không”. Đối với V.I.Lê-nin: “Chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản là một chính quyền do giai cấp vô sản giành được và duy trì bằng bạo lực đối với giai cấp tư sản...” .
Chuyên chính vô sản không hề đối lập với dân chủ, mà là phần bổ sung, là hình thức thể hiện của dân chủ. “Chuyên chính vô sản, nghĩa là việc tổ chức đội tiền phong của những người bị áp bức thành giai cấp thống trị để trấn áp bọn áp bức, thì không thể giản đơn đóng khung trong việc mở rộng chế độ dân chủ được. Đồng thời với việc mở rộng rất nhiều chế độ dân chủ - lần đầu tiên biến thành chế độ dân chủ cho người nghèo, chế độ dân chủ cho nhân dân chứ không phải cho bọn nhà giàu - chuyên chính vô sản còn thực hành một loạt biện pháp hạn chế quyền tự do đối với bọn áp bức, bọn bóc lột, bọn tư bản”.
Điều cần quan tâm là, trong xã hội xã hội chủ nghĩa - lực lượng đóng vai trò thống trị trong xã hội, và vì thế nắm quyền chuyên chính, dân chủ và pháp luật là đại đa số nhân dân lao động. “Dân chủ cho tuyệt đại đa số nhân dân và trấn áp bằng vũ lực bọn bóc lột, bọn áp bức nhân dân, nghĩa là tước bỏ dân chủ đối với bọn chúng: đó là sự biến đổi của chế độ dân chủ trong thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản”.
Như vậy, sự phát triển của V.I.Lê-nin đối với quan điểm của C.Mác và Ph.Ăng-ghen về nhà nước, điểm quan trọng nhất chính là ở chỗ, đặc tính phổ biến của mọi nhà nước đó là giai cấp. Như thế, biểu hiện về mặt lịch sử trong suốt quá trình phát triển của xã hội loài người là mối quan hệ biện chứng của hai mặt chuyên chính và dân chủ. Rõ ràng, trên phương diện này, nhà nước là một cách thức tổ chức đời sống xã hội, một giai đoạn trong tiến trình phát triển của xã hội, là một vòng khâu của sự phát triển. Đây chính là quan niệm duy vật và biện chứng có tính nguyên tắc trong việc lý giải đời sống xã hội nói chung, vấn đề nhà nước nói riêng và gắn liền với những cố gắng to lớn của V.I.Lê-nin trong sự phát triển chủ nghĩa Mác.
Đối với nước ta, vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay là một nhiệm vụ chính trị quan trọng. Để thành công, chúng ta vừa phải đứng vững trên lập trường lý luận Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vừa phải kế thừa được những thành quả xây dựng nhà nước pháp quyền đã có trên thế giới, vừa phải xuất phát từ thực tiễn cách mạng Việt Nam.
Tư tưởng của V.I.Lê-nin về nhà nước được hình thành trên cơ sở sự vận dụng và phát triển sáng tạo học thuyết Mác về nhà nước vào điều kiện cụ thể của nước Nga và tình hình thế giới những năm đầu thế kỷ XX. Những tư tưởng ấy chứa đựng nhiều giá trị có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng đối với công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.
Trước hết, nhà nước là một hiện tượng lịch sử, nó được hình thành từ những xã hội xác định và bị quy định bởi xã hội đã sản sinh ra nó. Tất nhiên giữa các quốc gia - dân tộc có những điểm chung nhất định, mang tính phổ biến. Vì vậy, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với tính cách là nhà nước pháp quyền thì cũng mang những đặc điểm chung nhất định. Tuy vậy, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải phản ánh được những đặc điểm kinh tế, văn hoá, xã hội của Việt Nam. Nó vừa có những điểm tương đồng, vừa có những nét khác biệt với nhà nước pháp quyền ở các quốc gia - dân tộc khác. Ngay cả những nét tương đồng hay khác biệt ấy cũng chỉ có thể có được và hiểu được nếu xuất phát từ hiện thực xã hội Việt Nam, chứ không phải là được áp đặt từ bên ngoài vào.
Thứ hai, dù quan niệm về nhà nước pháp quyền như là một mô hình nhà nước, một cách thức tổ chức quyền lực nhà nước, hay một nhà nước mang những tính chất xác định, thì đã là nhà nước đều mang tính giai cấp - kể cả nhà nước pháp quyền. Đó là một quy định lịch sử. Việc không nhận thấy bản chất giai cấp của nhà nước pháp quyền là một biểu hiện của nhận thức ấu trĩ, mơ hồ, hay cơ hội về chính trị. Không thể có một nhà nước siêu giai cấp. Chúng ta thừa nhận có nhà nước pháp quyền tư sản, thì có nghĩa là, nhà nước pháp quyền ấy, xét về bản chất, là công cụ quyền lực trong tay giai cấp tư sản, và trước hết phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản. Như vậy, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đồng nghĩa với việc chúng ta phải tính tới những đặc trưng nhất định góp phần phân biệt cái gọi là nhà nước pháp quyền với các mô hình, hay các cách thức tổ chức nhà nước khác, song chúng ta cần nhớ rằng, nhà nước ấy là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân xây dựng nên và phải phục vụ cho lợi ích của nhân dân. Đó là đặc trưng bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Thứ ba, nền tảng và nội dung của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải là dân chủ. Thực ra nhà nước ấy, cần phải được hiểu đó là một phương thức thực hiện dân chủ một cách hữu hiệu trong lĩnh vực chính trị, và nó được hình thành cùng với sự trưởng thành của xã hội dân chủ. Nhà nước pháp quyền là một khái niệm dùng để chỉ xã hội được tổ chức theo cách quyền lực của nhân dân được luật hóa và được đảm bảo thực thi bằng hệ thống chính trị, trong đó trước tiên và trực tiếp là bộ máy nhà nước.
Rõ ràng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay, trước hết phải đảm bảo tốt khâu luật hóa quyền lực của nhân dân. Xây dựng và ngày càng hoàn thiện hệ thống Hiến pháp, pháp luật chính là một thước đo sự hình thành nhà nước pháp quyền. Tuy nhiên, hình thức luật là quan trọng, song điều quan trọng hơn là ở nội dung của luật là quyền lực của nhân dân lao động. Hơn thế, để hình thành nhà nước pháp quyền theo đúng nghĩa của nó, khâu đảm bảo thực thi quyền lực của nhân dân dưới hình thức luật cũng hết sức quan trọng. Nếu quyền lực của nhân dân mới chỉ được luật hóa, mà không được thực thi hoặc thực thi không đầy đủ, thì rõ ràng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mới được hình thành một phần. Thực thi quyền lực của nhân dân lao động dưới hình thức luật chính là một thước đo quan trọng đối với nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bởi lẽ đó là bước mà tính chất pháp quyền chuyển hóa từ lĩnh vực ý thức xã hội sang lĩnh vực tồn tại xã hội, nói cách khác, chính quá trình triển khai trong đời sống mà nhà nước pháp quyền trở thành một tồn tại hiện thực.
Tuy nhiên, do nội dung của hệ thống luật chính là quyền lực của nhân dân, nên quá trình thực thi và đảm bảo thực thi quyền lực của nhân dân dưới hình thức luật còn phải được đảm bảo bởi các thiết chế khác trong hệ thống chính trị. Chỉ có một hệ thống luật với nội dung là ghi nhận và thừa nhận quyền lực của nhân dân mới có thể tạo điều kiện cho toàn thể hệ thống chính trị tham gia thực thi luật chứng tỏ nội dung của hệ thống luật ấy đã mang tính xã hội hóa cao độ. Quan hệ tương hỗ biện chứng này cũng là một thước đo phản ánh trình độ trưởng thành của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Nhưng cũng chính ở đây, ta thấy, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của chúng ta càng trưởng thành bao nhiêu, vai trò của các thiết chế khác nhà nước trong hệ thống chính trị trong việc đảm bảo thực thi quyền lực của nhân dân dưới hình thức luật càng lớn bao nhiêu, thì tính tự quản xã hội càng tăng lên bấy nhiêu. Điều này có nghĩa Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam chính là một nhà nước quá độ của thời kỳ quá độ và nó càng hoàn thiện thì càng có nghĩa đang tiến nhanh trên con đường đi đến tự “tiêu vong” đúng theo lô-gích mà các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lê-nin từng chỉ rõ, khi chúng ta tiến tới chủ nghĩa cộng sản.














 THẦN LINH PHÁP QUYỀN

Nguyễn sỹ Dũng




hiến pháp Việt Na“Bảy xin hiến pháp ban hành
Trăm điều phải có thần linh pháp quyền
”.
(Hồ Chí Minh)
Pháp quyền về bản chất gắn với “thần linh”. Và người đầu tiên không ngại nói ra điều ấy chính là Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Ngoài ra, Chủ tịch Hồ Chí Minh, có lẽ, cũng là người Việt Đầu tiên nói đến pháp quyền. Năm 1919, trong bản yêu sách gửi đến hội nghị Versaille, yêu sách thứ 7 được người đề ra là pháp quyền. Sau này, yêu sách đó được Bác thể hiện thành lời ca: “Bảy xin hiến pháp ban hành. Trăm điều phải có thần linh pháp quyền” (Yêu cầu ca, báo Nhân Dân, ngày 30/1/1977). Điều dễ nhận thấy mà chỉ về “pháp quyền”. Thế thì, cái chúng ta cần là một nền pháp quyền hay là một nhà nước pháp quyền?
Thực ra, thuật ngữ “nhà nước pháp quyền”, có thể, do được dịch từ tiếng nước ngoài nên không thật sáng tỏ về mặt khái niệm. (Thuật ngữ này trong tiếng Nga chắc là “pravavoe goxudarstvo”). Hiện nay, theo nhận thức của đa số người Việt, nhà nước pháp quyền là nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật. So với việc quản lý xã hội bằng mệnh lệnh hành chính, cách hiểu này là một tiến bộ to lớn trong tư duy pháp lý của người Việt. Tuy nhiên, pháp quyền là một cái gì đó vĩ đại và tốt đẹp hơn như thế rất nhiều.
Trong tiếng Anh, không có khái niệm “nhà nước pháp quyền”. Thay vào đó, các nước theo truyền thống Anh – Mỹ chỉ nói đến pháp quyền hay chính xác hơn là nói đến “sự thống trị của pháp luật” (the rule of law) mà thôi. Hai từ “nhà nước” thậm chí không được nhắc tới trong thuật ngữ này. Chính vì vậy, khi dịch khái niệm “nhà nước pháp quyền” của ta sang tiếng Anh, bạn buộc lòng phải biến nó thành một thứ dài lê thê như sau: “nhà nước bị điều chỉnh bởi pháp quyền” (the law governed by the rule ò law) hoặc “nhà nước bị điểu chỉnh bởi pháp luật” (the law governedstate). Trong tiếng pháp khái niệm tương ứng là “nhà nước của pháp luật” (Etat de droit). Chúng ta có thể hiểu: nhà nước không phải là con người, mà là của pháp luật. Sự so sánh các thuật ngữ lòng vòng này cho thấy: tinh thần tối thượng của pháp luật là bản chất của pháp quyền.
Như vậy, về mặt khái niệm, pháp quyền là một phương thức tổ chức xã hội mà trong đó pháp luật giữ vai trò thống trị. Pháp luật đứng trên Nhà nước, trên tất cả các tổ chức kinh tế, chính trị xã hội, các công dân và điều chỉnh tất cả các chủ thể này. Tất cả các chủ thể đều bình đẳng trước pháp luật. Tình trạng một chủ thể chỉ có quyền, còn các chủ thể khác thì chỉ có trách nhiệm là điều không thể xảy ra. Hơn thế nữa, khi có tranh chấp giữa các chủ thể, tòa án bao giờ cũng phải xét xử nhân danh nhà nước thì việc kiện nhà nước sẽ rất khó khăn. Như vậy, nhà nước pháp quyền chỉ nên được hiểu là nhà nước bị điều chỉnh bởi pháp luật, hơn là nhà nước có quyền ban hành pháp luật để quản lý xã hội. Nhân đây, pháp quyền và pháp trị, có lẽ, tương đồng với nhau. Pháp trị đối lập với nhân trị. Nhân trị thì chia thành hai loại; loại độc tài (do một người cai trị) và loại tập thể lãnh đạo (do một tập thể cai trị). Nhân trị không đồng nghĩa với sự xấu xa. Đơn giản, đây chỉ là mô hình tổ chức xã hội có độ rủi ro cao. Lý do là trong hàng ngàn năm, vua Nghiêu, vua Thuấn (những ông vua anh minh và tốt bụng trong truyền thuyết của Trung Quốc) may ra chỉ xuất hiện một lần. Và ngay cả trong trường hợp này, một ông vua anh minh cũng khó có thể anh minh được suốt cả cuộc đời. Thời gian trôi đi, sự anh minh của ngày hôm qua có thể không còn hữu dụng cho ngày hôm nay nữa. Tệ hơn, nò còn có thể làm tê liệt khả năng phản ứng kịp thời trước một thế giới luôn luôn thay đổi. Pháp trị, vì vậy, là mô hình tổ chức xã hội ít rủi ro hơn.
Mọi lý lẽ nói trên về pháp quyền sẽ đi vào ngõ cụt nếu vấn đề sau đây không được lý giải; nhà nước có quyền ban hành pháp luật thì làm sao pháp luật có thể đứng trên nhà nước được? Đây là lúc chúng ta cần tìm lời giải trong khái niệm “thần linh pháp quyền” của Bác. Khái niệm này được làm sáng tỏ trong bản Tuyên ngôn độc lập trứ danh của dân tộc ta. Bác đã mở đầu ánh văn bất hủ này bằng những dòng sau đây: “Tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Như vậy, theo Tuyên ngôn độc lập, các quyền của con người là do tạo hóa ban cho, và những quyền đó là bất khả xâm phạm. Đây là “pháp luật của tạo hóa” (còn được gọi là pháp luật tự nhiên) và là pháp luật cao nhất. Các đạo luật do nhà nước ban hành chỉ là thứ phát. Chúng sẽ bị coi là vô hiệu nều trái với “pháp luật của tạo hóa”. Chính vì vậy, những quyền do tạo hóa ban cho con người bao giờ cũng là phần cầu thành quan trọng nhất của luật hiến pháp. Và các thiết chế bảo hiến được đề ra thực chất là để bảo đảm pháp quyền. Pháp quyền gắn liền với “pháp luật của tạo hóa” là nguyên nhân sâu xa dẫn đến cách gọi “thần linh pháp quyền’. Đây cũng là lý do tại sao tác giả đã khẳng định pháp quyền về bản chất gắn với “thần linh” trong phần đầu của bài viết này.
Đó là điều vô giá mà Chủ Tịch Hồ Chí Minh để lại. Vấn đề là phải biết thắp sáng khối óc của chúng ta bằng tư tưởng của Người. Và sự nghiệm khai sáng nên bắt đầu từ việc nhận thức lại pháp luật là gì, cũng như việc ghi nhận bản Tuyên ngôn độc lập là nguồn quan trọng nhất của Luật m.

THỰC HÀNH DÂN CHỦ THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Trần Đình Huỳnh
Dân chủ là một giá trị xã hội. Dân chủ cũng là một chế độ chính trị, một hình thức nhà nước.

1. Xét về mặt giá trị xã hội, dân chủ là một trong những thứ quý báu nhất của con người, là một giá trị vĩnh hằng mà từ khi có con người, từ khi chưa có chữ viết và chưa có khái niệm dân chủ, con người lúc đó đã có một đời sống “hoàn toàn” dân chủ. Dù là một xã hội dân chủ sơ khai, con người lúc đó đã cùng nhau làm chủ, đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, cùng lao động, cùng chiếm hữu tư liệu sản xuất và sản phẩm làm ra. Tuy nhiên, từ  khi có nhà nước tới nay, xã hội dân chủ sơ khai thơ mộng và đẹp đẽ ấy đã một đi chưa đến ngày trở lại. Nhiều nhà tư tưởng đã bàn về cái ngày trở lại ấy và nhận thức về dân chủ là một quá trình. Theo giả thuyết khoa học của C.Mác, cái ngày trở lại ấy sẽ là một xã hội hiện thực, không có của riêng, không còn giai cấp, không còn nhà nước, sức sản xuất phát triển tới mức “của cải tuôn ra dào dạt” thoả mãn mọi nhu cầu của con người. Con người sẽ sống hoàn toàn dân chủ và bình đẳng, tự do làm chủ thiên nhiên, xã hội và làm chủ bản thân mình. Đó là một “Con đường muôn dặm” như Hồ Chí Minh đã từng nói, là mơ ước tương lai và hy vọng của loài người, là mục đích phấn đấu không ngừng nghỉ của rất nhiều thế hệ người tiếp nối nhau. Không phải cứ đập tan sự thống trị của chủ nghĩa đế quốc, thực dân, thiết lập được chính quyền mới thì lúc đó đã là cuộc đấu tranh cuối cùng, đã có một đời sống hoàn toàn dân chủ và tự do.
2. Từ khi có chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, giai cấp và nhà nước ra đời tới nay, dân chủ đã trở thành một chế độ chính trị với những nội dung và hình thức khác nhau tuỳ thuộc vào sự phát triển trong mỗi kiểu nhà nước, ở mỗi quốc gia, dân tộc. Dân chủ từ đó gắn liền với lợi ích giai cấp, gắn với quyền làm chủ của giai cấp này và mất (hoặc hạn chế) quyền làm chủ của giai cấp khác. Xã hội loài người đã trải qua hai chế độ dân chủ. Chế độ dân chủ chủ nô, mặc dầu có nhiều hạn chế, nhưng cũng là một bước tiến so với chế độ cộng sản nguyên thủy, nhưng rồi, cùng với sự phát triển của sản xuất, nền dân chủ chủ nô được thay bằng chế độ phong kiến chuyên chế. Phải hàng ngàn năm sau, khi cuộc cách mạng tư sản thành công ở một số nước tư bản phát triển và cùng với nó, nền dân chủ tư sản ra đời.
Do đặc thù của “phương thức sản xuất châu Á”, Việt Nam không qua chế độ chiếm hữu nô lệ nên cũng không có nền dân chủ chủ nô. Thời phong kiến, xét về thiết chế xã hội có hình thức dân chủ làng, xã (tính tự trị làng - xã). Nếu xét về hành vi dân chủ, thì một số triều đại cũng làm một số việc như trưng cầu ý dân - Hội nghị Diên Hồng - (nhà Trần), hoặc tuyển dụng quan lại thông qua thi tuyển, không phân biệt đẳng cấp, giai cấp để chọn người tài đảm trách công việc quốc gia. Từ khi bị thực dân Pháp đô hộ thì nước ta không những mất chủ quyền quốc gia mà còn mất dần những yếu tố dân chủ ngay cả ở làng, xã.
Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời được hiến định bởi Hiến pháp đầu tiên do Quốc hội thông qua ngày 9-1-1946. Người khai sinh ra nền cộng hoà dân chủ và bản Hiến pháp đầu tiên ấy là Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà chính trị, nhà văn hoá kiệt xuất đã đưa dân tộc vào con đường phát triển hợp quy luật, xây dựng nước ta thành một nước dân chủ của nhân dân lao động bỏ qua nền dân chủ của giai cấp tư sản. Sự “bỏ qua” là một tiến bộ vượt bậc của lịch sử, nhưng như các nhà kinh điển đã chỉ rõ mọi sự bỏ qua đều gặp những khó khăn, trở lực không nhỏ. Cho đến trước Cách mạng tháng Tám - 1945 chúng ta chưa qua một chế độ dân chủ nào, chưa có sự trải nghiệm về thực tiễn dân chủ. Chính vì thế mà cả thể chế, tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ, công chức và việc thực hành dân chủ, chúng ta đều đi những bước chập chững, mắc không ít sai lầm, khuyết điểm, phải vừa học vừa làm. Điều này được thể hiện qua nhiều bài viết, nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh giai đoạn 1945-1950 và kể cả sau này.
3. Trên 60 năm xây dựng chế độ dân chủ và thực hành dân chủ, quan niệm về dân chủ và thực hành dân chủ ở nước ta cũng diễn biến cùng với những năm tháng đổi thay của đất nước. Dân chủ và thực hành dân chủ là một quá trình cách mạng, không phải là một con đường thẳng tắp mà nhiều quanh co, phức tạp. Dân chủ với tư cách là một chế độ chính trị thì việc xây dựng nhà nước pháp quyền, trong đó cả nhà nước và công dân đều phải có trách nhiệm xây dựng pháp luật và đặt mình dưới pháp luật, coi pháp luật là tối thượng để đảm bảo cho nhà nước thực sự là nước dân chủ. Nghĩa là mọi tổ chức và công dân, từ nguyên thủ quốc gia đến mỗi người dân đều phải “Tôn trọng Hiến pháp; tuân theo pháp luật” (Điều 4, Hiến pháp 1946). Ngày nay, đọc lại Hiến pháp 1946, do Hồ Chí Minh chủ trì soạn thảo, tất cả những người nghiên cứu về dân chủ, dù khác nhau về tư tưởng và chính kiến, cũng đều phải thừa nhận rằng, từ giữa thế kỷ XX, Việt Nam đã đạt tới những quan niệm dân chủ, sánh ngang với bất cứ một thể chế dân chủ nào trên thế giới. Nổi bật nhất là việc xác nhận về mặt pháp lý quyền làm chủ của nhân dân: “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo” (Điều 1, Hiến pháp 1946). Để thực hành quyền bính ấy phải thông qua hình thức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp. Nhân dân uỷ quyền quản lý đất nước cho các cơ quan đại diện đảm trách. Trong sự uỷ thác ấy có nguy cơ của sự lạm quyền và cả những sai lầm khi cơ quan đại diện của dân ra các quyết sách chính trị và ban hành các đạo luật. Do đó, nhân dân phải giữ lại một số quyền để quyết định trực tiếp và tối hậu. Đó là quyền phúc quyết mà trước hết và quan trọng nhất là xây dựng và sửa đổi Hiến pháp. Theo Tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện ở Hiến pháp 1946 thì Quốc hội được uỷ thác quyền soạn thảo Hiến pháp, đặt ra pháp luật, sửa đổi Hiến pháp và quyết định những vấn đề quan trọng nhất của quốc gia. Nhưng “Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc có quan hệ đến vận mệnh quốc gia”; về sửa đổi Hiến pháp, “Những điều thay đổi khi đã được Nghị viện phê chuẩn thì phải đưa ra toàn dân phúc quyết” (Điều 70, Hiến pháp 1946). Quyền phúc quyết không phải là việc đưa ra cho nhân dân tham gia, góp ý kiến hay đề nghị mà là quyền Hiến định, là điều bắt buộc các đạo luật và cơ quan đại diện cao nhất của dân phải tuân thủ. Quyền phúc quyết là thể chế hoá tư tưởng quan trọng nhất của Hồ Chí Minh về dân chủ: “Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân, … quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân” . Một khi quyền dân chủ đã được ghi nhận trong văn bản pháp lý cao nhất của quốc gia thì không còn tranh cãi về “thu hẹp” hay “mở rộng”, ai có quyền “thu hẹp” hay “mở rộng” dân chủ mà là tuân thủ theo luật định.
4. Thể chế dân chủ tuy là vấn đề cơ bản, quan trọng nhất nhưng việc thực hành dân chủ lại là điều cốt tử của thể chế dân chủ. Theo Hồ Chí Minh, phải làm sao cho nhân dân biết hưởng và biết dùng quyền dân chủ. Chỉ có thực hành dân chủ mới có thể biến các quan niệm dân chủ trong các lời tuyên bố thành dân chủ thực tế. Chính V.I.Lênin cũng cho rằng, mọi điều tốt đẹp về dân chủ thì các học giả tư sản đã nói cả rồi, cái ưu việt của chế độ dân chủ chúng ta so với dân chủ tư sản ở chỗ hiện thực hoá những điều tốt đẹp ấy.
Để thực hành dân chủ đòi hỏi phải:
- Có đủ những văn bản luật phù hợp với thực tiễn và được lòng dân. Nhưng văn bản luật nào cũng đều là luật thực định, nghĩa là do giai cấp cầm quyền định ra thông qua cơ quan đại diện của dân soạn thảo và ban bố. Vậy thực hành dân chủ, mấu chốt là ở vấn đề bầu cử và ứng cử. “Trong cuộc Tổng tuyển cử, hễ là những người muốn lo việc nước thì đều có quyền ra ứng cử; hễ là công dân thì đều có quyền đi bầu cử… hễ là công dân Việt Nam thì đều có hai quyền đó” . Nhìn vào luật bầu cử và ứng cử, quy trình thực hiện, cách thức tiến hành và thái độ của dân chúng, người ta sẽ nhận ra chất lượng của điểm xuất phát, cái cơ bản nhất của chế độ dân chủ ở mỗi nước.
- Tổ chức bộ máy nhà nước thực thi luật pháp là công cụ đảm bảo thực hành dân chủ. Hồ Chí Minh đã khẳng định bộ máy nhà nước phải gọn nhẹ, trong sạch, đủ năng lực và bản lĩnh để chấp hành pháp luật. Con người trong bộ máy nhà nước phải được lựa chọn theo những tiêu chí cụ thể và công khai, phải có uy tín trong dân chúng, có năng lực và liêm, chính. Những người được Quốc hội cử ra thành lập Chính phủ mới, theo Hồ Chí Minh, phải tuyên thệ về tư cách của bản thân và tư cách từng thành viên Chính phủ. Tại phiên họp ngày 31-10-1946, kỳ họp thứ hai, Quốc hội khoá I, sau khi được Quốc hội nhất trí giao trách nhiệm thành lập Chính phủ mới, Hồ Chí Minh đã tuyên bố như sau: “Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ toàn dân đoàn kết và tập hợp nhân tài không đảng phái… Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ liêm khiết... Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ biết làm việc” .
- Phải có chính sách dùng người đúng, tạo cơ hội như nhau cho bất cứ ai, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, sang hèn, giàu nghèo... hễ là công dân Việt Nam đều có thể thi tuyển vào cơ quan nhà nước, được giao những nhiệm vụ tương xứng với tài năng và đức độ của họ. Người được tuyển lựa làm cán bộ, công chức phải cam kết trung thành với nhà nước và dân tộc Việt Nam, phải hoàn thành công vụ, không tham nhũng, lãng phí của công, không xách nhiễu dân; được thăng tiến, đãi ngộ về vật chất xứng đáng nhưng cũng sẽ bị trừng phạt, thậm chí truy tố trước toà án nếu có lỗi. Một xã hội thật sự dân chủ và pháp quyền khi cơ quan nhà nước tận tụy phục vụ dân, làm việc cho dân và làm tốt. Nhà nước ấy phải có đội ngũ công chức, viên chức là công bộc của dân, vững về chính trị, giỏi về chuyên môn, tự hào với nghề nghiệp và biết xấu hổ khi không làm tròn chức nghiệp bị dư luận phê phán. Cán bộ, công chức, viên chức, phải thường xuyên được giáo dục tư tưởng, tự phê bình và phê bình, phải chịu sự giám sát của dân, đồng thời phải bị xử phạt nghiêm minh theo luật. Tuyệt đối không có bất kỳ ai dù ở cương vị nào, người trong Đảng hay ngoài Đảng được sống ngoài vòng pháp luật theo kiểu “xử nội bộ”, thiếu công minh, thiên vị, có tội “nhưng không bị trừng phạt xứng đáng”.
- Có Hiến pháp và pháp luật đúng và đủ, có cơ quan công quyền trong sạch, vững mạnh, có đội ngũ công chức, viên chức mẫn cán, đồng thời phải có hệ thống các cơ quan bảo vệ pháp luật, trong đó có cơ quan tư pháp phải thực sự “Dĩ công vi thượng”, không bị áp lực từ bất cứ ai, cơ quan nào. “Trong khi xét xử, các viên thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không được can thiệp” (Điều 69, Hiến pháp 1946). Hồ Chủ tịch đã từng dạy tư pháp phải “Phụng công thủ pháp” là chìa khoá để bảo vệ những nguyên tắc dân chủ của chế độ ta. Do đó tư pháp phải công minh, công tâm, khoan dung và đại lượng, không được “lạm dụng hình phạt”.
- Giáo dục pháp luật và nâng cao văn hoá dân chủ cho tất cả mọi người. Nâng cao dân trí và quan trí để “nước ta là nước dân chủ, mọi người có quyền làm, có quyền nói”[6] trở thành hiện thực và tất cả các cơ quan nhà nước phải tôn trọng các quyền dân chủ ấy của công dân. Dân có hiểu biết về pháp luật, biết hành xử theo pháp luật thì đó là cơ sở để nhà nước thực thi đúng pháp luật. Hồ Chí Minh đã từng nói “quan tham vì dân dại”. Thực hành dân chủ sẽ chống lại có hiệu quả chủ nghĩa cá nhân, “tệ quan tham lại nhũng” và các tệ nạn khác.
Ngày nay, dưới ánh sáng của sự nghiệp đổi mới, nhìn lại một thời đã qua và những gì là sự nỗ lực để đi tới, chúng ta càng thấy những giá trị cao cả, đích thực trong Tư tưởng Hồ Chí Minh khi khẳng định “thực hành dân chủ là cái chìa khoá vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn”.
THỰC HIỆN TƯ TƯỞNG DÂN CHỦ HỒ CHÍ MINH
TS.PhạmVăn Bính
Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng
Tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh là một hệ thống lý luận hoàn chỉnh, kế thừa và phát triển sáng tạo tinh hoa văn hoá dân chủ của nhân loại. Có thể khái quát nội dung tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh ở những điểm chính sau:

          Hồ Chí Minh quan niệm dân chủ nghĩa là dân là chủ và dân làm chủ. Đây là một định nghĩa dân chủ cô đọng, súc tích, vừa khoa học, hiện đại, vừa kế thừa và phát triển những hiểu biết của nhân loại về dân chủ: chủ thể là dân và nội dung chủ yếu là dân làm chủ khi họ được là chủ. Chữ dân được Hồ Chí Minh khẳng định là đông đảo những người lao động, bị áp bức, không có chức quyền, là toàn dân Việt Nam, trừ bọn phản động, tay sai đế quốc thực dân. Làm chủ là tự chủ, biết phát huy năng lực sáng tạo trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội.

          Tư tưởng dân chủ còn được Hồ Chí Minh thể hiện trong một mệnh đề ngắn gọn, súc tích Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Trong đó hàm chứa nội dung dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc, dân trí nâng cao. Hồ Chí Minh khao khát thực hiện dân chủ XHCN, thực chất là thực hiện chân lý Không có gì quý hơn độc lập, tự do, là giải phóng con người khỏi áp bức, nô dịch, là từng bước thực hiện đầy đủ quyền độc lập, tự do về chính trị, kinh tế, văn hoá, tinh thần của con người trong hiện thực.

          Hồ Chí Minh đã chỉ ra và xây dựng những thiết chế dân chủ mới phù hợp với điều kiện Việt Nam. Đó là các thiết chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước của dân, do dân quản lý, các tổ chức xã hội của dân làm chủ. Trong đó thiết chế Nhà nước kiểu mới là một điển hình để thực hiện quyền là chủ và làm chủ của người dân.     Đồng thời, hình thành lý luận nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân.

Hồ Chí Minh quan niệm chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa được xây dựng và bảo đảm trên cơ sở một nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể giữ vai trò chủ đạo và một nền kinh tế mở: công tư đều lợi, chủ thợ đều lợi, công nông giúp nhau, lưu thông trong ngoài.

          Nhưng Người cũng nhấn mạnh rằng: dân trí thấp sẽ đứng ngoài dân chủ, nói rộng hơn, một dân tộc dốt là một dân tộc yếu, một dân tộc yếu thì không thể thực hiện quyền độc lập, tự do. Hồ Chí Minh lấy dân trí vừa là tiêu chuẩn đánh giá năng lực, trình độ làm chủ của dân, vừa là tiêu chí đánh giá sức mạnh và trình độ văn minh của một dân tộc, một quốc gia. Những nội dung về dân chủ trên đây chưa phải là tất cả, nhưng đó là những dấu ấn Hồ Chí Minh để lại trong kho tàng lý luận dân chủ của chúng ta.

          Xuất phát từ quan điểm, hướng đổi mới, kiện toàn cơ chế thực hiện dân chủ trong toàn xã hội của Đảng cầm quyền và ý chí, nguyện vọng của nhân dân, chúng tôi cho rằng, việc vận dụng tư tưởng và phương pháp dân chủ của Hồ Chí Minh thực hiện dân chủ XHCN ở nước ta hiện nay phải chú ý những yêu cầu sau:

          Một: Yêu cầu toàn Đảng, toàn dân nhận thức toàn diện, đầy đủ, sâu sắc hơn bản chất dân chủ XHCN theo tư tưởng Hồ Chí Minh để thực hiện và hoàn thiện dân chủ xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

          Đây là yêu cầu vừa tất yếu, cơ bản vừa cấp thiết, trong thực hiện dân chủ XHCN hiện nay ở nước ta. Bởi vì, chính các nhà kinh điển mác xít và Hồ Chí Minh đều khẳng định: không có lý luận cách mạng thì không có cách mạng vận động... Chỉ có theo lý luận cách mạng tiên phong, đảng cách mạng mới làm tròn trách nhiệm cách mạng tiên phong. Nghĩa là lý luận phải đi trước thực tế một bước, hướng dẫn, vạch quỹ đạo cho thực tiễn vận động.

          Tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh chứa đựng những giá trị sâu sắc trong những câu chữ, ngôn từ giản dị. Nếu chúng ta không nghiên cứu nghiêm túc, tỉ mỉ khó có thể nắm hết được cái tinh tuý trong cách nói phổ thông, dung dị; nắm được cái thực chất, hàm ý giữa các con chữ trong các bài viết của Người. Đồng thời, tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam có tính nguyên lý, phương pháp luận cần phải nghiên cứu, vận dụng phù hợp với hoàn cảnh từng thời kỳ. Nó có giá trị nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam hành động của chúng ta trong thực hiện dân chủ để khỏi chệch hướng XHCN. Song, thành tựu nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, nhất là tư tưởng dân chủ của Người, những năm vừa qua, mới chỉ là bước đầu, cần tiếp tục nghiên cứu làm sâu sắc, hoàn thiện để vận dụng đúng trong cuộc sống hiện nay.

          Sau gần 60 năm xây dựng nền dân chủ Việt Nam, nhất là hơn 15 năm xây dựng chế độ dân chủ trong đổi mới, định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta đã nhận thức rõ và đúng hơn bản chất dân chủ XHCN theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Bản chất này được quy định bởi hai yếu tố cơ bản: Quan hệ sản xuất (định hướng) xã hội chủ nghĩa và nhân dân (chủ yếu là người lao động) có quyền và nghĩa vụ tham gia vào các công việc quản lý nhà nước. Bản chất dân chủ trong xã hội ta thống nhất với bản chất giai cấp công nhân do sự quy định của quan hệ sản xuất (định hướng) XHCN và của nền tảng xã hội-giai cấp là khối liên minh công- nông-trí thức đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

          Dân chủ XHCN theo tư tưởng Hồ Chí Minh là sự biểu hiện tính nhân đạo sâu sắc của giai cấp công nhân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong lịch sử và đương đại. Tư tưởng đó của Người đặt lợi ích quốc gia lên trên hết và dân chủ nhân quyền phải bảo đảm trong chủ quyền quốc gia, không chấp nhận sự áp đặt nhận thức, nội dung dân chủ của quốc gia này đối với quốc gia khác. Chúng ta thường xuyên phải đấu tranh chống lại các âm mưu, thủ đoạn của các lực lượng thù địch lợi dụng chiêu bài “dân chủ”, "nhân quyền" để can thiệp vào công việc nội bộ của nước ta, nhất là các vấn đề dân tộc, tôn giáo. Cuộc đấu tranh giữ vững bản chất dân chủ XHCN ở nước ta ngày càng phức tạp, quyết liệt hơn khi mà nền kinh tế nước ta trong quá trình mở cửa hội nhập quốc tế và cuộc đấu tranh chống diễn biến hoà bình đang quyết liệt.

          Diễn biến tình hình chính trị thế giới ngày càng phức tạp, hội nhập kinh tế, giao lưu văn hoá và công nghệ thông tin quốc tế phát triển mạnh mẽ đã và đang tác động đến nhận thức, quan niệm về dân chủ XHCN ở một bộ phận dân cư. Yêu cầu đặt ra là phải cảnh giác, đấu tranh để giữ vững bản chất dân chủ XHCN, chống lại mọi xâm nhập, ảnh hưởng của khuynh hướng dân chủ tư sản tràn vào hòng phá hoại chủ quyền đất nước. Song cũng cần học hỏi, tham khảo kinh nghiệm quản lý hợp lý, điều hành có hiệu quả nền kinh tế của các nước phát triển để xây dựng nền tảng kinh tế -kỹ thuật của chế độ dân chủ ở nước ta.

          Hai: Yêu cầu Đảng phải tự mình nêu gương về dân chủ và lãnh đạo chặt chẽ quá trình thực hiện, phát huy dân chủ XHCN.

          Dân chủ mang tính giai cấp, nền dân chủ nào cũng phụ thuộc vào đường lối chính trị của giai cấp lãnh đạo, của Đảng cầm quyền. Đảng ta là đảng cầm quyền. Đảng phải tự chỉnh đốn, đổi mới và kiện toàn phương thức lãnh đạo quá trình thực hiện và phát huy dân chủ XHCN trên cả hai phương diện có quan hệ nội tại: thực hành, phát huy dân chủ của hệ thống chính trị XHCN và thực hiện, phát huy dân chủ XHCN của nhân dân. Đảng phải thúc đẩy cải cách hành chính nhà nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền, đổi mới, kiện toàn phương thức lãnh đạo dân chủ đối với Mặt trận và các đoàn thể nhân dân. Đồng thời đảng viên của Đảng phải thực sự là người gương mẫu, đi đầu trong thực hiện dân chủ, phải là người gần gũi, tin cậy của nhân dân. Dân tin và theo Đảng là thông qua đội ngũ đảng viên vì họ gần dân, sát dân nhất.

          Ba: Yêu cầu đổi mới và kiện toàn năng lực thực hành dân chủ XHCN trong các thiết chế của hệ thống chính trị các cấp, đặc biệt cấp cơ sở.

          Thực hành dân chủ XHCN ở cấp cơ sở, quan hệ trực tiếp đến quyền là chủ và làm chủ của nhân dân, nhưng lại là khâu yếu kém hiện nay ở nước ta. Có nhiều nguyên nhân, nhưng quan trọng là cơ chế hoạt động và quan hệ của các bộ phận cấu thành hệ thống chính trị các cấp chưa thật rõ ràng, cụ thể, đặc biệt con người (công chức) trong hệ thống chính trị các cấp còn yếu về năng lực thực hành dân chủ.

          Vì thế yêu cầu đặt ra với cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn), phải xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức trong hệ thống chính trị (Đảng uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội). Lựa chọn và bố trí đúng cán bộ chủ chốt để họ phải là những người có tư tưởng, đạo đức XHCN, lối sống dân chủ nhưng nhất thiết phải là người am hiểu luật pháp và có năng lực thực thi công vụ trong điều kiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay.

          Đối với đội ngũ công chức cần thực hiện nghiêm túc những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh về thực hành dân chủ.

          Bốn: Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tạo nền tảng kinh tế - kỹ thuật của chế độ dân chủ XHCN.

          Chế độ dân chủ XHCN chỉ tồn tại vững chắc trên một nền tảng kinh tế - kỹ thuật của CNXH. Những năm tới đây nước ta vẫn trong thời kỳ quá độ lên CNXH, yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá là tất yếu khách quan, hợp quy luật phát triển.

          Công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta những năm tới hướng vào xây dựng hệ thống kinh tế mở, kinh tế hàng hoá hướng về xuất khẩu, trên cơ sở lưu thông thông suốt trên thị trường trong nước và quốc tế. Sản xuất hướng về xuất khẩu thực chất là đặt sản phẩm trong nước trong quan hệ so sánh với sản phẩm nước ngoài, nghĩa là phải có sức cạnh tranh. Sức cạnh tranh thể hiện ở chất lượng, giá cả, sự đáp ứng nhanh nhạy nhu cầu thị hiếu của thị trường. Hướng về xuất khẩu sản phẩm cũng là nhằm hạn chế, thay thế tối đa hàng nhập khẩu cùng loại. Đây cũng thể hiện sự tác động của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đến hình thành tính độc lập, tự chủ của nền kinh tế nước ta.

          Năm: Yêu cầu giải quyết tốt quan hệ nâng cao năng lực làm chủ và đề cao địa vị là chủ của người dân, nhưng phải gắn với luật pháp, với kỷ cương xã hội nhằm xây dựng nền pháp chế XHCN.

          Dân là chủ và làm chủ là mục tiêu và nguyên tắc tổ chức, vận hành của chế độ ta - Chế độ dân chủ XHCN. Nhưng quyền và nghĩa vụ dân chủ của công dân được quy định trong hiến pháp, các luật và văn bản dưới luật và được luật pháp bảo vệ. Dân thực thi đúng pháp luật là biểu hiện năng lực thực hành dân chủ của họ, là thực hiện quyền dân chủ của công dân. Trình độ dân chủ của xã hội không chỉ được đánh giá qua cơ chế, thiết chế dân chủ mà còn bằng năng lực thực hành dân chủ của dân. Yêu cầu kiện toàn hệ thống pháp luật và nâng cao ý thức dân chủ của dân là hai vấn đề phải tiến hành song trùng hình thành nền pháp chế XHCN. Đồng thời phải tăng cường giáo dục pháp luật để dân hiểu và thực thi đúng pháp luật.














TƯ TƯỞNG VÀ PHƯƠNG PHÁP HỒ CHÍ MINH VỀ VIỆC XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN Ở VIỆT NAM
Nguyễn Xuân Tê
PGS.TS Trường đại học Luật TP.Hồ Chí Minh
Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền là một trong những nét đặc sắc của tư tưởng Hồ Chí Minh. Từ đặc điểm hình thành đất nước và dân tộc, Hồ Chí Minh đã lựa chọn và đấu tranh để xây dựng kiểu nhà nước dân chủ, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ từ trung ương đến cơ sở ngày càng hoàn thiện hơn qua từng giai đoạn lịch sử.

          Từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã nhận thức được vai trò của pháp luật trong điều hành và quản lý xã hội của nhà nước. Pháp luật đúng đắn sẽ tạo nên sự ổn định của nhà nước, làm cho bộ máy nhà nước vận hành đúng quỹ đạo và người dân dễ thực hành quyền dân chủ của mình.

          Ngay từ năm 1919, trong Yêu sách của nhân dân An Nam gồm 8 điều Nguyễn Ái Quốc gửi đến Hội nghị Véc-xây, thì đã có 4 điều liên quan đến vấn đề pháp quyền, đặc biệt có những điều như "thay chế độ ra sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật". Để dễ phổ biến và tuyên truyền trong cộng đồng người Việt Nam, Người đã chuyển bản Yêu sách thành “Việt Nam yêu cầu ca”, trong đó có câu:

Bảy xin Hiến pháp ban hành

Trăm điều phải có thần linh pháp quyền.

Những điều nêu trong Yêu sách chứng minh Hồ Chí Minh đã rất sớm chú ý đến pháp luật, đến công lý và quyền con người. Tư tưởng thần linh pháp quyền là một tư tưởng đặc sắc của Người. Thần linh pháp quyền chỉ một điều rất thiêng liêng và nó phải được thấm vào từng công việc. Từ trong nhà nước đến ngoài xã hội đều phải thể hiện tinh thần pháp luật. Nó phải thấm vào hành vi của từng con người và thể hiện ra ở sự ứng xử trong cuộc sống.

          Với tầm hiểu biết sâu sắc về nhà nước và pháp luật, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm xây dựng nhà nước hợp pháp, hợp hiến và đặt nền móng cho một nhà nước pháp quyền Việt Nam. Lịch sử đã chứng minh một cách đậm nét tư tưởng lớn đó của Người. Trước Cách mạng Tháng 8 năm 1945, khi Nhật làm đảo chính Pháp ngày 09/3/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thường vụ Trung ương Đảng đề ra chủ trương “thành lập chính quyền cách mạng” ở các địa phương thuộc khu giải phóng. Đầu tháng 8/1945, dù tình thế rất khẩn trương, việc liên lạc với các địa phương trong cả nước rất khó khăn, Hồ Chí Minh vẫn kiên quyết triệu tập Đại hội Quốc dân Tân Trào, cử ra "Ủy ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam". Lần đầu tiên một tổ chức có tính chất tiền Chính phủ được đại biểu của nhân dân bầu ra đảm bảo tính hợp pháp để lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành độc lập. Người vạch rõ "Ủy ban Dân tộc Giải phóng cũng như Chính phủ lâm thời của ta lúc này hãy đoàn kết chung quanh nó, làm cho chính sách và mệnh lệnh của nó được thi hành khắp nước".

          Dưới sự chỉ đạo sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, tháng 8/1945 nhân dân ta chớp thời cơ, nhất tề đứng lên giành chính quyền. Cách mạng tháng Tám thành công, Tổ quốc độc lập tự do, Hồ Chí Minh nêu vấn đề phải có một bản Tuyên ngôn độc lập để tuyên bố với quốc dân đồng bào và thế giới về sự khai sinh của một nước Việt Nam mới, trước khi quân đồng minh vào tước khí giới của Nhật. Bản Tuyên ngôn độc lập do Hồ Chí Minh soạn thảo và đọc tại Quảng trường Ba Đình ngày 02/9/1945 tuyên bố sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là một văn kiện chính trị mang tính pháp lý đặc biệt, khẳng định nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời là hợp pháp, hợp lẽ phải. Bản Tuyên ngôn độc lập đã chứng minh sự sáng suốt, nhạy bén về pháp lý và tầm nhìn chiến lược của Hồ Chí Minh: một nhà nước dân chủ hợp pháp phải là một nhà nước thật sự đại diện cho nhân dân, do dân cử ra và quản lý xã hội bằng pháp luật, thể hiện ý chí thật sự của nhân dân. Xuất phát từ tư tưởng đó, chỉ một ngày sau khi tuyên bố Tuyên ngôn độc lập, ngay tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ ngày 03/9/1945, Hồ Chí Minh đã đề ra 6 nhiệm vụ cấp bách, trong đó có nhiệm vụ thứ 3 là “phải có một Hiến pháp dân chủ”; và dù tình hình đất nước đang đứng trước muôn vàn khó khăn, Người vẫn đề nghị tổ chức càng sớm càng hay cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Cuộc tổng tuyển cử ngày 06/01/1946 đã diễn ra thành công với trên 90% cử tri đi bỏ phiếu, dù đế quốc Pháp và các thế lực phản động ra sức phá hoại, dù ở một số nơi cuộc bầu cử diễn ra trong tiếng súng, sự uy hiếp của kẻ thù và hàng trăm cán bộ, nhân dân đã hy sinh khi làm nhiệm vụ bầu cử.

          Tư tưởng lập hiến là một trong những nét luôn luôn nhất quán trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền của Hồ Chí Minh. Ngày 20/9/1945, Chủ tịch lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ký Sắc lệnh thành lập Ban dự thảo Hiến pháp gồm 7 thành viên do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Trưởng ban. Bản dự thảo Hiến pháp hoàn thành khẩn trương và nghiêm túc dưới sự chỉ dạo trực tiếp của Hồ Chủ tịch. Tại kỳ họp thứ 2 của Quốc hội khóa I vào tháng 10/1946, Quốc hội đã thảo luận dân chủ và thông qua bản dự thảo Hiến pháp này. Đó là bản hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam: Hiến pháp năm 1946. Trong phiên họp Quốc hội thông qua Hiến pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát biểu, “...Hiến pháp đã nêu một tinh thần đoàn kết chặt chẽ giữa các dân tộc Việt Nam và một tinh thần liêm khiết, công bình của các giai cấp". Và nhấn mạnh rằng: "Chính phủ cố gắng làm theo đúng 3 chính sách: dân sinh, dân quyền và dân tộc" .

          Ở đây, chúng ta thấy tinh thần đoàn kết chặt chẽ giữa các dân tộc Việt Nam thể hiện rõ nét phương pháp Hồ Chí Minh. Đó là luôn luôn tìm một mẫu số chung cho toàn dân tộc, tránh khoét sâu sự khác biệt, đặt tiến trình phát triển đi lên của dân tộc theo hướng quy tụ mọi lực lượng, thay vì cho loại trừ. Phương pháp Hồ Chí Minh luôn luôn nhằm mục đích: thêm bạn bớt thù, đoàn kết tất cả các lực lượng có thể đoàn kết, tranh thủ bất cứ lực lượng nào có thể tranh thủ. Những lực lượng không tranh thủ được thì cố gắng trung lập, làm cho càng ít kẻ thù, càng nhiều bạn đồng minh càng tốt. Đó cũng chính là thể hiện quan điểm "dĩ bất biến, ứng vạn biến", nghĩa là lấy một cái không thay đổi - quyền lợi của dân tộc, của đất nước- là bất biến, để ứng phó với cái vạn biến của tình hình, của thế cuộc. Khi miền Bắc hoàn thành cách mạng giải phóng dân tộc tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiếp tục cuộc đấu tranh thống nhất đất nước, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Hồ Chí Minh, luật pháp được ban hành theo đà tiến triển của đất nước về chính trị, xã hội, kinh tế. “Thay chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ các đạo luật” càng chứng minh nhà nước ta là nhà nước theo xu hướng pháp quyền. Khi xây dựng các đạo luật, Hồ Chí Minh đều lấy điểm xuất phát từ ý nguyện và lợi ích của nhân dân. Người vẫn coi luật là ý chí chung của toàn dân, luật phải do nhân dân đóng góp ý kiến làm ra, mới đúng với cái ý nghĩa là “luật”. Và đây cũng chính là thể hiện từng bước việc xây dựng một xã hội công dân. Giữa nhà nước pháp quyền và xã hội công dân có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau. Đồng thời với việc xây dựng nhà nước pháp quyền, chúng ta cũng từng bước xây dựng một xã hội công dân, mà trong đó mọi người đều được tự do, bình đẳng, bác ái, phát huy đầy đủ năng lực nội sinh. Thực chất của nhà nước pháp quyền và xã hội công dân là việc giải quyết đúng đắn mối quan hệ biện chứng giữa nhà nước và công dân. Trong nhà nước pháp quyền, người công dân phải hiểu rõ mình có những quyền gì: quyền công dân, quyền sở hữu, quyền được bảo vệ...Chính việc ý thức được các quyền này mà người dân phải có bổn phận và trách nhiệm đối với quốc gia. Mối quan hệ giữa nhà nước pháp quyền và xã hội công dân được Hồ Chí Minh diễn đạt thật mới mẻ: “Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”. Một nhà nước như vậy chưa từng có trong lịch sử nhân loại. Quan liêu, hách dịch, khinh dân là ngược với bản chất nhà nước đó. Vì thế, trong Hiến pháp năm 1992 (bổ sung), Điều 2 ghi rõ: Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân.

          Tư tưởng về nhà nước pháp quyền của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện rõ trong hoạt động của Chính phủ và của bản thân Người. Người nghiêm khắc đòi hỏi bản thân mình và mọi tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể phải tuân thủ pháp luật, không một ai đứng ngoài, đứng trên pháp luật. Người nói: “Pháp luật của ta là pháp luật thật sự dân chủ, vì nó bảo vệ quyền tự do, dân chủ rộng rãi của nhân dân lao động. Nhân dân ta hiện nay có tự do, tự do trong kỷ luật. Mỗi người có tự do của mình, nhưng phải tôn trọng tự do của người khác. Người nào sử dụng quyền tự do của mình quá mức mà phạm đến tự do của người khác là phạm pháp”.
          Hồ Chí Minh đã sống một cuộc đời đầy gian nan, phải đối phó với nhiều kẻ thù, vượt qua nhiều trở ngại, bước đi lúc tiến, lúc lùi, sách lược lúc mềm, lúc rắn, nhưng luôn luôn thanh thản trong tâm hồn, ung dung tĩnh tại trong phong độ. Với sự nhạy cảm chính trị đặc biệt, Hồ Chí Minh luôn luôn đánh giá đúng đắn xu hướng phát triển của tình hình, từ đó đề ra những quyết định rất sáng suốt, khôn khéo, tạo nên những bước ngoặt cho cách mạng.  Việc nghiên cứu tư tưởng và phương pháp của Người trên mọi lĩnh vực, mà đặc biệt là ở lĩnh vực xây dựng nhà nước và pháp luật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng thành công nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân ở Việt Nam.

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ DÂN CHỦ TRONG ĐẢNG
Trần Đình Hải Châu
Chủ tịch Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ, người chiến sĩ vĩ đại của dân tộc Việt Nam đã hiến dâng cả cuộc đời mình cho độc lập, tự do và công lý của nhân dân ta và nhân loại yêu chuộng hoà bình trên toàn thế giới. Rời Tổ quốc từ năm 1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã trải qua những năm dài hoạt động cách mạng đầy sôi nổi và gian khó, tìm thấy chân lý và đường đi để đưa dân tộc Việt Nam sánh vai cùng bạn bè quốc tế. Lịch sử đã chứng minh rằng, người cộng sản Hồ Chí Minh đã từng bước vận dụng sáng tạo những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn của nước ta, để giải quyết những đòi hỏi cấp bách của thời cuộc. Không chỉ sáng lập một chính đảng mácxít lêninnít kiểu mới cho giai cấp vô sản Việt Nam, Người còn thành công trong việc xây dựng và thực hiện dân chủ trong nội bộ Đảng, để Đảng ta thực sự vững mạnh, thực sự là người lãnh đạo, người đầy tớ trung thành của nhân dân.
          Không ngoài mục tiêu giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc và giải phóng xã hội, ngay từ khi mới ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận thức sâu sắc rằng: Để có thể đưa sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta đi tới thắng lợi hoàn toàn, thì nhất định Đảng phải được “tổ chức một cách dân chủ. Điều đó có nghĩa là tất cả mọi công việc của Đảng đều được toàn thể các đảng viên, hoàn toàn bình quyền và không có ngoại lệ nào, tiến hành trực tiếp hoặc thông qua các đại biểu; đồng thời tất cả những người có trách nhiệm trong Đảng, tất cả các ban lãnh đạo của Đảng, tất cả các cơ quan của Đảng đều được bầu ra, đều có trách nhiệm phải báo cáo và có thể bị bãi miễn.
          Không phải ngẫu nhiên, ngay từ những năm hoạt động thực tiễn và lý luận ở Quảng Châu nhằm chuẩn bị cho sự ra đời của một chính đảng vô sản kiểu mới ở Việt Nam, và trong suốt quá trình sáng lập, rèn luyện Đảng ta, Hồ Chí Minh lại luôn quan tâm đặc biệt đến vấn đề thực hiện dân chủ trong nội bộ Đảng trên cả hai nội dung:
a, Bình đẳng là tiền đề của dân chủ trong Đảng
b, Dân chủ nhất trong nội bộ Đảng chính là cách làm việc, cách lãnh đạo, cách thức tự phê bình và phê bình của cán bộ đảng viên.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: Ở trong Đảng, mọi đảng viên đều phải quán triệt sâu sắc nguyên tắc tập trung trên nền tảng dân chủ và dân chủ nhưng phải dưới sự chỉ đạo tập trung, và vì thế nhất định không được tự do hành động, dân chủ quá trớn. Trong bài: Phải làm theo kỷ luật của Đảng, tháng 8/1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng viết: “Chủ trương của Đảng ta là: trong nội bộ thì mở rộng dân chủ, tự phê bình và phê bình. Nguyên tắc tổ chức thì cực kỳ nghiêm, tức là bất kỳ ở hoàn cảnh nào, mọi đảng viên và cán bộ cũng phải thật thà và triệt để chấp hành chính sách và nghị quyết của Đảng”. Đó chính là thực hiện dân chủ trong nội bộ Đảng một cách nghiêm túc nhất.
Thấu hiểu hoàn cảnh cụ thể của đất nước mình, muốn cho Đảng mạnh, hơn ai hết, Hồ Chí Minh hiểu rằng, mặc dù là tổ chức của những người con ưu tú nhất, song Đảng cũng ở trong xã hội. Xuất thân từ nhiều thành phần khác nhau, mỗi cán bộ, đảng viên bên cạnh bầu nhiệt huyết cách mạng, sẵn sàng hy sinh cho độc lập, tự do của Tổ quốc, vẫn còn đâu đó những tàn dư của tư tưởng phong kiến trong mình. Là người lãnh đạo, nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam không phải là một tổ chức để làm quan, phát tài. Dù đang làm nhiệm vụ gì, ở đâu và đảm nhiệm bất cứ cương vị công tác nào, mỗi đảng viên trong Đảng đều phải là đầy tớ của nhân dân, có quyền bình đẳng trước tổ chức, điều lệ, mục đích, lý tưởng và nhiệm vụ cao cả của Đảng. Điều đó có nghĩa là, người đảng viên không phấn đấu để giành những đặc quyền, đặc lợi do vị trí đảm nhiệm mang lại, mà phải phấn đấu để “giành lấy những quyền ngang nhau và những nghĩa vụ ngang nhau” trước Đảng, trước Tổ quốc và Nhân dân.
Không phân biệt cấp bậc, không màng tới ngôi thứ, địa vị, mỗi khi nói về nhiệm vụ của người đảng viên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều khẳng định: Mỗi người đảng viên, mỗi người cán bộ từ trên xuống đều phải hiểu rằng: mình vào Đảng để làm đầy tớ cho dân, là công bộc của dân. Trước Đảng và Nhân dân, ai nấy đều bình đẳng, có khác chăng là: Đảng viên mà là cán bộ, lại là những cán bộ cấp càng cao thì trách nhiệm càng lớn. Bởi trong tay những cán bộ cấp cao đó, phương tiện, công cụ, quyền lực rộng hơn, dễ đem lại những lợi ích thiết thực hơn, song ngược lại, những hậu quả xấu, những tác động của những công việc họ làm cũng vì vậy mà lớn hơn rất nhiều. Vì thế, Người nhấn mạnh, bình đẳng và dân chủ không đồng nghĩa với cào bằng, với bình quân chủ nghĩa, và Hồ Chí Minh đã từng viết trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc (10/1947) về trách nhiệm của người đảng viên như sau: “Nhất là những người cán bộ và lãnh tụ, càng phải làm cho xứng đáng lòng tin cậy của Đảng, của dân tộc”.
Xác định rõ rằng, dân chủ trong nội bộ Đảng chính là tạo mọi điều kiện để tất cả các đảng viên có thể tham gia đóng góp ý kiến cho Đảng, Người yêu cầu: “Phải thật sự mở rộng dân chủ để tất cả đảng viên bày tỏ hết ý kến của mình; phải gom góp ý kiến của đảng viên để giúp đỡ Trung ương”, nhằm tránh bệnh chuyên quyền, độc đoán, dẫn đến những hậu quả khôn lường. Từ những đúc kết trong thực tiễn, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Cán bộ, đảng viên vẫn ít sáng kiến, ít hăng hái, bởi trước hết và căn bản “là vì cách lãnh đạo của ta không được dân chủ” thực sự, dân chủ triệt để. 
2. Chăm lo đến vấn đề thực hiện dân chủ trong Đảng, đặc biệt hơn khi Đảng ta đã trở thành Đảng cầm quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn lưu tâm đến cách thức làm việc, đến tác phong và lề lối làm việc của người cán bộ, đảng viên. Cũng theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, việc thực hiện dân chủ trong nội bộ Đảng chính là biết lắng nghe những người cộng sự, dù người đó không thuộc cánh hẩu với mình, lắng nghe ý kiến đóng góp của quần chúng trước khi quyết định một vấn đề. Trong nguyên tắc sinh hoạt Đảng, trước khi quyết định bất cứ vấn đề nào, đảng viên phải hết sức thảo luận, phát biểu ý kiến và khi đa số đã quyết nghị thì tất cả các đảng viên đều phải chấp hành, bởi thế, Hồ Chí Minh từng nói: Không chỉ giữ chủ nghĩa cho vững, quyết đoán, dũng cảm mà “phục tùng đoàn thể” cũng là một nguyên tắc để thực hiện dân chủ trong nội bộ Đảng. Dân chủ giữa cấp trên và cấp dưới, giữa nam và nữ, giữa người già và người trẻ trong Đảng là dân chủ thực sự, dân chủ thành tâm, dân chủ để đoàn kết thống nhất thành một khối, là “dân chủ thật thà trong Đảng”.
Dân chủ trong Đảng, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, còn là dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm và nâng cao tinh thần phụ trách trước tổ chức, vì lợi ích của Tổ quốc và nhân dân. Dân chủ phải trở thành một nguyên tắc, một nề nếp và thực hành dân chủ để làm cho mọi cán bộ đảng viên “ai cũng được hưởng quyền dân chủ, tự do” thì Đảng mới có nguồn sức mạnh nội lực để chống lại những thói hư, tật xấu, những tàn dư của chủ nghĩa cá nhân. Tham ô, lãng phí, quan liêu - những căn bệnh xấu là kẻ thù của công cuộc xây dựng một chế độ xã hội mới, đồng thời cũng là kẻ thù của người cán bộ đảng viên. Vì vậy, chống lại những căn bệnh đó, chống lại thứ “kẹo bọc đường”, chính là góp phần thực hiện dân chủ trong Đảng.  Tuy nhiên, trong khi nêu cao và thực hiện dân chủ trong nội bộ Đảng, Người không quên nhắc nhở rằng, dân chủ trong nội bộ Đảng, nhưng dân chủ theo kiểu bị cắt xén, dân chủ nửa vời, không đầy đủ sẽ nhanh chóng chuyển sang bè cánh, phe phái, và hơn thế nữa, đó là lý thuyết “dân chủ” nhưng thực tế “quan chủ”.
Dân chủ trong nội bộ Đảng theo Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là tạo ra những điều kiện thuận lợi nhất để mỗi đảng viên làm chủ công việc mà mình được giao phó, làm cho họ tự ý thức và phát huy được vai trò người làm chủ của mình, tránh được tình trạng “nội bộ Đảng âm u, cán bộ trở nên những cái máy, trong lòng uất ức, không dám nói ra, do uất ức mà hoá ra oán ghét, chán nản” . Với Hồ Chí Minh, dân chủ trong Đảng đồng nghĩa với “không khi nào được dùng mệnh lệnh” và phải chú ý để kiểm tra công tác Đảng của các tổ chức cấp dưới.
Đề cập đến dân chủ trong nội bộ Đảng, không chỉ yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên mạnh bạo đề ra ý kiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn nhắc nhở mỗi người hãy luôn luôn thực hiện tự phê bình và phê bình như “rửa mặt hàng ngày”. Theo Người, chỉ có một Đảng chân chính cách mạng thực sự dân chủ mới dám mạnh dạn phê bình, hoan nghênh phê bình và kiên quyết sửa chữa. Lề lối làm việc phải dân chủ, cấp trên phải thường xuyên kiểm tra cấp dưới và ngược lại, cấp dưới cũng phải thường xuyên phê bình cấp trên, để nội bộ Đảng luôn thống nhất. Cũng theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi người cán bộ, khi được góp ý kiến phê bình (dù có những điều chưa hẳn đúng), cũng chớ nên quở trách, giễu cợt cán bộ đã phê bình mình. Thái độ cầu thị của cấp trên, sự thành tâm của cấp dưới khi tiến hành phê bình công khai và phê bình một cách có văn hoá, sẽ giúp mỗi người hiểu nhau hơn, xích lại gần nhau, đó mới thực sự là dân chủ trong nội bộ Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
Dân chủ thực chất là một biện pháp, biện pháp có tính nguyên tắc để xây dựng Đảng ta thành một Đảng Cộng sản luôn trong sạch vững mạnh theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Hơn 70 năm xây dựng và trưởng thành, Đảng ta không khi nào rời xa nguyên tắc đó, bởi Đảng nhận thức sâu sắc rằng, khi dân chủ trong nội bộ Đảng không được thực hiện và thực hiện không đầy đủ, sức mạnh của sự đoàn kết thống nhất trong Đảng sẽ không còn. Đẩy mạnh công cuộc xây dựng và chỉnh đốn Đảng, để Đảng thực sự xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ trung thành của nhân dân như mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì phải thực hiện dân chủ trong Đảng. Kỷ niệm 117 năm ngày sinh của Người và để thoả lòng mong ước của Người, chúng ta càng khôn nguôi nhớ lời Người căn dặn: “ Làm cho Đảng mạnh, thì phải mở rộng dân chủ”, mở rộng phê bình và tự phê bình, “nhất là phê bình từ dưới lên”./














TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ DÂN CHỦ VÀ TẬP TRUNG
DÂN CHỦ
Nguyễn Văn Hoà
Học viện Chính trị quân sự
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm tới vấn đề dân chủ và thực hành dân chủ. Tư tưởng của Người về vấn đề này hết sức rộng lớn, sâu sắc và có ý nghĩa thời sự nóng bỏng hiện nay.

          Tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh là tư tưởng dân chủ xã hội chủ nghĩa, mang bản chất của giai cấp công nhân thể hiện sự vận dụng nhuần nhuyễn và sáng tạo lý luận mác xít về dân chủ.

          Đó là hệ tư tưởng dẫn dắt giai cấp công nhân và quần chúng lao động đi tới cuộc sống ấm no, tự do hạnh phúc, không còn chế độ người bóc lột người. Sự nghiệp ấy do Đảng lãnh đạo và quần chúng nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng biểu hiện sức mạnh của mình trong hoạt động có tổ chức, tự giác và sáng tạo để từng bước xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.

          Những luận điểm về dân chủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh đều rất cô đọng, hàm súc vừa cụ thể giản dị, vừa khái quát sâu sắc. Trong những luận điểm đó, có những quan điểm mang tính định nghĩa khoa học, sự đúc kết thực tiễn và sự gắn bó hữu cơ giữa lý luận với thực tiễn. Đây không chỉ là sự sâu sắc của tư tưởng Hồ Chí Minh, mà còn là nét độc đáo đặc sắc trong phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh. Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, giá trị và ý nghĩa thực sự của dân chủ chỉ có được khi nhân dân lao động thực hiện lợi ích thiết thực và quyền lợi của họ với tư cách là quyền của người dân làm chủ được tôn trọng, được đảm bảo trong thực tế. Lợi ích và quyền lợi ấy phải mang nội dung toàn diện cả vật chất và tinh thần, cả kinh tế và chính trị văn hóa xã hội. Nó không chỉ được thừa nhận và đảm bảo về mặt pháp lý (được khẳng định trong hiến pháp, pháp luật), mà còn phải được thực hiện thông qua cơ chế chính sách (thông qua hiệu lực và hiệu quả vận hành của các cơ chế dân chủ), trước hết là hoạt động của bộ máy nhà nước. Chính vì thế, Người đặc biệt nhấn mạnh: "Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân". Nhà nước phải thể hiện ý chí quyền lực của dân, mưu cầu hạnh phúc cho dân, phấn đấu đem lại lợi ích cho dân, thoả mãn những nhu cầu hợp lý của các tầng lớp nhân dân trong xã hội. Đó là một nhà nước dân chủ và tiến bộ. Những lợi ích và nhu cầu đó lại phải được thể hiện một cách công bằng chính đáng, bảo đảm sự kết hợp hài hòa giữa phát triển các cá nhân với mục tiêu phát triển xã hội. Đồng thời, lại phải chăm lo giải quyết những vấn đề bức xúc hàng ngày của dân tộc, của đất nước.

          Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân tích so sánh làm nổi bật sự khác nhau về bản chất của dân chủ. Dân chủ đối lập với quan liêu. Một nhà nước dân chủ, một chế độ dân chủ phải thường xuyên chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa quan liêu, phải ra sức phát huy mọi khả năng của quần chúng trong cuộc đấu tranh chống quan liêu tham nhũng, đảm bảo cho nhân dân có quyền thực sự tham gia quản lý nhà nước. Người căn dặn cán bộ: “Việc gì lợi cho dân, thì phải làm cho kỳ được. Việc gì hại cho dân thì phải hết sức tránh”. Người yêu cầu mọi cán bộ cơ quan quyền lực phải hết sức tôn trọng dân, có lỗi thì dũng cảm tự nhận lỗi và quyết tâm sửa chữa. Người phê phán bệnh quan liêu cửa quyền, hách dịch, coi thường dân chúng của cán bộ và chỉ rõ đó là “quan chủ” đâu còn là dân chủ nữa. Đây là những lời dạy quý báu và luôn có tính thời sự trong công tác quản lý nhà nước, trong tu dưỡng đạo đức nâng cao văn hóa dân chủ của cán bộ ta.

          Chủ tịch Hồ Chí Minh còn khẳng định, xây dựng chế độ dân chủ không chỉ là xây dựng cơ sở kinh tế, chính trị, pháp luật của chế độ đó mà còn là xây dựng đạo đức, môi trường văn hóa-đạo đức trong sạch lành mạnh. Đó là cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân và xây dựng đạo đức cách mạng. Người chỉ rõ chủ nghĩa cá nhân là một căn bệnh nguy hiểm, một thứ “giặc nội xâm”, nó đẻ ra mọi thứ bệnh tật khác, làm thoái hóa tổ chức và làm hư hỏng cán bộ, làm tổn hại đến lợi ích nhân dân và xã hội, làm suy giảm nhiệt tình, lòng tin của dân đối với Đảng và Nhà nước.

          Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ còn biểu hiện ở chỗ, Người rất chú trọng đến mối quan hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ, giữa lợi ích và trách nhiệm bổn phận của công dân đối với nhà nước và xã hội. Đây là mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng, giữa con người với tổ chức, giữa thành viên và tập thể; được quy định bởi lợi ích, được điều chỉnh bởi pháp luật và dư luận xã hội, theo chuẩn mực đạo đức và văn hóa. Theo Người, nhân dân có quyền làm chủ thì đồng thời cũng có nghĩa vụ làm chủ. Mỗi công dân đều phải có nghĩa vụ tôn trọng và thực hiện pháp luật, tuân theo mệnh lệnh của Chính phủ, làm tròn bổn phận của người dân đối với nhà nước và xã hội. Cũng như vậy, dân chủ phải gắn liền với pháp luật, kỷ cương để đảm bảo cho mọi hoạt động diễn ra một cách có tổ chức, cùng hướng tới mục đích chung vì sự tiến bộ và phát triển, vì lợi ích chung của xã hội và lợi ích riêng của mỗi người.

          Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, chỉ như vậy mới tránh được những hành vi tự phát, tự do vô chính phủ, sự hỗn loạn, sự lạm dụng dân chủ để phá hoại dân chủ của nhân dân. Xuất phát từ quan niệm đó, Người đã dày công giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên và quần chúng những phẩm chất cần thiết mà mỗi người phải thấm nhuần, biến nó thành nhu cầu thói quen, tập quán lành mạnh để thực hiện dân chủ, chống tập trung quan liêu, chống tản mạn cục bộ, chống tuỳ tiện coi thường kỷ cương phép nước, tự do vô chính phủ. Người còn nhắc nhở uốn nắn mọi sự ngộ nhận về dân chủ, mọi biểu hiện vừa vi phạm dân chủ, vừa rơi vào dân chủ cực đoan hoặc dân chủ hình thức; quan tâm sâu sắc tới cơ chế biện pháp và các điều kiện bảo đảm dân chủ như áp dụng nghiêm túc chế độ tiếp dân, chế độ báo cáo, chế độ kiểm tra, phê bình và tự phê bình. Đồng thời, lại phải thực hiện các biện pháp như thông tin kịp thời, khách quan, trung thực, kết hợp giáo dục tuyên truyền, thuyết phục với các biện pháp hành chính, cưỡng chế, thưởng phạt nghiêm minh và sự bình đẳng của mọi người trước pháp luật.

          Những tư tưởng đó cho thấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bàn tới mối quan hệ giữa dân chủ với tập trung và việc thực hiện đúng đắn mối quan hệ biện chứng này phải trở thành một nguyên tắc trong lãnh đạo và quản lý.

          Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và tập trung dân chủ vào nâng cao chất lượng công tác lãnh đạo, chỉ huy, đội ngũ cán bộ quân đội cần thực hiện tốt một số nội dung cơ bản sau:

          Trước hết, phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và sự chỉ huy quản lý tập trung, thống nhất để thực hiện rộng rãi quá trình dân chủ hóa mọi hoạt động của đội ngũ cán bộ. Dân chủ được đảm bảo bởi tập trung và tập trung phải trên cơ sở dân chủ, vì mục đích dân chủ. Đó là một chỉnh thể thống nhất hữu cơ không thể tách rời trong hoạt động chỉ huy, lãnh đạo, quản lý đơn vị. Đặc biệt, trong hoàn cảnh chiến đấu, tập trung dân chủ phải đề cao tính tổ chức, tính kỷ luật, hành động thống nhất nhưng lại phải biết vận dụng sáng tạo trong những điều kiện tình huống cụ thể.

          Thứ hai, dân chủ trong hệ thống tổ chức quân đội đòi hỏi phải thực hiện nghiêm nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phân công phụ trách. Chủ tịch Hồ Chi Minh đã chỉ rõ, lãnh đạo không tập thể thì đi đến cái tệ bao biện độc đoán, chủ quan, kết quả là hỏng việc. Phụ trách không do cá nhân thì sẽ đi đến tệ bừa bãi, lộn xộn, vô chính phủ. Kết quả cũng hỏng việc. Tập thể lãnh đạo và cá nhân phân công phụ trách phải luôn luôn đi đôi với nhau. Từ đó, Người xác định: “Tập thể lãnh đạo là dân chủ. Cá nhân phụ trách là tập trung”.

          Tư tưởng đó của Người cho thấy, tập trung dân chủ phải thực sự là sức mạnh của dân chủ, bản chất đích thực của nó xa lạ với tập trung quan liêu, tự do vô tổ chức kỷ luật. Dân chủ không đối lập với tập trung mà chỉ đối lập với quan liêu chuyên chế độc tài; cũng như vậy, tập trung không đối lập với dân chủ mà chỉ đối lập với phân tán cục bộ, tự do vô chính phủ.

          Thứ ba, tiếp tục đổi mới và hoàn thiện cơ chế lãnh đạo, chỉ huy, nhằm tăng cường sức mạnh của bộ máy tổ chức, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý của người chỉ huy. Khắc phục những hiện tượng tiêu cực chuyên quyền, độc đoán, lộng quyền và lạm dụng quyền bởi vì nó hoàn toàn trái với tập trung dân chủ, có thể dẫn tới thái độ coi thường tập thể dẫn tới thói kiêu căng tự mãn chủ quan, cá nhân độc đoán. Mặt khác, kiên quyết đấu tranh phê phán những cán bộ núp dưới danh nghĩa tập thể để hoạt động bè phái chia rẽ, đùn đẩy trách nhiệm cho tập thể. Do vậy, Đảng uỷ và chỉ huy các cấp trong quân đội phải tăng cường công tác giáo dục và kiểm tra cán bộ, đề cao kỷ luật, xử lý nghiêm minh mọi hành vi vi phạm nguyên tắc chế độ, điều lệnh, điều lệ của quân đội và pháp luật của Nhà nước.



TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐÁNH GIÁ VÀ SỬ DỤNG
 CÁN BỘ
Đình Thanh
Theo Người, ''cán bộ là gốc của công việc'', do đó Người yêu cầu ''phải biết rõ cán bộ” và ''hiểu biết cán bộ'' để có kế hoạch bồi dưỡng, huấn luyện, sử dụng phù hợp. Đánh giá đúng cán bộ tức là xác định chính xác ai tốt ai xấu, ai mạnh chỗ nào, yếu chỗ nào, khả năng hoàn thành công việc đến đâu, quan hệ với quần chúng ra sao để từ đó ''tìm thấy những nhân tài mới... những người hủ hoá cũng lòi ra''.
          Cán bộ là con người, vì vậy người cán bộ luôn chịu sự tác động của hoàn cảnh lịch sử, xã hội nên khi đánh giá cán bộ, Hồ Chí Minh luôn đặt cán bộ trong mối quan hệ toàn diện, nhiều chiều, phát triển và không định kiến ''một người cán bộ khi trước có sai lầm, không phải sẽ sai lầm mãi. Cũng có cán bộ đến nay chưa bị sai lầm nhưng chắc gì sau này không bị sai lầm? Quá khứ, hiện tại và tương lai của mọi người không phải luôn luôn giống nhau... lúc cách mạng lên cao thì hăng hái, lúc cách mạng gặp khó khăn thì đâm ra hoang mang'' hoặc ''nhận xét cán bộ không nên chỉ xét ngoài mặt, chỉ xét một lúc, một việc mà phải xét kỹ cả toàn bộ công việc của cán bộ''. Theo Người, phải lấy tiêu chuẩn để đánh giá ''cán bộ nào, phong trào ấy''. Một người cán bộ tốt phải là người có đủ đức và tài, Hồ Chí Minh chỉ rõ: Đức là đạo đức cách mạng, là cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; tài là người có khả năng hành động, làm việc mang lại hiệu quả cao. Đức và tài phải thống nhất với nhau trong đó ''Đức là gốc''.
          Một điều quan trọng nữa là người đánh giá cán bộ. Để đánh giá đúng, đòi hỏi người đánh giá phải công tâm, vô tư, khách quan. Do đó, bản thân người đánh giá cũng phải ''tự sửa mình'' để "nếu không biết sự phải trái của mình thì không thể nhận rõ cán bộ tốt hay xấu''. Đặc biệt đánh giá cán bộ phải dựa vào dân, lấy ý kiến của dân, đem ra tập thể bàn bạc và đi đến thống nhất.
          Đánh giá đúng cán bộ để Đảng có kế hoạch huấn luyện cán bộ vì ''cán bộ là tiền vốn của Đảng'', ''công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém'', “Đạo đức cách mạng không phải từ trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc, càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”.
          Sử dụng cán bộ thế nào? Theo Hồ Chí Minh, trước hết phải xác định đúng yêu cầu của công việc, ''công việc yêu cầu cán bộ'' và khi bố trí, sử dụng phải tránh sự thiên vị cá nhân. Dùng người là cả một khoa học và nghệ thuật, do đó, nếu bố trí đúng sẽ phát huy mặt mạnh của cán bộ, thúc đẩy được phong trào và còn hạn chế được mặt yếu, mặt dở của họ. Người chỉ ra những khuyết điểm khi sử dụng cán bộ, người quản lý hay mắc phải đó là ''ba ham''. ''Ham dùng người bà con, anh em quen biết, bầu bạn, cho họ là chắc chắn hơn người ngoài. Ham dùng những kẻ nịnh hót mình mà chán ghét những người chính trực. Ham dùng những người tính tình hợp với mình, mà tránh những người tính tình không hợp với mình''.
          Người căn dặn 5 vấn đề mà người cán bộ lãnh đạo phải thực hiện khi dùng người:
          ''Mình phải độ lượng, vị tha thì mới có thể đối với cán bộ một cách chí công -vô tư, không có thành kiến, khiến cán bộ không bị bỏ rơi''; ''Phải có tinh thần rộng rãi, mới có thể gần gũi những người mình không ưa”; ''Phải có tính chịu khó dạy bảo mới có thể nâng đỡ những đồng chí còn kém, giúp cho họ tiến bộ''; ''Phải sáng suốt mới khỏi bị bọn vu vơ bao vây, mà cách xa cán bộ tốt''; ''Phải có thái độ vui vẻ, thân mật, các đồng chí mới vui lòng gần gũi mình''.
          Đồng thời, Hồ Chí Minh nhắc nhở phải mạnh dạn cất nhắc cán bộ và thường xuyên luân chuyển cán bộ, chống bệnh ích kỷ, địa phương, kéo bè, chia rẽ phái này phái kia ''phải kết thành một khối không phân biệt, không kèn cựa và giúp đỡ nhau thì công việc mới chạy”. Trong quá trình sử dụng cán bộ phải thường xuyên đánh giá để kịp thời uốn nắn, sửa chữa khuyết điểm cho cán bộ và bố trí lại cán bộ khi cần thiết.

          Thực tế, trong cuộc đời làm cách mạng, Hồ Chí Minh đã để lại cho Đảng ta di sản quý báu đó là khoa học và nghệ thuật về đánh giá và sử dụng cán bộ.
          Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đội ngũ cán bộ có nội hàm hết sức phong phú nên cần được nghiên cứu ở nhiều phương diện. Song, cần khẳng định: Đánh giá cán bộ, sử dụng cán bộ là cả một vấn đề khoa học và nghệ thuật, và phải luôn ghi nhớ lời Bác dạy: “Công việc thành hay bại đều từ cán bộ mà ra''.












TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ MÔ HÌNH MỘT BỘ MÁY CHÍNH PHỦ  HIỆN ĐẠI
Diệp Văn Sơ
Trong di sản của tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng tổ chức một nhà nước pháp quyền kiểu mới, đặc biệt, tư tưởng tổ chức một chính phủ theo mô hình chính phủ hiện đại là một di sản cần được nghiên cứu một cách nghiêm túc để rút ra những bài học bổ ích cho việc xây dựng một chính phủ phù hợp với xu thế cải cách hành chính.

          Có lẽ trong quá trình bôn ba tìm đường cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp xúc, chiêm nghiệm nhiều mô hình Chính phủ của các nước phương Tây. Người đã chắt lọc, tiếp thu mặt tích cực, hợp lý của việc tổ chức các Chính phủ này để sau khi cách mạng thành công giành độc lập, Người đứng ra thiết kế bộ máy Chính phủ hợp lý, một Chính phủ hiện đại.
          Giai đoạn tiền khởi nghĩa
          Khi thời cơ tổng khởi nghĩa giành chính quyền đã chín muồi, Ủy ban khởi nghĩa được thành lập (l3-8-1945) và hạ lệnh tổng khởi nghĩa. Ngày 16-8-1945, Đại hội đại biểu quốc dân khai mạc ở Tân Trào, có khoảng 60 đại biểu đại diện cho các đảng phái yêu nước, các đoàn thể cứu quốc, các dân tộc, các tôn giáo...

          Đại hội quốc dân Tân Trào mang tầm vóc lịch sử như một Quốc hội của nước Việt Nam mới quyết định Tổng khởi nghĩa, cử ra Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam để chỉ đạo cuộc Tổng khởi nghĩa trong toàn quốc là “một tiến bộ rất to trong lịch sử tranh đấu giải phóng của dân tộc ta ngót một thế kỷ nay”. Đây là một sáng tạo độc đáo của Hồ Chí Minh, của Đảng và Tổng bộ Việt Minh trong việc phát huy trí tuệ và lực lượng của dân tộc trong sự nghiệp giành độc lập tự do.

          Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam có tính chất như Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch với một phó chủ tịch và 13 ủy viên, một Chính phủ rất gọn.

          Cuộc Tổng khởi nghĩa đã diễn ra nhanh chóng trong toàn quốc, tiêu biểu là Hà Nội (19-8), Huế (23-8), Sài Gòn (25-8). Chính quyền cách mạng đã được thành lập khắp trong toàn quốc. Trước thắng lợi của cách mạng, Bảo Đại phải chính thức tuyên bố thoái vị để Chính phủ dân chủ cộng hòa điều khiển quốc dân và được làm dân tự do của một nước độc lập.

          Ngày 25-8-1945, Chủ tịch Ủy ban dân tộc giải phóng đã về đến Hà Nội. Theo đề nghị của Hồ Chủ tịch, Ủy ban dân tộc tự cải tổ thành Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

          Ngày 28-8-1945, Chính phủ ra Tuyên cáo và công bố danh sách Chính phủ. Tuyên cáo nêu rõ: “Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thật là một Chính phủ quốc gia thống nhất giữ trọng trách là chỉ đạo cho toàn thể, đợi ngày triệu tập được Quốc hội để cử ra một Chính phủ Cộng hòa chính thức”.

          Chính phủ lâm thời gồm 15 thành viên, 13 bộ và 2 bộ trưởng không giữ bộ nào.

          Ngày 2-9-1945, tại vườn hoa Ba Đình hàng chục vạn đồng bào nội ngoại thành Hà Nội và các địa phương lân cận đã về dự lễ Độc lập. Chính phủ lâm thời ra mắt quốc dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời long trọng đọc Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới: Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra đời. Các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam được khẳng định trong tuyên ngôn độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời công bố trước quốc dân đồng bào và thế giới (2-9-1945) có ý nghĩa như một nền tảng pháp lý quan trọng của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

          Buổi lễ kết thúc bằng lời thề Độc lập của hàng chục vạn quần chúng.

          Giai đoạn hình thành nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

          Lịch sử Việt Nam đã bước sang một trang mới. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945 và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đánh dấu một bước nhảy vọt trong tiến trình lịch sử tiến hóa của dân tộc, một kỷ nguyên lịch sử mới đã được mở ra - Kỷ nguyên độc lập tự do!

          Ngày 6-1-1946, cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội, sau đấy ngày 2-3-1946, Quốc hội đã họp kỳ họp thứ nhất. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc báo cáo của Chính phủ lâm thời trước Quốc hội. Quốc hội đã bầu Hồ Chí Minh làm Chủ tịch Chính phủ và giao cho Chủ tịch thành lập Chính phủ mới.

          Hồ Chủ tịch đã đệ trình trước Quốc hội cơ cấu và các thành viên của Chính phủ liên hiệp kháng chiến. Gồm Chủ tịch, phó Chủ tịch và 10 Bộ trưởng. Đây là Chính phủ hợp hiến đầu tiên. 10 bộ gồm có: Bộ Ngoại giao, Bộ Nội vụ, Bộ Kinh tế, Bộ Tài chính, Bộ Quốc phòng, Bộ Xã hội - Y tế - Cứu tế và Lao động, Bộ Giáo dục, Bộ Tư pháp, Bộ Giao thông công chính, Bộ Canh nông.

          Xét về mặt hình thức, có thể nhận thấy mô hình Chính phủ 13 và 10 Bộ rất gần với Chính phủ của các quốc gia phát triển ngày nay mà trong tư tưởng chỉ đạo chúng ta đang hướng tới là giảm Bộ, giảm Cơ quan thuộc Chính phủ, tổ chức Bộ liên ngành đa lĩnh vực. Trước kia, trong nền kinh tế kế hoạch tập trung, hễ có ngành sản xuất nào thì có bộ đó. Thí dụ: Bộ Cơ khí luyện kim, Bộ Điện than, Bộ Mỏ địa chất, Bộ Công nghiệp nặng, Bộ Công nghiệp nhẹ, Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm... Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, việc tách quản lý hành chính nhà nước ra khỏi hoạt động sản xuất kinh doanh đòi hỏi phải tổ chức Bộ liên ngành đa lĩnh vực. Thí dụ, ta đã nhập 3 Bộ Thủy lợi, Lâm nghiệp, Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm, Tổng cục Cao su Việt Nam thành Bộ Nông nghiệp-Phát triển nông thôn. Nhập Bộ Điện than, cơ khí luyện kim, công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ, Tổng cục hóa chất thành Bộ Công nghiệp. Hiện nay, các bộ này hoạt động bình thường, có hiệu quả.
          Trên thế giới ngày nay, chúng ta thấy nhiều chính phủ của các nước phát triển tổ chức không quá 15 bộ.
          Tư tưởng tổ chức bộ máy chính quyền
          Đối với chính quyền địa phương do Chính phủ quản lý, ngay từ những ngày đầu mới giành được độc lập, dù bận trăm công nghìn việc, lo chống “giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm”, Hồ Chủ tịch nhanh chóng ban hành Sắc lệnh số 63 ngày 22-11-1945 về “Tổ chức chính quyền nhân dân ở các địa phương” và ngay sau đó, ngày 21-12-1945 lại ban hành tiếp Sắc lệnh số 77 về “Tổ chức chính quyền nhân dân ở các thị xã và thành phố”. Rõ ràng là dù Chính phủ lâm thời còn rất non trẻ, nhưng dưới sự lãnh đạo và điều hành trực tiếp của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã phân biệt rõ sự khác nhau của việc tổ chức quản lý địa bàn nông thôn so với địa bàn đô thị. Ở địa bàn nông thôn, do xác định cấp huyện là cấp trung gian giữa tỉnh và xã cho nên không thiết kế Hội đồng nhân dân huyện, chỉ có Ủy ban hành chính huyện.

          Trên địa bàn đô thị, Sắc lệnh số 77 ngày 21-12-1945 của Chính phủ lâm thời do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo chỉ thiết kế “ở mỗi thành phố đặt 3 thứ cơ quan: Hội đồng Nhân dân thành phố, Ủy ban Hành chính thành phố và Ủy ban Hành chính khu phố” (Điều 3). Như vậy là ở thành phố, theo Sắc lệnh 77, có 2 cấp và Hội đồng nhân dân chỉ có ở cấp thành phố. Phải chăng đây là tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc xây dựng chính quyền nhân dân: lấy hiệu quả làm mục tiêu, gọn, nhẹ theo đúng khoa học về tổ chức và đỡ tốn tiền của dân, có hiệu lực để phục vụ tốt cho dân. Mô hình tổ chức đô thị 2 cấp chính quyền theo Sắc lệnh 77 giống như tổ chức quản lý đô thị hiện nay của các thành phố như Paris (Pháp), Tokyo (Nhật)…

          Nghiên cứu Nghị quyết 3 Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII phần tiếp tục cải cách nền hành chính Nhà nước có yêu cầu: “… Nghiên cứu phân biệt sự khác nhau giữa hoạt động của Hội đồng nhân dân và nhiệm vụ quản lý hành chính ở đô thị với hoạt động của Hội đồng nhân dân và nhiệm vụ quản lý hành chính ở nông thôn…”.

          Sở dĩ có sự phân biệt này là do xuất phát từ những đặc điểm khác nhau khá rõ nét giữa địa bàn đô thị và nông thôn. Điều đáng nói là cho đến nay chúng ta chưa có những kết luận dứt khoát về sự phân biệt này.

          Thực trạng quản lý đô thị ngày nay còn những bất cập, lộn xộn có lẽ vì thiết kế bộ máy quản lý đô thị không khác gì bộ máy quản lý nông thôn.

          Nhận thấy con người trong bộ máy chính quyền các cấp giữ vai trò quyết định hiệu quả hoạt động của chính quyền, ngay từ những năm kháng chiến gian khổ ở chiến khu Việt Bắc, Hồ Chủ tịch đã ban hành Sắc lệnh 76 ngày 20-5-1950 về Quy chế công chức Việt Nam. Quy chế công chức ra đời đã bước đầu luật hóa hoạt động của công chức, không chỉ bằng kêu gọi, giáo dục về chính trị tư tưởng mà đòi hỏi trong một nhà nước pháp quyền mọi hoạt động của công chức phải trong khuôn khổ pháp luật. Công chức chỉ được làm những gì mà pháp luật cho phép. Ngay việc tuyển chọn, bổ nhiệm công chức vào ngạch, từ năm 1950 theo quy chế đã tổ chức hình thức thi tuyển. Một điều đáng nói là sau gần 50 năm (1998) chúng ta mới ban hành Pháp lệnh Cán bộ công chức và phục hồi việc thi để tuyển công chức. Thật là một sự chậm trễ cần phải suy ngẫm và rút kinh nghiệm.

          Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh trong lĩnh vực xây dựng nhà nước pháp quyền, tổ chức hoạt động của Chính phủ không nên nói những vấn đề lý luận chung chung mà phải nghiên cứu những việc Bác đã làm, những mô hình Bác tự tay thiết kế, chúng ta mới mong rút ra những bài học bổ ích trong việc xây dựng chính quyền hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Một chính quyền thực sự của dân, do dân và vì dân trên thực tế chứ không phải chỉ trên khẩu hiệu và nằm trong khát vọng.








TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH - SỰ THỐNG NHẤT GIỮA “ĐỨC TRỊ” VỚI “PHÁP TRỊ”
PGS. TS Bùi Đình Phong
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Ra đi tìm đường cứu nước năm 1911, Hồ Chí Minh nuôi dưỡng khát vọng thành lập một nhà nước kiểu mới. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, trên cơ sở những nhận thức trước đây về một nhà nước “phải có thần linh pháp quyền”, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến quyền lực của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải thuộc về nhân dân, lợi ích phải vì dân. Đó phải là một nhà nước dân chủ - dân là chủ và dân làm chủ. Đồng thời nhà nước đó phải được vận hành và quản lý bằng pháp luật kết hợp chặt chẽ với việc giáo dục đạo đức. Quan niệm về sự thống nhất giữa “đức trị” với “pháp trị” trong tư tưởng Hồ Chí Minh có nguồn gốc sâu xa từ truyền thống văn hóa phương Đông và từ tấm gương trị nước của các vị vua chúa hiền minh trong lịch sử Việt Nam. Tuy nhiên, vượt lên tất cả những ông vua đức độ và kẻ sĩ hiền tài, trong quá trình trị vì đất nước, Hồ Chí Minh đã thực thi triệt để vấn đề “đức trị” với “pháp trị” trên cơ sở cách mạng, khoa học và nhân nghĩa, nói đi đôi với làm vì hạnh phúc của nhân dân.
Pháp luật và đạo đức là hai lĩnh vực khác nhau thuộc hình thái ý thức xã hội. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, hai vấn đề này có mối quan hệ mật thiết với nhau. Pháp luật là một biện pháp để khẳng định một chuẩn mực đạo đức; ngược lại đạo đức là những nguyên tắc, chuẩn mực, định hướng giá trị được xã hội thừa nhận, có tác dụng chi phối, điều chỉnh hành vi con người trong quan hệ với người khác, nhưng nhiều khi rất cần sự hỗ trợ của pháp luật. Bởi vì nếu không kết hợp với tính nghiêm minh, khoa học của pháp luật thì giáo dục đạo đức trở thành vô nghĩa. Tư tưởng và tấm gương Hồ Chí Minh cho thấy rõ điều này. Chẳng hạn khi trả lời vụ Chu Bá Phượng, Người nói Chính phủ đã cố gắng liêm khiết (tức là đạo đức). Nhưng nếu làm gương không xong, thì sẽ dùng pháp luật mà trị những kẻ ăn hối lộ. Trước khi ký lệnh bác đơn chống án của Trần Dụ Châu, với một trái tim bao dung, độ lượng, Hồ Chí Minh rất đau lòng, suy nghĩ nhiều đêm. Nhưng rõ ràng, những vụ tham nhũng kiểu đó mà nếu chỉ kêu gọi, giáo dục đạo đức không thôi thì không bao giờ giải quyết được vấn đề. Phải có một bộ máy thể hiện tính khoa học và nghiêm minh của pháp luật. Tư tưởng Hồ Chí Minh là nặng về giáo dục, nhẹ về xử phạt, nhưng cái gì cũng không dùng đến xử phạt thì không nên, sẽ mất cả kỷ luật. Trọn đời Hồ Chí Minh là một cuộc đời giáo dục mọi người làm người, lấy đức làm gốc. Bởi vì, dù tài giỏi đến mấy mà không có đức, không có căn bản thì không làm được cách mạng. Nhưng Người luôn quán triệt “đức trị” phải thống nhất với “pháp trị”. Trong Di chúc, Người viết: “Đối với nạn nhân của chế độ xã hội cũ, như trộm cắp, gái điếm, cờ bạc, buôn lậu,v.v.. thì Nhà nước phải dùng vừa giáo dục, vừa dùng pháp luật để cải tạo họ, giúp họ trở nên những người lao động lương thiện” .
Một ngày sau khi đọc Tuyên ngôn độc lập khẳng định quyền con người và quyền của các dân tộc, tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ (3-9-1945), trong 6 nhiệm vụ cấp bách, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra nhiệm vụ thứ ba là “chúng ta phải có ngay một hiến pháp dân chủ; phải tổ chức càng sớm càng hay cuộc TổNG TUYểN Cử với chế độ phổ thông đầu phiếu” để sớm có một Nhà nước hợp hiến do nhân dân bầu ra. Ngày 17-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh ấn định thể lệ Tổng tuyển cử. Ngày 20-9-1945, Người ký Sắc lệnh 34 thành lập ủy ban dự thảo hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để chuẩn bị đệ trình Quốc hội. Chính phủ liên hiệp kháng chiến được Quốc hội họp phiên đầu tiên ngày 2-3-1946 bầu ra là Chính phủ hợp hiến đầu tiên có đầy đủ tư cách và hiệu lực trong việc giải quyết mọi vấn đề đối nội và đối ngoại.
Hồ Chí Minh hiểu rõ rằng, từ một nền văn hóa nông nghiệp, trải qua hàng nghìn năm dưới chế độ phong kiến chuyên chế và hàng trăm năm dưới chế độ thực dân cũng không kém phần chuyên chế, chúng ta không thể đi nhanh tới việc xác lập một nhà nước pháp quyền. Tuy nhiên phải nhấn mạnh tới vai trò của pháp luật trong quản lý điều hành đất nước và phải có những hoạt động tích cực, kịp thời để từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật. Nói tới pháp luật của chế độ mới dân chủ cộng hòa là phải gắn với dân chủ, hai nội dung đó nương tựa vào nhau. Pháp luật là bệ đỡ của dân chủ và không thể có dân chủ ngoài pháp luật. Theo Hồ Chí Minh, mọi quyền dân chủ phải được thể chế hóa bằng pháp luật và pháp luật bảo đảm cho quyền tự do dân chủ được thực thi trong thực tế.
Hồ Chí Minh là người có công lớn nhất trong sự nghiệp lập hiến và lập pháp. Nhưng điều quan trọng hơn là Người tập trung chỉ đạo đưa pháp luật vào cuộc sống, làm cho pháp luật có hiệu lực trong thực tế, tạo cơ chế bảo đảm cho pháp luật được thi hành. Đối với một nước dân chủ, Hồ Chí Minh quan tâm tới năng lực làm chủ của người dân. Trước đây, dưới chế độ cũ, bọn thực dân phong kiến tìm cách làm cho dân ngu để dễ trị. Trong chế độ mới, Hồ Chí Minh quan tâm giáo dục lại nhân dân, nâng cao dân trí, làm sao cho nhân dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm. Pháp luật chỉ có hiệu lực trong thực tế khi nhân dân có những hiểu biết nhất định về văn hóa, chính trị, về pháp luật, về quyền công dân. Người dân chỉ có thể “dám mở mồm ra” - như cách nói của Bác Hồ - khi có những hiểu biết nhất định về pháp luật.
Giáo dục nhân dân hiểu biết về pháp luật là cần thiết, vì điều đó tạo ra tính chủ động của người dân trong thực thi pháp luật. Nhưng cán bộ - nhất là cán bộ ngành tư pháp - làm gương trong việc tuân thủ pháp luật cũng rất cần thiết. Nói chung thì đạo làm gương cần thiết trong mọi hoạt động. Bởi vì văn hoá phương Đông chứa đựng một triết lý “một tấm gương sống còn có giá trị hơn hàng trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Trong thư gửi Hội nghị tư pháp toàn quốc tháng 2-1948, Hồ Chí Minh viết: “Các bạn là bậc trí thức. Các bạn có cái trách nhiệm nặng nề và vẻ vang là làm gương cho dân trong mọi việc… Các bạn là những người phụ trách thi hành pháp luật. Lẽ tất nhiên các bạn phải nêu cao cái gương “phụng công, thủ pháp”, chí công vô tư cho nhân dân noi theo”. Hồ Chí Minh là tấm gương sáng, mẫu mực trong việc thực thi pháp luật. Những câu chuyện về việc Người chấp hành nghiêm chỉnh luật giao thông, đèn đỏ dừng lại, hay đơn giản là tôn trọng quy định của nhà chùa cởi dép khi vào lễ Phật,… được nhân dân truyền tụng, học tập, có sức giáo dục to lớn cho cán bộ, nhân dân trong việc thực thi pháp luật.
Tư tưởng “pháp trị” của Hồ Chí Minh đặc biệt thể hiện nổi bật ở việc bảo đảm tính khoa học, hiệu lực và nghiêm minh của pháp luật. Hơn hai tháng sau khi tuyên bố độc lập, ngày 23/11/1945, Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh 64-SL về việc thành lập Ban Thanh tra đặc biệt và một Toà án đặc biệt có nhiệm vụ giám sát và xét xử các sai phạm của các nhân viên từ trong các uỷ ban nhân dân các cấp đến cơ quan cao nhất của chính quyền (các Bộ).
Bốn ngày sau khi ký Sắc lệnh thành lập Ban Thanh tra đặc biệt và Toà án đặc biệt, Hồ Chí Minh lại ký tiếp Sắc lệnh ấn định hình phạt tội đưa và nhận hối lộ sẽ bị phạt từ 5 đến 20 năm khổ sai và phải nộp phạt gấp đôi số tiền nhận hối lộ. Cuối năm đó, khi giao cho đồng chí Lê Giản phụ trách ngành Công an (Ty Liêm phóng), Người đã dặn rằng: Chú phụ trách ngành này là phải “thiết diện vô tư”, tức là mặt sắt không thiên vị. Nếu chú không “thiết diện vô tư” thì Bác sẽ “thiết diện vô tư” đối với chú. Như vậy, chỉ trong vòng 3-4 tháng sau ngày tuyên bố nước Việt Nam độc lập, Hồ Chí Minh đã tập trung cao độ cho việc xây dựng bộ máy, trong đó có khía cạnh pháp luật chống tham nhũng, một trong những vấn đề lớn liên quan tới sự sống còn của chế độ mới. Ngay cả khi nói về Đảng, gắn vấn đề pháp luật chống tham nhũng, Người khẳng định “nếu cần có đảng phái thì sẽ là đảng dân tộc Việt Nam. Đảng đó sẽ chỉ có một mục đích làm cho dân tộc ta hoàn toàn độc lập. Đảng viên của đảng đó sẽ là tất cả quốc dân Việt Nam, trừ những kẻ phản quốc và những kẻ tham ô ra ngoài”. Trong trường hợp này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt ngang hàng kẻ tham ô với kẻ phản quốc. Và hai tội danh này đều xếp vào khung hình phạt tử hình theo Quốc lệnh 10 điều thưởng và 10 điều phạt ngày 26-1-1946 do Hồ Chí Minh ký.
Với tư cách là người đứng đầu Chính phủ, Hồ Chí Minh trăn trở với vận nước, với “nền dân chủ mới chưa hoàn toàn”. Năm tháng sau khi tranh được quyền độc lập, Hồ Chí Minh đã có bài “tự phê bình” trên báo Cứu quốc số 153, ngày 28-1-1946. Sau khi khẳng định Chính phủ có làm được một số việc, Hồ Chí Minh đau lòng thừa nhận rằng “tuy nhiều người trong ban hành chính làm việc tốt và thanh liêm, song cái tệ tham ô, nhũng lạm chưa quét sạch”. Đây là lần đầu tiên trong chế độ mới, Hồ Chí Minh dùng hai từ “nhũng lạm” với nghĩa lạm dụng quyền lực để tham nhũng. Người lạm dụng quyền lực thì trước hết phải có quyền lực. Vậy thì ai là những người có quyền lực? Theo Hồ Chí Minh, đó chỉ có thể là những người làm việc trong các công sở, cán bộ các cơ quan, các đoàn thể. Và quyền lực ở đây được đặt trong mối tương quan giữa cán bộ công chức với nhân dân. Người dân không thể có quyền hành, quyền lực; chỉ có cán bộ công chức mới có quyền hành, quyền lực. Người viết: “Những người trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hành. Nếu không giữ đúng Cần, Kiệm, Liêm, Chính, thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân” (3). Sau này Người lại viết: “Trước nhất là cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư” .
Trong năm 1946, những chuyện về ăn hối lộ, tham nhũng trong Chính phủ đã được Quốc hội nước ta lúc bấy giờ hết sức quan tâm. Đặc biệt là sau vụ Chu Bá Phượng, Bộ trưởng Bộ kinh tế trong Chính phủ liên hiệp kháng chiến, là đại biểu của Việt Nam Quốc dân đảng, thành viên trong đoàn Chính phủ ta dự Hội nghị Fontainbleau, bị các nhà chức trách Pháp bắt được vì mang vàng đi buôn. Tại kỳ họp thứ hai Quốc hội khoá I (11-1946), có đại biểu Quốc hội đã chất vấn Chính phủ về vụ việc này. Thay mặt Chính phủ, Bác Hồ đã trả lời thẳng thắn rằng, “Chính phủ hiện thời đã cố gắng liêm khiết lắm. Nhưng trong chính phủ, từ Hồ chí Minh đến những người làm việc ở các uỷ ban làng, đông lắm, phức tạp lắm. Dù sao, Chính phủ đã hết sức làm gương, và nếu làm gương không xong, thì sẽ dùng pháp luật mà trị những kẻ ăn hối lộ. Đã trị, đang trị và sẽ trị cho kỳ hết”. Tư tưởng Hồ Chí Minh về tính nghiêm minh của pháp luật thật rõ ràng, dứt khoát: “Pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì”.
Bước vào thập niên năm mươi, để tập trung mọi khả năng cho thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới công tác chỉnh Đảng, chống tham ô, lãng phí, quan liêu, nghiêm minh với tội hối lộ. Ngày 24-1-1952, khi viết về “Sự nghiệp vĩ đại của Lênin”, Người đã nhắc tới tính nghiêm khắc của Lênin trong việc xử bọn ăn hối lộ: “Đối với tệ tham ô hủ hoá, Lênin rất nghiêm khắc. Có một lần Toà án Mạc Tư Khoa xử nhẹ một vụ ăn hối lộ, Lênin liền viết trong một bức thư: “không xử bắn bọn ăn hối lộ mà xử nhẹ như thế, là một việc xấu hổ cho những người cộng sản, những người cách mạng”. Trong kháng chiến chống Pháp (9-1950), Bác Hồ - dù rất đau lòng - vẫn đã y án tử hình Trần Dụ Châu, Đại tá, Cục trưởng Cục quân nhu, phạm tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn, bớt xén phần cơm áo của bộ đội để sống trác táng, trụy lạc. Người tâm sự với Trần Đăng Ninh trước khi ký bác đơn chống án của Trần Dụ Châu: “Với loài sâu mọt đục khoét nhân dân, nếu phải giết đi một con mà cứu được cả rừng cây, thì việc đó là cần thiết, hơn nữa là nhân đạo” .
Để bảo đảm nhà nước pháp quyền có hiệu lực mạnh, với tư tưởng ‘tìm người tài đức”, chiêu hiền đãi sĩ, cầu người hiền tài, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới việc xây dựng đội ngũ cán bộ công chức vừa “hồng” vừa “chuyên”. “Hồng” ở đây là nói tới phẩm chất đạo đức của người cán bộ công chức, mà hàng đầu và xuyên suốt là ý thức và tinh thần tận tụy phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc. Còn “chuyên’ là nói tới năng lực thực tế của công chức Việt Nam nói chung và năng lực trong việc giữ một nhiệm vụ cụ thể trong bộ máy nhà nước nói riêng với tinh thần “làm nghề gì cũng phải học” và “làm nghề gì phải giỏi nghề đó”.
Hiện nay, trong kỷ nguyên toàn cầu hóa, chúng ta phải có tư duy toàn cầu về một Quốc hội, một Chính phủ thời hội nhập. Vấn đề rộng lớn, nhưng lõi cốt là tập trung xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; Chính phủ phải thật sự là công bộc của dân. Chúng ta coi việc giáo dục cán bộ, đảng viên, nhân dân học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là vấn đề có ý nghĩa cơ bản, lâu dài và cấp bách. Tuy nhiên, hội nhập quốc tế mà pháp luật không nghiêm thì phải trả giá đắt. Chúng ta đã có quá nhiều bài học về vấn đề này do sự kém hiểu biết về pháp luật (Việt Nam và quốc tế), non kém trong trình độ quản lý, không nghiêm và minh về pháp luật. Trước tình hình đó, việc nghiên cứu và quán triệt sâu sắc tư tưởng và tấm gương Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa “đức trị” với “pháp trị” là hết sức cần thiết, vì nó tiếp tục soi sáng công cuộc đổi mới của Đảng và dân tộc ta.




TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ THỰC HIỆN DÂN CHỦ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC
PGS. TS. TRẦN QUANG NHIẾP

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Người trực tiếp chỉ đạo việc xây dựng bộ máy nhà nước và hệ thống pháp luật của nước Việt Nam mới. Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước dân chủ, trong đó pháp quyền được đề cao đã xuất hiện rất sớm. Ngay từ đầu những năm 20 của thế kỷ XX, khi viết “Việt Nam yêu cầu” Người đã chỉ rõ, “Trăm điều phải có thần linh pháp quyền”. Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước pháp quyền gắn liền với thực hiện dân chủ.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, Nhà nước Việt Nam phải là nhà nước dân chủ. Nền dân chủ là nền dân chủ của nhân dân, đề cao vai trò của nhân dân, nhân dân là chủ thể, “mọi quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”. Để bảo vệ quyền dân chủ của nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi chuyên chính là điều kiện để giữ vững quyền dân chủ. Người Việt Nam, dân chủ là cái quý hóa nhất của nhân dân, chuyên chính là cái khóa, cái cửa để đề phòng phá hoại… Thế thì dân chủ cũng cần có chính quyền để giữ gìn dân chủ.
Nhà nước pháp quyền Việt Nam là nhà nước pháp quyền hợp hiến, hợp pháp. Ngày 3/9/1945, trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra hai nhiệm vụ trực tiếp xây dựng nhà nước pháp quyền là tổ chức tổng tuyển cử và xây dựng Hiến pháp để xác lập nền tảng xây dựng nhà nước ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, pháp luật của ta là pháp luật dân chủ, vì nó bảo vệ dân chủ tự do rộng rãi cho nhân dân. Nhà nước vì thế phải thực sự của dân, chăm lo lợi ích cho nhân dân. Người cho rằng, chúng ta có nhà nước có độc lập tự do mà dân cứ đói cứ rét thì cũng chẳng có nghĩa gì.
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là công cụ bảo vệ và phát triển quyền con người. Chủ tịch Hồ Chí Minh coi quyền con người không chỉ là quyền tự do cá nhân, mà còn là quyền bình đẳng giữa những con người, bình đẳng giữa các dân tộc; là độc lập dân tộc và giải phóng con người. Tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa rất phong phú và nhất quán. Đó là những tư tưởng được Đảng ta vận dụng, phát triển xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay, với những đặc trưng cơ bản sau:
- Nhà nước của dân, do dân, vì dân; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.
- Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rõ ràng và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.
- Nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật và bảo đảm Hiến pháp, pháp luật giữ vị trí tối thượng trong quản lý, điều hành các hoạt động thuộc mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
- Nhà nước tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền công dân, nâng cao trách nhiệm pháp lý giữa nhà nước và công dân; thực hành dân chủ đồng thời tăng cường kỷ cương, kỷ luật.
- Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, đồng thời bảo đảm sự giám sát của nhân dân, sự phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức quần chúng nhân dân.
Tiếp tục thực hiện dân chủ và hoàn thiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta có nhiều việc phải làm, trước hết tập trung những vấn đề chính sau:
Một là, nâng cao chất lượng và hiệu quả kiểm tra, giám sát của nhân dân đối với hoạt động của Nhà nước.
Tiếp tục đổi mới và hoàn thiện thể chế, tổ chức và phương thức kiểm tra, giám sát. Kết hợp kiểm tra giám sát của Đảng với kiểm tra giám sát của Nhà nước và giám sát của nhân dân. Phát huy vai trò giám sát của nhân dân, của các cơ quan thông tin đại chúng và của dư luận xã hội.
Tăng cường và nâng cao hiệu quả giám sát tối cao của Quốc hội đối với các hoạt động hành pháp và tư pháp. Cải cách tổ chức và hoạt động thanh tra của Chính phủ, chú trọng các lĩnh vực tổ chức cán bộ, tài chính, ngân sách, lao động, công vụ.
Bảo đảm các quyền khiếu nại, tố cáo của công dân. Xây dựng các quy trình, hướng dẫn để mọi công dân có điều kiện phát hiện, đề xuất, kiến nghị, giúp cho công tác kiểm tra, giám sát có hiệu quả.
Hai là, thực hiện nguyên tắc tập trung, dân chủ trong tổ chức vận hành bộ máy nhà nước.
Để giữ vững quyền lực trong tay nhân dân, các tổ chức và hoạt động của Nhà nước luôn quán triệt nguyên tắc tập trung dân chủ nhằm phát huy đồng bộ và kết hợp chặt chẽ sức mạnh của tập thể và từng cá nhân; sức mạnh của cả nước và từng địa phương, của từng tổ chức và cả hệ thống bộ máy.
Tập trung dân chủ là thống nhất, không đối lập với nhau. Tập trung để phát huy dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong xây dựng, tổ chức, điều hành của Nhà nước. Tập trung để thực hiện và giữ vững quyền lực của nhân dân. Tập trung không phải là giảm quyền lực của nhân dân mà trái lại để thực thi quyền lực của nhân dân; phát huy vai trò của Nhà nước.
Ba là, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động lập pháp, hành pháp, tư pháp.
Đổi mới, kiện toàn tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội, nâng cao chất lượng chính trị và hiệu quả hoạt động của Quốc hội.
Cải cách và kiện toàn bộ máy hành chính nhà nước, xây dựng một nền hành chính dân chủ, từng bước hiện đại, đáp ứng yêu cầu tăng cường quản lý nhà nước. Đổi mới phương thức hoạt động của Chính phủ theo hướng tăng cường quản lý vĩ mô bằng hệ thống pháp luật, chính sách, tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân. Xây dựng bộ máy chính quyền cấp cơ sở xã, phường, thị trấn có đủ năng lực, phẩm chất, đáp ứng yêu cầu công tác.
Bốn là, nâng cao chất lượng toàn diện của đội ngũ cán bộ, công chức.
Cải cách và hoàn thiện chế độ công vụ, quy chế cán bộ, công chức, viên chức, coi trọng cả năng lực và tinh thần phục vụ nhân dân. Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý về đường lối, chính sách, về kiến thức và kỹ năng quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, quản lý xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Sắp xếp lại đội ngũ cán bộ, công chức theo đúng chức danh, tiêu chuẩn, thực hiện tinh giản biên chế. Quy định rõ chế độ, trách nhiệm của tập thể, cá nhân, người đứng đầu, cán bộ chủ chốt trong phạm vi công việc cụ thể.
Năm là, khắc phục bệnh quan liêu, đổi mới cơ chế hoạt động của Nhà nước nhằm thực hiện dân chủ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
Quan liêu đồng nghĩa với chủ nghĩa địa vị, chủ nghĩa cá nhân, xa rời thực tế, chủ quan, biến mục đích của Nhà nước thành mục đích của cá nhân. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng quan liêu cùng với tham ô, lãng phí là thứ “giặc nội xâm”. Nơi nào bệnh quan liêu càng nặng thì nơi ấy càng nhiều lãng phí, tham ô. Bệnh quan liêu tiếp tay cho người yếu kém, kẻ xấu đục khoét ngân khố, tài sản quốc gia. Quan liêu đi liền với mệnh lệnh, cửa quyền, coi thường dân, làm khó cho mọi người.
Sáu là, đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí làm trong sạch bộ máy nhà nước.
Bản chất của tham nhũng, lãng phí là những hành vi của những người có chức, có quyền lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vụ lợi cá nhân. Nguyên nhân sâu xa của tham nhũng là sự suy thoái đạo đức, lối sống của cán bộ, công chức; sự sơ hở, yếu kém trong quản lý; sự mất dân chủ, thiếu công khai minh bạch trong các hoạt động của đời sống xã hội; sự chuyên quyền độc đoán quan liêu của người quản lý.
Tham nhũng hiện nay ở nước ta đang là nguy cơ lớn, làm ảnh hưởng đến sự trong sạch của bộ máy nhà nước, làm giảm hiệu lực và năng lực quản lý của Nhà nước. Vì vậy, chỉ có ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng mới thực sự xây dựng và hoàn thiện được nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa vững mạnh của dân, do dân, vì dân, thực hiện dân chủ với nhân dân.
Bảy là, tiếp tục hoàn thiện hình thức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp của nhân dân.
Thực hiện phương châm: dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra chủ yếu thông qua hai hình thức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp. Dân chủ đại diện cho đến nay vẫn được coi là phương thức thực hiện dân chủ có những ưu điểm cơ bản, thể hiện tính hợp lý, khả năng thực thi, bảo đảm được sự sáng suốt trong quyết định những vấn đề quan trọng của xã hội. Dân chủ trực tiếp nhằm phát huy quyền làm chủ cụ thể thiết thực, trực tiếp của người dân. Điều đó lại tùy thuộc vào nhận thức, trình độ, năng lực, điều kiện của mọi người. Đồng thời, Nhà nước có cơ chế phù hợp để người dân thực hiện quyền làm chủ trực tiếp của mình.
Những vấn đề nêu trên có thể chưa đầy đủ, chỉ là những điểm cơ bản nhằm phát huy quyền làm chủ, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân. Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước luôn soi sáng cho chúng ta nguyên tắc rất cơ bản về mối quan hệ biện chứng giữa thực hiện dân chủ với xây dựng nhà nước thực sự là của dân, bao nhiêu quyền lực là ở nơi dân./.










TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VIỆT NAM
 PGS, TS, Nguyễn Hữu Khiển
Phó Giám đốc Học viện Hành chính thuộc Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
Đường lối của Đảng và Nhà nước ta trong xây dựng Nhà nước dân chủ nhân dân sau khi giành thắng lợi trong cuộc Cách Mạng tháng Tám lịch sử có một số điểm mang tính định hướng quan trọng: Có sự dẫn dắt về nhận thức, trực tiếp chỉ đạo và sự kiên trì cho mục đích, mục tiêu của Chủ Tịch Hồ Chí Minh về một Nhà nước Việt Nam dân chủ bình đẳng và pháp quyền. Có sự lãnh đạo tài tình của Đảng và Hồ Chủ Tịch, sự điều hành, tổ chức thực hiện sáng tạo và hiệu quả của Nhà nước và sự đồng tâm hiệp lực to lớn của toàn dân tộc. Sau đây xin được trình bày một số nhận thức liên quan đến tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước Việt Nam trở thành Nhà nước của dân do dân và vì dân; một Nhà nước dân chủ pháp quyền. Tư tưởng Hồ Chí Minh về cơ sở của một nhà nước pháp quyền Việt Nam là: Xã hội Việt Nam phải được tổ chức và quản lý bằng Hiến pháp và luật do nhân dân Việt Nam trực tiếp xây dựng.
Pháp quyền trong một thể chế không chỉ dừng lại ở việc nhà nước đó có luật hay không mà là có pháp luật bắt nguồn từ một đạo luật cao nhất, ''luật gốc'' là hiến pháp. Lịch sử đã chứng minh rằng, không phải cứ có nhà nước, có pháp luật là có nhà nước pháp quyền. Phải chăng như các nhà nước cổ đại, phong kiến đã được coi là những nhà nước pháp quyền, bởi họ cũng có luật, thậm chí nhiều đạo luật còn rất văn minh nữa? Chưa thể gọi các chế độ đó là có pháp quyền là vì ở đó pháp luật không phải được hình thành từ ý chí của đa số nhân dân mà chỉ là ý chí cá nhân của các nhà chuyên chế. Đối lập với nền chuyên chế, lịch sử đã định ra cho nền dân chủ phải có hệ thống pháp luật xuất phát từ luật cơ bản, luật gốc là hiến pháp do nhân dân xây dựng nên.
Có phải ở Việt Nam ta, người hiểu về nền dân chủ nhất, hiểu bản chất của các định chế trong một bản hiến pháp, của một nền pháp chế là Chủ tịch Hồ Chí Minh? Theo tôi đúng là như thế bởi vì:
- Hồ Chủ Tịch chủ động đi tìm thực chất dân chủ, cái mà người Pháp tuyên truyền ở nước ta như thế nào, và Người đã nhìn thấy nhiều điều, trong đó có quan hệ hữu cơ giữa chế độ dân chủ và nền pháp chế bắt đầu bằng một bản hiến pháp.
- Chỉ có sự thông minh đặc biệt, thiên phú (kết hợp với lòng yêu nước) Hồ Chí Minh mới có thể thực hiện một cuộc xuất dương để có các cuộc hành trình, tìm tòi sách vở tài liệu, trực tiếp gặp gỡ giao tiếp xã hội, viết những bài báo bằng tiếng nước ngoài liên quan đến dân chủ và pháp quyền. Những nền dân chủ với hai ngôn ngữ phổ biến nhất là tiếng Pháp và tiếng Anh người đều thành thạo cả, đã cho phép những gì người nhận thức được để cống hiến cho dân tộc là từ thực tiễn, từ ''bản gốc'' của những nền văn minh pháp lý liên quan đến dân chủ.
-Từ thực tiễn của nước Pháp, nước Mỹ, nước Anh, Người đã nhận thức rằng nhà nước dân chủ thì phải có hiến pháp do đa số đân chúng của nước đó xây dựng nên, không cần phải nhờ, phải ''mua'' của ai cả. (Người Pháp không thể khai hoá cho nhân dân Việt Nam bằng hiến pháp và chế độ pháp lý của họ được).
Điều đó giải thích vì sao ngay sau khi giành được chính quyền, cùng với việc lo cho dân khỏi đói (cho trước mắt), khỏi dốt (cho tương lai), Hồ Chủ Tịch đã lập tức chỉ đạo sao cho nước ta phải có ngay bản hiến pháp để mở đường pháp lý cho dân chủ. Theo Hồ Chủ Tịch không có bản hiến pháp do dân phúc quyết thì dân ta chưa thể có cái bảo đảm cho tự do dân chủ được.
Điều đó còn cho phép chúng ta suy nghĩ: nhận thức về pháp quyền ở Hồ Chủ Tịch đã đạt tới bản chất nhất của khái niệm đó. Trong bài diễn ca ''Việt Nam yêu cầu ca'' của mình, Hồ Chủ Tịch nói 8 điều cốt yếu, trong đó có điều bảy nói về pháp quyền, dân chủ. Người viết ''Bảy xin hiến pháp ban hành; trăm điều phải có thần linh pháp quyền'' là: Hiến pháp phải có ngay ở nước ta càng sớm càng tốt (hiến pháp của ta, do dân ta soạn thảo và phúc quyết; mọi quan hệ trong xã hội đều phải dựa trên một nền tảng pháp lý công bằng dân chủ để xem xét thì mới tốt được!
Trong nhà nước pháp quyền, người dân có vị trí đặc biệt.
-Vị trí người chủ của chế độ:
Đánh đuổi đế quốc để xoá bỏ pháp luật hà khắc của nó; đánh đổ địa chủ để đoạn tuyệt với trật tự phong kiến với một nền pháp lý đè nén, nô dịch người lao động. Cần phải tổ chức một nhà nước dân chủ bảo đảm cho người dân quyền làm chủ và làm chủ thực sự. (mọi chế độ dân chủ đều coi dân làm chủ; nhưng chỉ có dân chủ xã hội chủ nghĩa người dân mới là chủ thực sự).
Vì vậy để có hiến pháp thực sự là của dân, Người kêu gọi Chính phủ lâm thời sớm tổ chức tổng tuyển cử tự do bình đẳng; ở đó người dân sẽ cầm lá phiếu tự quyết định sự lựa chọn bộ máy quản lý và phục vụ xã hội. Hồ Chủ Tịch đã bác bỏ tư tưởng bảo hộ (mà những kẻ xâm lược thường rêu rao) bằng việc dẫn những lời bất hủ của chính các nhà dân chủ Pháp và Mỹ trong bản tuyên ngôn (do Người trực tiếp soạn thảo) rằng: tạo hoá sinh ra cho mọi người đều có quyền bình đẳng, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc. Theo tôi đây là sự kết hợp tài tình giữa văn hoá và chính trong nhận thức Hồ Chí Minh.
Muốn có tự do bình đẳng thật sự cho nhân dân, phải có bộ máy nhà nước do nhân dân lựa chọn, phải có Hiến pháp do nhân dân phúc quyết (bằng trực tiếp hoặc thông qua chế độ đại diện). Tự do chính trị mở đường cho tự do kinh tế là như vậy.
-Vị trí của người chủ của nhân dân được chế độ bảo vệ
Khi nói hoặc viết liên quan tới công việc của cán bộ Đảng và nhà nước, Người nhiều lần nhắc nhở: cán bộ là công bộc (là người tận tuỵ phục vụ nhân dân). Bản chất của chế độ dân chủ phải là như vậy, vì nguồn gốc của quyền lực hay chức vụ của một cán bộ, công chức nhà nước trong nền dân chủ là do nhân dân lựa chọn. Đây là khía cạnh quan trọng trong tư tưởng về nhà nước pháp quyền mà Hồ Chủ Tịch đã đặt nền móng, đồng thờì cũng chính là nguyên lý có tác dụng như sự “đối chứng” trong đời thường. Qua đó, xem ai là người đã làm đúng bổn phận và ai đã vi phạm nguyên lý này. Từ vị trí người chủ của nhân dân trong chính trị, bổn phận của nhà nước là tìm cách (chủ trương chính sách, pháp luật) cho nhân dân được ngày càng hạnh phúc no ấm và có trí tuệ trong đời sống thực tiễn…
- Nhân dân có vị trí của người giám sát hoạt động của Nhà nước
Hồ Chủ Tịch đã giải thích những vấn đề tưởng như đơn giản trong nhận thức nhưng lại xuất phát từ bản chất của chế độ. Người nói: dân chủ có nghĩa là dân làm chủ (không phải cán bộ như người chủ nhân dân là đầy tớ!). Quyền giám sát của người dân là hệ qủa tất yếu của chế độ dân chủ . Nó xuất phát từ chỗ: một là chế độ dân chủ đặt người dân ở địa vị người chủ và nhà nước là người phục vụ; hai là sự phục vụ của nhà nước thông qua những con người cụ thể. Họ có thể làm tốt, chưa tốt hoặc rất không tốt. Mỗi giai đoạn của cách mạng có những tác nhân, áp lực khác nhau tác động tới hoạt động của các cơ quan công quyền, các quan chức và công chức nhà nước. Đằng sau quyền giám sát của người dân là sự tuyên dương những người tận tụy, có tài và đức, phê bình người có sai sót và thay thế những người yếu kém về năng lực và phẩm chất…

Trong nhà nước pháp quyền, nhà nước (công chức, cơ quan nhà nước) chỉ được làm những gì pháp luật cho phép.
Đây không phải chỉ là vấn đề của đạo đức mà của nguyên tắc chính trị trong chế độ dân chủ, của khoa học chính trị vật dụng trong khoa học quản lý xã hội. Trong khoa học chính trị, làm đúng quyền hạn, trách nhiệm là chống sự lạm quyền (giữa cơ quan này với cơ quan khác), chống sự lộng quyền ở một cá nhân, một chức vụ. Tâm lý chính trị cho thấy người có quyền dễ có xu hướng lạm quyền, làm cho quyền hạn của mình ngày càng to ra. Khi Hồ Chủ Tịch nói cán bộ là công bộc, cũng có ý nhắc nhở nguy cơ đó.
Trong khoa học quản lý, bộ máy bao giờ cũng được phân công chức năng. Mỗi người làm một việc sẽ không chồng chéo, sẽ ngày càng thành thạo. Mỗi người làm một khâu, một việc sẽ “khép kín” toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước.
Đạo đức công vụ có vị trí quan trọng trong Nhà nước pháp quyền Việt Nam .Có thể nói trong tổ chức và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Hồ Chủ Tịch không tuyệt đối vai trò pháp trị; cũng không thần thánh hoá đức trị. Người đã tuỳ thời, tuỳ lúc mà chỉnh trang pháp chế hay uốn nắn đạo đức trong công vụ cho cán bộ nhà nước.
Nhưng khi xét người cán bộ ở vị trí công bộc, Người lấy hai phẩm chất cơ bản là “hồng” và “chuyên” trong giáo huấn ứng xử. Người coi cán bộ tốt là rất cần nhưng thiếu chuyên môn thì làm việc gì cũng khó; cán bộ nếu có tài mà thiếu đức thì vô dụng. Thật vô cùng giá trị trong giáo huấn của Người về cái đức là gốc, nếu chúng ta nhìn nhận những trường hợp tha hoá của một số người được Đảng, Nhà nước giáo dục, nhân dân bỏ tiền ra nuôi dưỡng, ăn học; nhưng do hạ thấp cái đức nên đã trở thành người xấu, có hại cho sự nghiệp của Cách mạng.



TƯ TƯỞNG QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC THUỘC VỀ NHÂN DÂN CỦA HỒ CHÍ MINH
Trần Ngọc Liêu

Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước là một tài sản quý giá trong di sản cách mạng của Người. Nó chứa đựng những giá trị to lớn cả về phương diện lý luận và thực tiễn đối với cách mạng Việt Nam nói chung, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta nói riêng.
Hồ Chí Minh là người cộng sản Việt Nam đầu tiên đã lĩnh hội những nội dung cốt lõi trong học thuyết cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, trong đó, có vấn đề nhà nước và quyền lực nhà nước; mặt khác, là người am hiểu sâu sắc văn hóa chính trị phương Đông và Việt Nam, với một trí tuệ phi thường, Hồ Chí Minh đã kế thừa, vận dụng và phát triển sáng tạo những tinh hoa tư tưởng của nhân loại trên cơ sở những yêu cầu của thực tiễn cách mạng Việt Nam và từ đó xây dựng nên những tư tưởng của riêng mình với những nét độc đáo hiếm thấy.
Tìm hiểu tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nhà nước cần xuất phát từ hạt nhân tư tưởng về quyền lực và chủ thể quyền lực nhà nước, từ đó triển khai thành các tư tưởng về cơ chế tổ chức và vận hành quyền lực nhà nước.
Ngay từ những năm 20 (thế kỷ XX), Hồ Chí Minh đã phê phán một cách quyết liệt bản chất của bộ máy nhà nước thực dân. Người vạch trần bản chất xấu xa của chế độ thực dân đế quốc bên trong cái vỏ hào nhoáng khai hóa văn minh trước công luận; và qua đó, Người chuẩn bị cho mình những cơ sở lý luận và thực tiễn để hình thành nên tư tưởng về một nhà nước kiểu mới, thật sự dân chủ. Điều này thể hiện rõ trong tác phẩm Đường Kách mệnh - giáo khoa thư chính trị đầu tiên của cách mạng Việt Nam. Người viết: "Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh, thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới hạnh phúc"(1). Quan điểm quyền lực chính trị thuộc về nhân dân và phục vụ cho lợi ích của nhân dân là cốt lõi và xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước. Tất cả những nhận thức đó tiếp tục được phát triển không ngừng trong tư tưởng của Người gắn liền với những chặng đường tiếp theo của cách mạng Việt Nam.
Người thường dùng khái niệm "ủy thác" để nói đến việc nhân dân trao một phần quyền lực của mình cho nhà nước. Quyền lực của nhà nước từ Trung ương đến địa phương, từ Chủ tịch nước đến cán bộ xã đều do nhân dân "ủy thác" cho. Khi hết một nhiệm kỳ, Chính phủ sẽ phải trao lại quyền cho nhân dân và nhân dân sẽ trao quyền ấy cho một Chính phủ ở nhiệm kỳ mới do dân "tuyển cử". Các khái niệm "ủy thác", "giao quyền" là những khái niệm chính trị học và ở Hồ Chí Minh, các khái niệm ấy gắn chặt với nhân dân, là sự khẳng định quyền lực thuộc về nhân dân.
Người còn thường xuyên gắn cụm từ nhân dân với các khái niệm Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội, v.v.. Ví dụ, trong giai đoạn 1945 - 1946, các cụm từ "Nhà nước nhân dân", "Chính phủ nhân dân" có tần số xuất hiện rất cao trong các bài viết, bài nói của Người. Những cụm từ này được Người sử dụng với đối tượng là các cán bộ nhà nước các cấp và đặc biệt là với nhân dân. Sự khẳng định đó nhắc nhở các cán bộ nhà nước phải luôn ghi nhớ quyền hạn và trách nhiệm của mình cũng như giáo dục cho nhân dân về một địa vị hoàn toàn mới của họ.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước, tư tưởng về dân chủ - với ý nghĩa là bản chất của quyền lực nhà nước và phương thức tổ chức, triển khai quyền lực nhà nước là một nét đặc sắc. Theo Người, dân chủ hiểu một cách chung nhất là quyền lực chính trị thuộc về nhân dân. Ở nước ta, chính quyền là của nhân dân, do nhân dân làm chủ; và, "Nhân dân là ông chủ nắm chính quyền. Nhân dân bầu ra đại biểu thay mặt mình thi hành chính quyền ấy. Thế là dân chủ".
Địa vị làm chủ của người dân, tức là quan hệ của người dân với quyền lực nhà nước, được Hồ Chí Minh làm rõ trong quan hệ với đội ngũ cán bộ nhà nước - những người trực tiếp thi hành quyền lực nhà nước. Người viết: Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ. Trong bộ máy cách mạng, từ người quét nhà, nấu ăn cho đến Chủ tịch nước đều là phân công làm đày tớ cho dân. Người căn dặn cán bộ nhà nước: Phải nhớ rằng dân là chủ. Dân như nước, mình như cá. Lực lượng bao nhiêu là nhờ ở dân hết. Khi nói tới tư cách công bộc của cán bộ nhà nước đối với nhân dân, Hồ Chí Minh khẳng định, mục đích hoạt động của họ là vì lợi ích chung. Người nói: Những người trúng cử (vào bộ máy nhà nước), sẽ phải ra sức giữ vững nền độc lập của Tổ quốc, ra sức mưu sự hạnh phúc cho đồng bào. Phải luôn luôn nhớ và thực hành câu: Vì lợi nước, quên lợi nhà; vì lợi chung, quên lợi riêng. Người khẳng định: Làm việc nước bây giờ là hy sinh, là phấn đấu, quên lợi riêng mà nghĩ lợi chung. Những ai muốn làm quan cách mạng thì nhất định không nên bầu. Nếu dân là chủ thì nhà nước, cán bộ nhà nước là công bộc của dân. Đây là một sáng tạo độc đáo của Hồ Chí Minh. Chính tư tưởng này đã chỉ rõ sự đối lập về chất của Nhà nước nhân dân với nhà nước phong kiến, nhà nước thực dân. Người căn dặn các cán bộ nhà nước phải luôn ghi nhớ rằng các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc đến các làng đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh vác việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của thực dân Pháp, phát xít Nhật. Ở đây, ta thấy Hồ Chí Minh đã chỉ ra nội hàm của khái niệm "công bộc của dân", và có thể hiểu đây là một định nghĩa của Hồ Chí Minh về chức năng của Nhà nước mà ý nghĩa sâu sắc của nó vẫn còn giữ nguyên tính thời sự và cần được quán triệt trong công cuộc xây dựng Nhà nước ta hiện nay.
Hồ Chí Minh đòi hỏi rất cao đối với cán bộ nhà nước. Họ cần phải có rất nhiều phẩm chất, song tựu trung họ phải thực sự vì dân mà làm việc. Người nêu rõ bốn đức tính là: cần, kiệm, liêm, chính; phải ghi sâu những chữ công bình chính trực vào lòng; phải có một tinh thần chí công vô tư; nếu muốn danh, lợi thì danh làm sao cho dân tộc mình có danh với thế giới, và lợi làm thế nào cho tranh được lợi với thế giới - đó là danh chínhlợi chính...
Cán bộ nhà nước phải làm sao để nhân dân yêu quý, khi sắp tới dân mong, khi đi dân nhớ. Muốn thế trước hết cán bộ phải yêu quý nhân dân, phải đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết, phải kính trọng nhân dân, tôn trọng nhân cách của họ. Người chỉ rõ: Muốn được dân yêu, muốn được lòng dân, việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh. Phải chú ý giải quyết các vấn đề, đặc biệt là những vấn đề quan hệ đến đời sống nhân dân, dầu khó khăn đến đâu cũng mặc lòng. Nói tóm lại, hết thảy những việc có thể nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của dân phải được đặc biệt chú ý.
Khái niệm dân chủ còn được Hồ Chí Minh làm rõ trong quan hệ của nó với khái niệm chuyên chính. Người viết: "Dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân, chuyên chính là cái khóa, cái cửa để đề phòng kẻ phá hoại, nếu hòm không có khóa, nhà không có cửa thì sẽ mất cắp hết. Cho nên có cửa phải có khóa, có nhà phải có cửa. Thế thì dân chủ cũng cần phải có chuyên chính để giữ gìn lấy dân chủ"(3); và, "Nhà nước ta cũng là nhà nước của đại đa số nhân dân, để thống trị thiểu số phản động, để giữ gìn lợi ích của nhân dân, bằng cách dân chủ chuyên chính của nhân dân".
Tư tưởng về dân chủ của Hồ Chí Minh được xây dựng trên cơ sở nhận thức về sức mạnh vô địch của nhân dân. Người viết: Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân. Và, Người đã đưa ra một quan điểm toàn diện về dân chủ: NƯỚC TA LÀ NƯỚC DÂN CHỦ: Bao nhiêu lợi ích đều dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nhân dân với tư cách là chủ thể quyền lực nhà nước được hiểu là toàn thể nhân dân chỉ trừ bọn phản quốc hại dân. Người viết: Chính phủ này là Chính phủ toàn quốc, có đủ nhân tài Trung, Nam, Bắc tham gia. Xuất phát từ yêu thương quý trọng nhân dân, Người thấy rõ nguồn sức mạnh vô tận của khối đại đoàn kết dân tộc, mọi mưu đồ đề cao lợi ích vị kỷ của một bộ phận người đi ra ngoài con đường của cả dân tộc hoặc sẽ bị đào thải, hoặc sẽ làm tổn hại đến khối đại đoàn kết mà kết quả đều làm cho đất nước lâm nguy. Người chỉ rõ, phải thực hiện cho được khối đại đoàn kết dân tộc. Chỉ có thế, nhân dân mới có đủ sức mạnh để giành, giữ và thực thi quyền lực của mình, trong đó có quyền lực nhà nước.
Hồ Chí Minh cho rằng, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân gắn liền với việc nhà nước phải làm tất cả để đem lại một cuộc sống hạnh phúc cho nhân dân.
Xuất phát từ tư tưởng nhân dân là chủ thể của quyền lực chính trị, tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh được phát triển thành nhân dân là chủ thể của nhà nước. Vì thế, việc nhận thức tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước phải được đặt trên cơ sở coi vấn đề nhà nước là một khía cạnh trong tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ. Nhà nước, theo Người, là của nhân dân "Nhà nước ta phát huy dân chủ đến cao độ, đó là do tính chất Nhà nước ta là Nhà nước của nhân dân. Có phát huy dân chủ đến cao độ thì mới động viên được tất cả lực lượng của nhân dân đưa cách mạng tiến lên. Đồng thời phải tập trung đến cao độ để thống nhất lãnh đạo nhân dân xây dựng chủ nghĩa xã hội". Nhân dân sử dụng Nhà nước như một công cụ để thực hiện lợi ích của mình: đối với nhân dân, thì công cụ của nhà nước dân chủ mới (Chính phủ, pháp luật, công an, quân đội, v.v..) là để giữ gìn quyền lợi của nhân dân.
Khi bàn về vai trò của Nhà nước, Hồ Chí Minh đã đưa ra quan điểm về nhân dân quản lý nhà nước. Điều đáng lưu ý là, việc nhà nước tiến hành các hoạt động nhằm mục đích phục vụ lợi ích của nhân dân, thì đồng thời, đó cũng chính là nhằm tạo điều kiện để nhân dân có thể tham gia quản lý nhà nước. Người viết: "... chỉ có chế độ của chúng ta mới thật sự phục vụ lợi ích của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động, bảo đảm mọi quyền lợi của nhân dân, mở rộng dân chủ để nhân dân thật sự tham gia quản lý Nhà nước. Vì vậy cho nên nhân dân ta đưa hết khả năng làm tròn nhiệm vụ người chủ nước nhà để xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm cho nước ta mạnh, dân ta giàu".
Tư tưởng quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân của Hồ Chí Minh còn thể hiện trên mấy phương diện sau:
Thứ nhất, về pháp luật, Người viết: Pháp luật của chúng ta hiện nay bảo vệ quyền lợi cho hàng triệu người lao động. Pháp luật của ta lúc này, chưa tước bỏ quyền tư hữu, nhưng không ai được lợi dụng quyền tư hữu để bóc lột thậm tệ nhân dân lao động. Pháp luật của ta là pháp luật thật sự dân chủ, vì nó bảo vệ quyền tự do, dân chủ rộng rãi cho nhân dân lao động. Người khẳng định, "Phép luật là phép luật của nhân dân, dùng để ngăn cản những hành động có hại cho nhân dân, để bảo vệ lợi ích chung của đại đa số nhân dân". Vì vậy, để có một "chính quyền trong sạch", phải kiên quyết trừng trị những kẻ lợi dụng việc được nhân dân giao quyền, rồi cậy quyền cậy thế đi ngược lại lợi ích của nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cương quyết xử lý một số cán bộ cao cấp của Nhà nước vi phạm pháp luật và Người luôn nhắc nhở: Chúng ta không sợ sai lầm, nhưng đã nhận biết sai lầm thì phải ra sức sửa chữa. Vậy nên, ai không phạm những lầm lỗi trên này, thì nên chú ý tránh đi, và gắng sức cho thêm tiến bộ. Ai đã phạm những lỗi lầm trên này, thì phải hết sức sửa chữa; nếu không tự sửa chữa thì Chính phủ sẽ không khoan dung.
Thứ hai, về tổ chức bộ máy nhà nước, Hồ Chí Minh nhiều lần nêu ra quan điểm về ba bộ phận cấu thành quan trọng của Nhà nước, đó là cơ quan lập pháp - Quốc hội; cơ quan hành pháp - Chính phủ và cơ quan tư pháp - Tòa án. Trong đó, Người nói đến Chính phủ nhiều nhất và cũng chính ở đây chứa đựng nhiều quan điểm có ý nghĩa to lớn về mặt lý luận và thực tiễn. Người viết: "Chính phủ ta là chính phủ của nhân dân, chỉ có một mục đích là ra sức phụng sự lợi ích của nhân dân. Chính phủ rất mong đồng bào giúp đỡ, đôn đốc, kiểm soát và phê bình để làm trọn nhiệm vụ của mình là người đày tớ trung thành tận tụy của nhân dân". Người khẳng định: "Chế độ của ta là chế độ dân chủ. Nhân dân là chủ. Chính phủ là đày tớ của nhân dân. Nhân dân có quyền đôn đốc và phê bình Chính phủ. Chính phủ thì việc to việc nhỏ đều nhằm mục đích phục vụ lợi ích của nhân dân. Vì vậy, nhân dân lại có nhiệm vụ giúp đỡ Chính phủ, theo đúng kỷ luật của Chính phủ và làm đúng chính sách của Chính phủ, để Chính phủ làm tròn phận sự mà nhân dân đã giao phó cho"(9).
Kế thừa những giá trị trong tư tưởng chính trị truyền thống của dân tộc, lại được soi sáng bởi quan điểm duy của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, Hồ Chí Minh thấy ở nhân dân một lực lượng vô tận. Trong tư tưởng về nhà nước, nhân dân chiếm một vị trí cực kỳ quan trọng. Hồ Chí Minh tin tưởng vào sức mạnh to lớn của nhân dân, sức mạnh ấy một khi được tập hợp, tổ chức, định hướng sẽ tạo nên những kỳ tích to lớn, có thể làm thay đổi hoàn toàn bộ mặt lịch sử. Lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng minh niềm tin ấy của Hồ Chí Minh là hoàn toàn đúng đắn.
Cái quan trọng nhất trong chính trị là vấn đề thiết chế chính quyền nhà nước. Quyền lực chính trị là vấn đề trung tâm của mọi cuộc cách mạng xã hội. Ở Hồ Chí Minh, nhà nước là nhà nước của dân, do dân và vì dân; quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Như thế, với Hồ Chí Minh, Nhà nước không bao giờ đứng ngoài và đứng trên nhân dân.
Gắn chính trị với lòng dân cũng có nghĩa là Hồ Chí Minh đã gắn chính trị với cơ sở xã hội sâu xa và bền vững của nó. Một quan niệm "đem chính trị vào giữa dân gian" như tư tưởng của Người là một quan niệm chính trị dân chủ về bản chất. Đã quan niệm chính trị như thế thì nhà chính trị nói riêng, nhà nước nói chung trở nên đầy sức mạnh bởi họ đang suy nghĩ bằng suy nghĩ của nhân dân, làm bằng phương thức nhân dân và nói tiếng nói của nhân dân. Họ sẽ có đủ bản lĩnh đương đầu với mọi khó khăn mà luôn chắc chắn một niềm tin vào chiến thắng.
Quan điểm chính trị nhân dân ở Hồ Chí Minh gắn liền với việc làm cho người dân có đủ khả năng đảm nhận vai trò làm chủ của mình. Người đặc biệt coi trọng việc giáo dục nhân dân. Ngay khi Nhà nước ta mới ra đời, Người khẳng định: Chúng ta có nhiệm vụ cấp bách là phải giáo dục lại nhân dân chúng ta. Chúng ta phải làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập. Người đề nghị mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện: Cần, Kiệm, Liêm, Chính. Người cũng yêu cầu nhân dân: Mọi người Việt Nam phải biết quyền lợi của mình, phải có kiến thức để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà. Hồ Chí Minh yêu cầu người dân trước hết phải biết đọc, biết viết để có thể tham gia vào công việc nhà nước. Điều này có nghĩa là, người dân muốn thực hiện vai trò làm chủ của mình, muốn thực hiện quyền lực cao quý của mình cần phải có những năng lực nhất định và Nhà nước phải làm sao để nhân dân có được những năng lực ấy.
Như vậy, trên cơ sở vận dụng học thuyết Mác - Lê-nin về nhà nước vào điều kiện cụ thể của cách mạng và xã hội Việt Nam, đặc biệt là, trên cơ sở nghiên cứu và tổng kết thực tiễn xây dựng chính quyền nhân dân, xây dựng chế độ xã hội mới, Hồ Chí Minh đã nêu ra một hệ thống các quan điểm về nhà nước kiểu mới ở Việt Nam. Đây thực sự là những chỉ dẫn quý báu cả về lý luận và thực tiễn đối với công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.












TƯ TƯỞNG VÌ DÂN CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH QUA LỜI CĂN DẶN MIỄN THUẾ NÔNG NGHIỆP TRONG DI CHÚC
Nguyễn Vǎn Hồng
Trước lúc đi xa Bác Hồ đã để lại cho nhân dân ta một bản Di chúc bất hủ. Bản Di chúc Bác viết ngắn gọn, dung dị, nhưng súc tích, chứa đựng tình cảm bao la như trời biển, bao hàm nội dung tư tưởng về mọi lĩnh vực trong đời sống kinh tế-xã hội của hiện tại và tương lai.
Trong bản Di chúc Bác viết tháng 5- 1968, Người dành một đoạn nói về giai cấp nông dân Việt Nam. Sau khi tuyên dương công lao to lớn và lòng trung thành vô hạn của nhân dân nói chung, "đồng bào nông dân" đối với Đảng và Chính phủ trong kháng chiến chống Pháp và đế quốc Mỹ nói riêng, Người cǎn dặn miễn thuế nông nghiệp cho nông dân: "Trong bao nǎm kháng chiến chống thực dân Pháp, tiếp đến chống đế quốc Mỹ, đồng bào ta, nhất là đồng bào nông dân đã luôn luôn hết sức trung thành với Đảng và Chính phủ ta, ra sức góp của góp người, vui lòng chịu đựng mọi khó khǎn gian khổ. Nay ta đã hoàn toàn thắng lợi, tôi có ý đề nghị miễn thuế nông nghiệp nǎm cho các hợp tác xã nông nghiệp để cho đồng bào hỉ hả, mát dạ, mát lòng, thêm niềm phấn khởi đẩy mạnh sản xuất".
Trong bài viết này, chúng tôi chỉ đề cập đến tư tưởng, tình cảm của Bác đối với nông dân qua lời cǎn dặn miễn thuế nông nghiệp cho nông dân khi đất nước hoàn toàn giải phóng.
Từ khi ra đi tìm đường cứu nước đến những ngày tháng cuối của cuộc đời, mọi hoạt động cách mạng của Người đều nhằm mục đích cuối cùng vì lợi ích của dân tộc, tất cả vì con người. Tư tưởng, tình cảm của Bác đối với giai cấp nông dân, đối với nền nông nghiệp nước nhà là một phần trong tư tưởng lớn, vĩ đại nhất của Bác: Vì con người.
Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nhà nho nghèo, Nguyễn Sinh Cung được hưởng nền giáo dục gia đình "yêu nước, thương nòi" cùng với truyền thống đấu tranh bất khuất của nhân dân, của nhiều bậc sĩ phu yêu nước nổi danh. Ngay từ khi còn nhỏ, Anh tận mắt chứng kiến đời sống khổ cực của những người nông dân vùng quê nắng mưa khắc nghiệt, công việc đồng áng lam lũ quanh nǎm mà vẫn đói rét. Thêm vào đó là chế độ sưu thuế nặng nề, phu phen tạp dịch của đế quốc thực dân, phong kiến đè nặng lên người nông dân, đẩy họ đến tột cùng khổ cực. Anh xót xa trước cảnh người nông phu phải đi mở đường từ Diễn Châu (Nghệ An) sang Lào để phục vụ kế hoạch khai thác thuộc địa của thực dân Pháp. Những người nông phu "sống chui rúc trong những túp lều tranh thảm hại" nơi "ma thiêng nước độc", ốm đau không thuốc men, không tổ chức y tế. Họ ra đi làm phu không có ngày trở về với quê hương, gia đình.
Chịu ảnh hưởng của truyền thống quê hương, gia đình và chứng kiến đời sống cùng cực của người dân mất nước, Nguyễn Tất Thành sớm có lòng yêu nước, đứng hẳn về trận tuyến của người nông dân. Ngay từ khi học ở trường Quốc học Huế, Nguyễn Tất Thành đã tham gia vào cuộc nổi dậy chống thuế của nông dân 6 huyện tỉnhThừa Thiên Huế nǎm 1908. Phong trào tuy bị thất bại, song người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành có được một bài học đấu tranh đầu tiên vô cùng quý báu. Nǎm 1924, khi đang ở Matxcơva, trong "Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ", Nguyễn ái Quốc đã viết: "Chủ nghĩa dân tộc là động lực của đất nước, chính nó đã gây ra cuộc chống thuế nǎm 1908, nó dạy cho người cu ly biết phản đối, nó làm cho "người nhà quê" phản đối ngầm trước thuế tạp dịch và thuế muối".
Mang theo tấm lòng yêu nước, thương nòi, truyền thống đấu tranh bất khuất của dân tộc, của quê hương, nỗi khổ đau của người dân mất nước, Nguyễn Tất Thành xuống tàu, bôn ba khắp nǎm châu tìm đường cứu nước. Sau gần 10 nǎm, Nguyễn Tất Thành- Nguyễn ái Quốc đã đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, tìm thấy con đường cứu nước. Khi được đọc luận cương của V.I. Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, ngồi trong phòng một mình mà Anh nói to lên như đứng trước đồng bào mình: "Hỡi đồng bào bị đọa đầy đau khổ. Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta". Quá trình hòa mình trong phong trào đấu tranh cách mạng của công nhân thế giới cộng với tư chất thông minh, nhanh nhạy, Nguyễn ái Quốc đã tích lũy cho mình vốn tri thức cách mạng cả về lý luận lẫn thực tìễn.
Được chủ nghĩa Mác-Lênin soi sáng, trong Nguyễn ái Quốc đã hình thành quan điểm về cách mạng giải phóng dân tộc: Giải phóng dân tộc phải gắn liền với giải phóng giai cấp vô sản và các dân tộc thuộc địa, giải phóng nhân loại.
Nǎm 1930, Nguyễn ái Quốc đã sáng lập ra Đảng cộng sản Việt Nam. Cương lĩnh của Đảng đã vạch rõ con đường của cách mạng Việt Nam: "Chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản". Ngay từ đầu Cương lĩnh của Đảng đã giương cao hai ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đó là điểm sáng tạo, phát triển nguyên lý chủ nghĩa Mác-Lênin về cách mạng vô sản. Nguyễn ái Quốc cho rằng cách mạng vô sản có thể nổ ra và thắng lợi ở một nước thuộc địa, nửa phong kiến với 90% dân số là nông dân, có nền kinh tế lạc hậu như nước ta. Nghị quyết nǎm 1995 của Bộ Chính trị về một số định hướng lớn trong công tác tư tưởng hiện nay, đã đánh giá sự lựa chọn con đường cách mạng Việt Nam của Nguyễn ái Quốc: "Đó là sự lựa chọn duy nhất đúng đắn đã được Hồ Chí Minh nêu lên trong Cương lĩnh vắn tắt". Cuộc cách mạng tư sản dân quyền, tiếp ngay sau đó là thổ địa cách mạng, thực chất đó là cuộc cách mạng nông dân, lực lượng cách mạng nòng cốt là liên minh công nông, do Đảng vô sản-Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo. Thổ địa cách mạng, khẩu hiệu đồng thời là mục tiêu của nó là "Thực hiện người cày có ruộng", đáp ứng nguyện vọng thiết tha của giai cấp nông dân. Vì thế ngay từ đầu và trong suốt tiến trình cách mạng "đồng bào nông dân" luôn hết sức trung thành với Đảng và Chính phủ và ra sức góp của, góp người, vui lòng chịu đựng mọi khó khǎn gian khổ.
Cách mạng Tháng Tám thành công, từ thân phận nô lệ, mất nước, nhân dân ta đã trở thành người làm chủ đất nước độc lập. Song với dã tâm xâm lược của thực dân Pháp, dân tộc ta lại bước vào cuộc trường kỳ kháng chiến. Thấy rõ vai trò to lớn của lực lượng nông dân trong cách mạng, Hồ Chí Minh luôn chǎm lo đời sống kinh tế, chính trị, vǎn hóa cho ho. Người yêu cầu và chỉ rõ trách nhiệm của Đảng và Chính phủ: "Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi, nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi, nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi". Hồ Chí Minh luôn đặt niềm tin vào sức mạnh, vị trí của nông dân trong cuộc "kháng chiến kiến quốc": "Muốn kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công ắt phải dựa vào quần chúng nông dân, muốn dựa vào nông dân ắt phải bồi dưỡng lực lượng của họ. Muốn nông dân có lực lượng dồi dào phải làm cho họ có ruộng cày, có cơm ǎn, áo mặc, nhà ở". Người chỉ rõ: "Lực lượng của chúng ta là hàng chục triệu đồng bào nông dân lao động, sẵn sàng chờ Chính phủ và Đảng lãnh đạo, để hǎng hái vươn mình dậy đánh tan ách nô lệ, ách phong kiến và thực dân. Khéo tổ chức, khéo lãnh đạo thì lực lượng ấy sẽ xoay trời chuyển đất, bao nhiêu thực dân và phong kiến cũng sẽ bị lực lượng ấy đánh tan". Xác định vị trí, vai trò quan trọng của nông dân trong cách mạng, Hồ Chí Minh chỉ ra rằng chỉ lo "cơm ǎn, áo mặc" cho họ thì chưa đủ, mà phải nâng cao dân trí cho họ, như thế họ mới được hưởng trọn vẹn độc lập, tự do. Nếu như Lênin dạy: Sự ngu dốt là chỗ dựa cho bọn đế quốc, tư bản, thì Hồ Chí Minh nói một cách đơn giản, dễ hiểu: Dân có học mới hiểu được chủ nghĩa, có hiểu chủ nghĩa thì mới hǎng hái đấu tranh cho cách mạng, có như vậy dân tộc Việt Nam mới trở nên "một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập". Người xem đói và rét đều là giặc, phải diệt giặc đói, diệt giặc dốt, bởi vì "Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu".
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ nǎm 1954, miền Bắc được giải phóng, miền Nam còn phải tiếp tục đấu tranh chống bọn đế quốc Mỹ và tay sai Ngô Đình Diệm. Cách mạng nước ta chuyển sang giai đoạn mới: Miền Nam tiếp tục cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, miền Bắc khôi phục kinh tế sau chiến tranh, tiến lên chủ nghĩa xã hội bằng kế hoạch 5 nǎm lần thứ nhất (1960- 1965), Hồ Chí Minh chỉ ra: "Đặc điểm to lớn nhất của ta trong thời kỳ quá độ là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa". Vấn đề nông nghiệp, nông dân chiếm một vị trí quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Tiến lên chủ nghĩa xã hội ở một nước nông nghiệp lạc hậu, nền sản xuất nhỏ, 90% dân số là nông dân, thực chất đây là một cuộc cách mạng nông dân, lực lượng nòng cốt là liên minh công nông, do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo. Nông dân có nhiệm vụ quan trọng là sản xuất lương thực, thực phẩm cho xã hội. Người chỉ ra tầm quan trọng của nông nghiệp đối với công nghiệp và các ngành khác, đặc biệt nhấn mạnh sản xuất nông nghiệp có tầm quan trọng đối với cách mạng miền Nam. Người xem nông nghiệp là một mặt trận. Thắng lợi trên đồng ruộng của các chiến sĩ nông dân là thắng lợi trên chiến trường miền Nam. Người chiến sĩ trên chiến trường miền Nam sẽ chắc tay súng khi biết ở hậu phương miền Bắc có nhiều cánh đồng 5 tấn, vợ con và những người thân của họ được chǎm lo chu đáo về đời sống vật chất, tinh thần. Nông nghiệp là hậu phương vững chắc cho cách mạng miền Nam, "thực túc binh cường". Muốn mặt trận nông nghiệp thắng lợi, điều đầu tiên là phải xây dựng và củng cố ban quản trị hợp tác xã "Điều quan trọng bậc nhất hiện nay để phát triển nông nghiệp là: Chỉnh đốn ban quản trị hợp tác xã thật tốt".? Cốt lõi của việc này là xây dựng, chỉnh đốn chi bộ hợp tác xã: "Cái gốc trong việc lãnh đạo hợp tác xã là vấn đề cho bộ Đảng cơ sở". Bên cạnh việc xây dựng, củng cố ban quản trị hợp tác xã, Người yêu cầu nông dân vươn lên hơn nữa, đoàn kết, hǎng hái sản xuất, thi đua lao động, cải tiến công cụ dể nǎng suất ngày càng cao, vươn lên làm chủ xã hội về kinh tế, chính trị, vǎn hóa.
Hành trang khi Bác ra đi tìm đường cứu nước là tấm lòng yêu nước thương dân, trở về giải phóng dân tộc, lo cho nhân dân ai cũng có cơm ǎn, áo mặc, ai cung được học hành. Trước khi vĩnh biệt chúng ta Bác vẫn chưa yên lòng, vì biết rằng sau ngày đất nước toàn thắng nhân dân ta, "đồng bào nông dân" đời sống còn gặp nhiều khó khǎn. Người cǎn dặn miễn thuế cho nông dân, để họ được "hỉ hả, mát dạ, mát lòng, thêm niềm phấn khởi", tiếp bước trên chặng đường cách mạng, đẩy mạnh sản xuất. Có lẽ không có ngôn từ nào diễn tả nổi tấm lòng bao la nhân ái, một tư tưởng trọn đời vì dân của Hồ Chí Minh.
Kế thừa Di sản tưtưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã đề ra Nghị quyết Đại hội VIII (6-1996) về đường lối phát triển nông nghiệp và nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hợp tác hóa, dân chủ hóa nhằm xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, xã hội công bằng, vǎn minh. Vâng theo lời dặn của Người, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa VIII, kỳ họp thứ 7 đã ra Nghị quyết: "Thực hiện miễn thuế nông nghiệp theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh".






 Việt Nam XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN NHÀ NƯỚC PHÁT TRIỂN CỦA VIỆT NAM
Nguyễn Khánh
Những tư tưởng chính của Đảng về sự phát triển của Việt Nam
Tư tưởng cơ bản về sự phát triển của Việt Nam đã được Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định là: đưa Việt Nam nhanh chóng thoát khỏi tình trạng nước nghèo, chậm phát triển, trở thành một quốc gia giàu và mạnh, xã hội Việt Nam sẽ là một xã hội ổn định, dân chủ, bình đẳng, công bằng và văn minh, toàn dân Việt Nam có cuộc sống an toàn, phong phú về vật chất và tinh thần. Đó là xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là chủ nghĩa xã hội mang đặc điểm và bản sắc dân tộc Việt Nam, mang tính nhân văn, tính dân tộc và tính thời đại.
Tư tưởng phát triển của Việt Nam là sự kế thừa và phát triển lý thuyết về phát triển xã hội của Mác - Ăng-ghen - Lê-nin - Hồ Chí Minh, là kết quả tiếp thu và vận dụng sáng tạo những tri thức, những kinh nghiệm có giá trị của thế giới về phát triển xã hội, phát triển con người.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, những tư tưởng cơ bản này sẽ biến thành những chiến lược, tư tưởng chỉ đạo và chính sách, thể hiện tinh thần khoa học, cách mạng trong thời kỳ mới, phù hợp với những đặc điểm của Việt Nam, với yêu cầu, khả năng hiện thực của Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại.
Hai điều kiện cơ bản để thực hiện thành công tư tưởng phát triển của Việt Nam là:
- Những giá trị khoa học, nhân văn và cách mạng của tư tưởng phát triển được truyền bá sâu, rộng trong xã hội và nhân dân, thuyết phục được các tầng lớp nhân dân rằng đó là con đường tốt nhất, hướng đi đúng nhất, cách làm tốt nhất trong điều kiện nước ta để Việt Nam trở thành một quốc gia dân chủ, văn minh, hùng mạnh.
Đây cũng chính là nền tảng tư tưởng, nền tảng tinh thần của sự đoàn kết toàn dân tộc, của sự đồng thuận xã hội vững chắc, của mối quan hệ thân thiết giữa dân với quân, giữa các giới đồng bào, giữa người dân với người lãnh đạo. Nền tảng tư tưởng, nền tảng tinh thần ấy sẽ là sức mạnh để nước ta, dân ta vượt mọi khó khăn đi tới thắng lợi.
Đây là điều kiện nhất thiết phải có để bảo đảm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Không làm được như vậy, không tạo ra được sự hiểu biết sâu sắc, lòng tin vững chắc trên cơ sở khoa học cho toàn dân thì việc thực hiện sẽ hết sức khó khăn.
- Điều kiện cơ bản thứ hai là phải xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính trị Việt Nam vững mạnh, tiêu biểu cho chế độ dân chủ pháp quyền Việt Nam, có đủ ý chí và năng lực tổ chức, chỉ đạo, động viên các lực lượng chính trị, xã hội trong cả nước thực hiện tư tưởng phát triển.
Một nhà nước thật sự của dân, có trình độ tổ chức hiện đại và có hiệu năng quản lý cao là điều kiện không thể thiếu để thực hiện được những tư tưởng phát triển Việt Nam.
Những yêu cầu cơ bản xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Việt Nam theo tư tưởng phát triển Việt Nam
Theo những tư tưởng chính về sự phát triển Việt Nam thì Nhà nước Việt Nam phải được xây dựng và hoàn thiện theo 3 yêu cầu: là một Nhà nước thật sự dân chủ, là một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, là một Nhà nước hiện đại ở trình độ cao. Nói một cách khác, đó là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dân chủ và hiện đại.
Một là, Nhà nước Việt Nam phải là một nhà nước dân chủ đích thực.
Nhân dân Việt Nam là chủ và làm chủ đất nước Việt Nam. Dân là chủ thể của quyền lực nhà nước. Nhà nước là của dân, do dân lập ra qua bầu cử tự do và hoạt động vì dân, thực hiện chức năng quản lý nhà nước vì dân.
Bản chất dân chủ của Nhà nước Việt Nam được thể hiện trong cuộc sống thực tế. Quyền làm chủ của dân được thực hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống. Nhà nước có nghĩa vụ thực hiện và bảo đảm các quyền tự do dân chủ của công dân. Người dân có quyền làm và có điều kiện làm những công việc mà pháp luật không cấm. Quyền làm chủ của dân còn thể hiện ngay trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước; qua nội dung thực chất của pháp luật và qua việc thi hành pháp luật. Đó là chỗ khác nhau cơ bản giữa Nhà nước Việt Nam với nhà nước ở các quốc gia theo chế độ tư bản chủ nghĩa.
Ngày nay, hầu hết các đảng chính trị, các nhà nước, những người cầm quyền ở các nước đều tự nhận là đấu tranh cho dân chủ, là tôn trọng và thực hiện rất tốt các quyền tự do dân chủ của dân, đều tuyên truyền đề cao chế độ dân chủ, chính sách dân chủ của mình. Nhưng thực tế cho thấy ở không ít nơi, không ít quốc gia, không ít nhà nước nói dân chủ thì nhiều, dân chủ trên giấy tờ, trên văn bản luật pháp thì tốt, nhưng hành động, việc làm thì thiếu dân chủ, thậm chí trái với tinh thần dân chủ.
Tính chất dân chủ của Nhà nước Việt Nam được thể hiện rất cụ thể:
Trước hết, qua hệ thống pháp luật, từ Hiến pháp đến các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước; cách thức Nhà nước xây dựng, ban hành, thi hành luật pháp; mức độ tham gia của dân vào việc xây dựng luật pháp và các quyết định quan trọng của Nhà nước;
Thứ hai, ở tinh thần dân chủ trong cách thức tổ chức, xây dựng các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp; trong cơ chế vận hành, trong mối quan hệ giữa các cơ quan ấy; trong sự phân công quyền lực và sự kiểm soát lẫn nhau giữa các quyền lực nhà nước;
Thứ ba, ở ý thức dân chủ của cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước. ý thức này thể hiện qua mối quan hệ giữa những cán bộ, công chức, nhất là những người có chức, có quyền với dân, qua mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước với các tổ chức, các đoàn thể của dân;
Thứ tư, ở hiệu quả, tác động thực tế của sự giám sát xã hội của dân đối với hoạt động của cơ quan nhà nước và cán bộ, công chức nhà nước.
Chính vì nhận thức đúng, quan niệm đúng đắn dân là chủ, dân làm chủ mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã kết luận rằng: Nhà nước Việt Nam là nhà nước của dân, do dân và vì dân; đảng viên Đảng Cộng sản vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ của nhân dân, cán bộ, công chức nhà nước là công bộc của nhân dân.
Đảng lãnh đạo toàn dân, toàn xã hội nhưng Đảng không phải là chủ. Đảng Cộng sản Việt Nam được người làm chủ là nhân dân tín nhiệm, tôn vinh, giao trách nhiệm lãnh đạo đất nước, lãnh đạo Nhà nước để thực hiện quyền làm chủ của dân, xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ đích thực trên đất nước Việt Nam. Sứ mệnh này đòi hỏi Đảng Cộng sản cầm quyền tập trung lãnh đạo công tác tư tưởng đối với toàn thể cán bộ, công chức của Nhà nước ở cả ba hệ thống lập pháp, hành pháp và tư pháp, làm thật tốt công tác tuyên truyền, giáo dục cán bộ, đảng viên về tư tưởng dân chủ và đạo đức trọng dân, phục vụ dân.
Dân chủ được thực hiện trên tất cả các lĩnh vực thông qua hoạt động của nhà nước do dân cử ra và bằng các hình thức dân chủ trực tiếp và gián tiếp. Trong các hoạt động dân chủ trực tiếp của người dân thì quan trọng nhất và tiêu biểu nhất là các cuộc bầu cử dân chủ tự do trong phạm vi toàn quốc. Một nhà nước dân chủ đích thực theo tư tưởng phát triển của Việt Nam phải tổ chức được các cuộc tổng tuyển cử toàn quốc và các cuộc bầu cử ở địa phương đúng với ý nghĩa bầu cử tự do trong một chế độ tự do, dân chủ. Nhớ lại cuộc Tổng tuyển cử tháng 1-1946 ở nước ta, trong lúc “nước sôi lửa bỏng”, thù trong, giặc ngoài, nạn đói và thiên tai đang hoành hành nhưng cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam độc lập và tự do vẫn diễn ra với sự náo nức chưa từng có của mỗi người dân, đúng là ngày hội của toàn dân. Cuộc Tổng tuyển cử ấy đã trở thành một sự kiện tiêu biểu cho tư tưởng tự do, dân chủ và đoàn kết dân tộc.
Với những tư tưởng tốt đẹp của Đảng về sự phát triển xã hội Việt Nam, tới đây, ngay trong những năm đầu của thập niên thứ 2 của thế kỷ XXI, Đảng lãnh đạo và Nhà nước quản lý sẽ phải bằng mọi cách thực hiện quyền dân chủ, tạo ra và phát huy không khí dân chủ, tự do cho các hoạt động dân chủ trực tiếp ở nước ta.
Hai là, Nhà nước Việt Nam phải là một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Nhà nước pháp quyền là một phương thức tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước trong một xã hội dân chủ và văn minh. Tư tưởng về nhà nước pháp quyền đi liền với quan niệm về xây dựng và phát triển dân chủ. Để xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phải rất coi trọng việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống luật pháp. Đảng lãnh đạo xây dựng nhà nước pháp quyền thì phải đặt nhiệm vụ xây dựng luật pháp và thi hành luật pháp lên hàng đầu, bảo đảm cho luật pháp thể hiện đúng ý chí, nguyện vọng và quyền lực của nhân dân, thực sự bảo vệ được các quyền dân chủ của công dân và con người Việt Nam. Một nhà nước mạnh là một nhà nước quản lý đất nước, quản lý xã hội bằng pháp luật theo mục tiêu chính trị đã xác định, làm cho pháp luật có hiệu lực cao trong thực tế.
Những nội dung cơ bản của một nhà nước pháp quyền là:
- Luật pháp chiếm vị trí tối thượng trong hoạt động của nhà nước và trong đời sống xã hội. Luật pháp được xây dựng và quyết định một cách dân chủ đúng với ý nghĩa nhà nước của dân, do dân, thể hiện được ý chí, trí tuệ và quyền lực của dân.
- Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và theo pháp luật. Người dân sống và làm việc theo pháp luật. Nhà nước phải tổ chức và hoạt động sao cho quyền lực nhà nước được sử dụng theo đúng Hiến pháp và pháp luật, sao cho mọi quyền lực đều có sự giám sát, kiểm soát của nhân dân và có sự kiểm tra, kiểm soát ngay trong nội bộ bộ máy nhà nước.
- Nhà nước pháp quyền là nhà nước đặt dưới pháp luật, nhà nước phục tùng pháp luật và hành động theo pháp luật.
Tư tưởng về nhà nước pháp quyền có giá trị phổ biến trong thế giới hiện đại nhưng thể hiện không đồng nhất ở các nước. Các biểu hiện cụ thể phụ thuộc vào điều kiện lịch sử của mỗi nước. Hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đang lãnh đạo xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Nhà nước này về cơ bản có những điểm giống như các nhà nước pháp quyền khác nhưng có 2 đặc điểm riêng rõ rệt là:
Quyền lực nhà nước là thống nhất. Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam không theo thể chế “tam quyền phân lập”. Quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp là ba nhánh quyền lực trong chỉnh thể quyền lực nhà nước thống nhất, có tính độc lập tương đối, có sự phối hợp và tác động lẫn nhau, không có nhánh quyền lực nào thâu tóm toàn bộ quyền lực nhà nước vào tay mình.
Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, có quyền lập hiến, lập pháp, nhưng không phải là toàn quyền. Có những quyết định đặc biệt quan trọng phải do nhân dân trực tiếp xem xét và quyết định qua trưng cầu dân ý được quy định cụ thể trong Hiến pháp.
Đảng Cộng sản Việt Nam bằng tư tưởng cách mạng, đường lối chính trị, phương pháp lãnh đạo dân chủ và khoa học, với nhận thức và ý thức “dân là gốc” hoàn toàn có đủ bản lĩnh, trí tuệ và nghị lực lãnh đạo xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Ba là, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải là một nhà nước hiện đại.
Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nhà nước Việt Nam cũng phải gấp rút vươn lên trình độ hiện đại để tiến kịp thời đại. Xét về trình độ khoa học và hiện đại, sau hơn hai mươi năm đổi mới, mặc dầu đã có những thành tựu và tiến bộ về nhiều mặt, không thể không thừa nhận rằng bộ máy nhà nước ta vẫn còn nhiều yếu kém, đang tụt hậu khá xa so với các nước trong khu vực và các nước phát triển trên thế giới, nhất là về năng lực tổ chức, phương pháp vận hành, kỹ năng chuyên môn và hiệu quả quản lý thực tế của cả bộ máy, con người trong bộ máy. Do vậy, Đảng Cộng sản cầm quyền phải lãnh đạo gắt gao việc hiện đại hóa bộ máy nhà nước. Bản thân các tổ chức và con người trong bộ máy nhà nước phải phấn đấu tự đổi mới mình, tự hiện đại hóa mình trước những tác động mạnh và sâu sắc của công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Nhà nước ta phải nghiên cứu, tổng kết từ thực tiễn 64 năm hoạt động của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam để rút ra những bài học có giá trị cao về tổ chức và hoạt động quản lý, coi trọng hơn nữa việc tìm hiểu, tiếp thu những tri thức, những giá trị phổ biến trên thế giới về khoa học tổ chức, khoa học quản lý, khoa học và công nghệ hành chính để tăng tính hiệu quả trong quản lý của Nhà nước.
Mức độ hiện đại của bộ máy nhà nước được thể hiện trước hết ở trình độ nhận thức, kiến thức, kỹ năng thực hành và tính chuyên nghiệp cao của đội ngũ cán bộ, công chức. Trình độ hiện đại của cán bộ, công chức được đánh giá bằng hiệu quả, hiệu suất, năng lực sáng tạo. Một đội ngũ cán bộ quản lý hành chính giỏi và chuyên gia hành chính giỏi là cơ sở và điều kiện chủ yếu của một nền công vụ chất lượng cao. Chất lượng cao của nền công vụ được xem là tiêu chí số một của một nền hành chính hiện đại, của một nhà nước hiện đại.
Từ 10 năm nay, các diễn đàn toàn cầu về cải cách chính phủ (hoặc tái tạo chính phủ) do Liên hợp quốc tổ chức hằng năm đều khuyến nghị các nhà nước rằng: một quốc gia muốn đứng vững được và thịnh vượng trong cuộc cạnh tranh kinh tế toàn cầu hiện nay, phải cải cách chính phủ, tái tạo chính phủ, phải xây dựng một chính phủ có chất lượng cao, một chính phủ chuyên nghiệp, một chính phủ điện tử, một chính phủ tiết kiệm và có hiệu năng cao. Trong đó, nhấn mạnh đến xây dựng, hoàn thiện nền công vụ chất lượng cao với những nhà quản lý và công chức có trình độ chuyên môn cao về hành chính, quản trị và làm việc chuyên nghiệp.
Bộ máy quản lý hành chính nhà nước ở trình độ hiện đại phải được tổ chức và vận hành một cách khoa học, tinh gọn, các bộ phận hoạt động ăn khớp như các chi tiết một cỗ máy, một dây chuyền sản xuất, trách nhiệm, thẩm quyền của từng đơn vị, từng cá nhân rõ ràng, minh bạch, không chồng chéo, trùng lặp về chức năng, trách nhiệm.
Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam dân chủ và hiện đại là một sự nghiệp lớn. Những công việc về đổi mới điều chỉnh tổ chức, nhân sự, phương thức quản lý nhà nước sẽ tác động đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Vì vậy, cần tiến hành một cách thận trọng và vững chắc, phải điều tra nghiên cứu kỹ trước khi triển khai, phải chỉ đạo chặt chẽ trong từng khâu thực hiện và phải kiểm điểm, rút kinh nghiệm sau từng giai đoạn. Thận trọng và vững chắc, nhưng không được do dự và chậm trễ, không được để cho những yếu kém, trì trệ kéo dài, nhất là về tổ chức và vận hành bộ máy nhà nước gây ảnh hưởng xấu đến tiến trình phát triển nhanh và bền vững của đất nước, đến việc thực hiện các mục tiêu chính trị chung của Đảng và nhân dân./.







Read more…